Mở đầu: 02 trang. - Tổng quan tài liệu: 38 trang (trang 3 đến 41). - Địa điểm, đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu: 16 trang (t trang (t trang 46 đến 60). - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 58 trang (trang 61 đến 117).
- Kết luận và Kiến nghị: 02 trang (t trang 118 đến 120) 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lƣợc sử ng iên cứu về đa dạng nguồn tài nguyên cây t uốc 1. Trên thế giới T thời cổ đại con ngƣời đã biết sử dụng cây cỏ làm để sinh tồn và chống chọi lại với thiên nhiên nhƣ: để làm cầm máu vết đứt tay trong khi dùng rìu đá, tẩm độc vào đầu mũi tên, làm mồi săn bắn [3,4]….
Cùng với sự phát triển của xã hội, con ngƣời đã đúc rút kinh nghiệm trong thu hái, chế biến, sử dụng cây cỏ làm thuốc đƣợc hoàn thiện kĩ lƣỡng hơn. Hiện nay cùng với sự phát triển của y học hiện đại thì y học cổ truyền đƣợc quan tâm và phát triển mạnh trong những năm gần đây vì ƣu điểm khi sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dƣợc an toàn hơn. Theo thống kê ƣớc tính trên thế giới có khoảng 70.000 loài cây thuốc trong số 350.000 loài thực vật đã biết [5]. Trong đó, Hàn Quốc có 800 loài cây thuốc [6], ở Inđônêxia có khoảng 9.600 [7] loài cây thuốc, Ấn độ, có 8.000 loài [8], ở Trung Quốc, ƣớc tính có khoảng 10.
Xác định thấy giá trị và lợi ích mà tài nguyên cây thuốc đem đến cho con ngƣời nên t rất lâu nhiều tác giả đã ghi chép lại các loại cây thuốc cùng với công dụng của chúng để lƣu giữ và ứng dụng. Phụ thuộc vào sự phát triển của chữ viết cũng nhƣ phát triển kinh tế - xã hội của t ng vùng miền mà cách thức và số lƣợng cây thuốc đƣợc tƣ liệu hóa khác nhau. Ở châu Á, Ấn Độ đƣợc xem nhƣ là một trong số ít cái nôi của y học cổ truyền có rất nhiều tài liệu về cây thuốc đã đƣợc ghi chép lại. Trong số đó, cuốn “Rig-Veda” đƣợc viết vào khoảng 4.500 TCN, đây đƣợc xem là cuốn sách cổ nhất về sử dụng cây thuốc trong lịch sử loài ngƣời nói chung và của Ấn Độ nói riêng.
Tài liệu này cung cấp nhiều thông tin về sử dụng cây thuốc ở vùng châu thổ sông Ấn. Nhiều hệ thống y học cổ truyền đã phát triển ở Ấn độ, điển hình là hệ thống Ayurvedic vào khoảng 4.400 TCN, sau đó là các hệ thống nhƣ Unani, Siddha và Tibetan đã đƣợc sử dụng để trị bệnh và chăm sóc sức khỏe hằng ngày cho hàng chục triệu ngƣời trên thế giới. Dựa trên hệ thống y học cổ truyền Ayurveda, Sushruta đã viết “Sushruta Amhita” ở thế kỷ thứ 6 TCN, trong đó đã mô tả 700 cây thuốc. Nhiều cây thuốc đã đƣợc sử dụng làm thuốc hay vị thuốc trong y học hiện đại.500 TCN, Trung Quốc có cuốn dƣợc điển: “Pen T’Sao” do Shen Nung biên soạn đã đề cập đến 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh [10].
5 Ban đầu, ngƣời Ai cập cổ đại đã lƣu lại các công thức chữa bệnh bằng chữ tƣợng hình trên các bức vách, tƣờng ở các ngôi đền hay trên giấy cói. Sau này, vào khoảng 1.550 trƣớc công nguyên (TCN), ngƣời Ai cập đã cho ra cuốn “Ebers papyrus in Egypt”, đã ghi lại 700 cây thuốc, trong đó nhiều cây thuốc hiện nay vẫn đƣợc sử dụng nhƣ Lựu, Lô hội, Tỏi, Hành, Rau mùi,… [10]. Còn ở Hy lạp (800 TCN), cây thuốc đã đƣợc nhắc đến trong sử thi Iliad và Odysseys của Homer, trong tài liệu này đã giới thiệu 63 cây thuốc có nguồn gốc t Minoan và Mycenae. Hai tác giả nghiên cứu về cây thuốc đƣợc chú ý nhiều nhất là Hippocrates (460 TCN) và Theophrastus (370 TCN) [11].
Họ đã có các tác phẩm nổi tiếng nhƣ cuốn “Materia Medica” của Hippocrates, thống kê khoảng 400 cây thuốc và cuốn “De Causis Planetarium” với cuốn “De Historia Planetarium” của Theophrastus giới thiệu về cách thu thập, chuẩn bị và công dụng của khoảng 500 cây thuốc. Ở La Mã (25 TCN-50 SCN), có cuốn “De remadica” của Celsus, đã ghi lại 250 cây thuốc, trong đó có cây lô hội, cây kỳ nham, thuốc phiện, tiêu, quế và nhục đậu khấu,…Đây là một trong những tài liệu quan trọng nhất liên quan đến các kiến thức y học của ngƣời La mã thời bấy giờ. Vào năm 77 sau công nguyên (SCN), bộ sách của Dioscorides là “De Materia Medica” đƣợc xuất bản và đã đề cập đến hơn 600 loại cây thuốc; ông đã mô tả nơi sống, cách thu hái, cách chế biến và công dụng của t ng loại thực vật và nhiều cây thuốc đƣợc dùng trong việc sản xuất tân dƣợc hiện nay. Pliny Elder (23-79 SCN) đã viết cuốn “Historia Naturalis” gồm có khoảng 1.
Vào khoảng 131 SCN- 200 SCN, Galen (Hy lạp) đã viết “De susccedanus”, ông là ngƣời đầu tiên đã đƣa ra danh sách các loại thuốc có hoạt tính giống hoặc tƣơng tự nhau mà có thể thay thế cho nhau [7,11]. Các giả thuyết của Galen đã chi phối và ảnh hƣởng đến y học phƣơng tây ngày nay. Chính vì vai trò quan trọng đối với đời sống con ngƣời nên hiện nay tài nguyên cây thuốc đƣợc điều tra, nghiên cứu ở hầu hết các quốc gia. Kết quả thảo luận trong các công trình đã đƣợc công bố [12,13,14,15,16,17].
Các công trình nghiên cứu này đã đƣợc sử dụng rộng rãi và đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nhân loại (dựa vào kiến thức bản địa mà nhiều loại thuốc đã đƣợc chế thành phẩm. Ở Việt Nam Việt Nam trải dài theo huớng Bắc Nam, t xã Lũng Cú- huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang đến xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, với hơn 1600 km 6 trên đất liền, diện tích phần đất liền là 327. Hiện nay theo thống kê cả nuớc có 33 vuờn Quốc gia với trữ luợng các loài cây thuốc phong phú và 61 khu bảo tồn thiên nhiên, ngoài ra còn nhiều đảo và quần đảo lớn, nhu: Cát Bà, Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc, Thổ Chu [18]. Tất cả những nhân tố về địa hình và khí hậu kể trên đã làm cho Việt Nam có nguồn tài nguyên động - thực vật phong phú và đa dạng.
Theo uớc tính của các nhà khoa học: thực vật bậc cao có mạch có tới 12. Bên cạnh đó còn 800 loài Rêu, 600 loài Nấm và hơn 2. Trong đó, có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng đuợc sử dụng làm thuốc. Việt Nam có nền Y học dân tộc giàu truyền thống, phong phú về các cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc.
Với 4000 năm dựng nuớc và giữ nuớc, nguời Việt đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích luỹ đƣợc kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc. Cùng với sự phát triển của lịch sử, tri thức và kinh nghiệm dân gian về sử dụng thuốc ở Việt Nam ngày càng trở nên phong phú, hiệu nghiệm, gắn liền với tên tuổi của nhiều vị danh y nổi tiếng nhƣ Tuệ Tĩnh, Hải Thƣợng Lãn Ông. Thế kỷ 14, Tuệ Tĩnh đã viết nhiều cuốn sách y học và phƣơng pháp chữa bệnh với quan điểm “Nam dƣợc trị Nam nhân”. Nhƣng rất tiếc, nhiều công trình quý giá của ông đã bị mai một, hiện chỉ còn sót lại bộ “Nam dƣợc thần hiệu” đề cập đến 496 vị thuốc nam và bộ “Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” gồm 600 vị thuốc Nam và cách sử dụng [ 22].
Bộ sách đã đề cập đến các phƣơng thuốc điều trị đơn giản, dễ kiếm với các vị thuốc sẵn có ở nƣớc ta. Thời kỳ này còn có Phan Phu Tiên - tác giả “Bản thảo thực vật toát yếu” - cuốn sách đƣợc xuất bản vào năm 1. Sau đó lần lƣợt xuất hiện thêm nhiều lƣơng y khác nữa nhƣ Nguyễn Trực - tác giả “Bảo anh lƣơng phƣơng” chuyên về nhi khoa (1455); Ngự y Vũ Toàn Trai và Hoàng Đôn Hòa (thế kỷ XVI); Quốc sƣ Nguyễn Đạo An, Lê Đức Vọng và Lý Công Tuân ở thế kỷ XVII. Ở thế kỷ 18, có Nguyễn Quỳnh, Trình Đình Ngoạn, Nguyễn Hữu Đạo và nổi trội hơn cả là Lê Hữu Trác (Hải Thƣợng Lãn Ông).
Kế th a "Nam dƣợc thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, Hải Thƣợng Lãn Ông đã bổ sung thêm 329 vị thuốc nam nữa làm thành bộ sách "Lĩnh nam bản thảo". Ông còn soạn ra bộ sách “Hải Thƣợng Y Tông Tâm Lĩnh”, gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, đƣợc đánh 7 giá là công trình y học lớn nhất trong thời trung đại Việt Nam. Đây là bộ sách Đông y lớn nhất và quý nhất nƣớc ta và đƣợc coi là Bách khoa toàn thƣ của y học cổ truyền Việt Nam. Với sự nghiệp y học vĩ đại, Tuệ Tĩnh và Hải Thƣợng Lãn Ông đã đƣợc ngƣời đời nay tôn vinh là những "ông tổ" của nền y dƣợc học Việt Nam.
Sau Hải Thƣợng Lãn Ông, thế kỷ 19, dƣới triều vua Quang Trung và triều Nguyễn cũng đã xuất hiện nhiều công trình về cây thuốc Việt Nam, trong đó, hiện còn lƣu lại đƣợc những cuốn nhƣ "Nam dƣợc" và "Nam dƣợc chỉ danh truyền" của Nguyễn Quang Tuân đã ghi chép tỉ mỉ về 500 vị thuốc nam theo kinh nghiệm dân gian, hoặc cuốn "Nam dƣợc tập nghiệm quốc âm" của Nguyễn Quang Lƣợng, hay "Nam thiên đức bảo toàn thƣ" của Lƣu Ðức Huệ, v. Thời kì Pháp thuộc (1884-1945), số nhà thực vật học, dƣợc học ngƣời Pháp nghiên cứu với mục đích khai thác tài nguyên đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu cây thuốc ở nƣớc ta. Trong thời kì này, có một số công trình nhƣ: “Trung Việt dược tính hợp biên” của Đinh Nho Chân và Phạm Văn Thái gồm 16 cuốn mô tả 1600 vị thuốc nam bắc, giới thiệu công dụng và cách chế biến của hơn 1655 vị thuốc nam và bắc; “ Việt Nam dược học” gồm 5 cuốn bằng tiếng Việt của Phó Đức Thành. “Nam bang thảo mộc”[22] nêu tên và mô tả công dụng của 100 loài cây thuốc của tác giả Trần Nguyên Phƣơng.
Công trình đầu tiên nghiên cứu và công bố các loài thực vật làm thuốc ở Việt Nam kèm theo tên khoa học là công trình của các tác giả Crevost, Lemarie & Petelot (1917-1935) trong “Catalogues des produits de l’Indochine”, gồm 5 tập đã đề cập đến nhiều loài cây thuốc ở Đông Dƣơng; Crevost & A. Petelot (1953), trong “Les Plants medicinales du Cambodge du Laos et Vietnam” đã giới thiệu 1482 cây thuốc ở các nƣớc Đông Dƣơng, trong đó 1.281 loài có Việt Nam [24,25]. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sƣu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc.