ĐẶT VẤN ĐỀ Chính sách mở cửa và nền kinh tế thị trường, các ngành công nghiệp ngày càng phát triển mạnh. Nước ta chuẩn bị gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã tạo điều kiện cho nước ta thâm nhập vào các nước trong khu vực và thế giới. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải phấn đấu nhiều để tương đồng với các nước về kỹ thuật, về trình độ dân trí, về chỉ tiêu chất lượng, pháp luật và chính sách về quản lý chất lượng, ATVS thực phẩm bên cạnh pháp luật, chính sách BVMT, chính sách về quản lý công tác BHLĐ. Để bảo vệ sức khỏe cho nhân dân và theo kịp lộ trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, nước ta đang phát triển nhanh hàng rào kỹ thuật và luật pháp nằm ngoài quy luật đó.
Do đó, nhu cầu trao đổi và vận chuyển xuất nhập thiết bị, máy móc, hàng hóa, sản phẩm ngày càng lớn. Để thực hiện được nhu cầu đó thì cần đến các phương tiện vận chuyển hiện đại, trong đó phương tiện vận chuyển đường thủy giữ vai trò quan trọng. Vận tải thủy có một vai trò khá đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân. Đường thủy lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận các con tàu.
Biển cả, sông nước mênh mông cho phép vài chục con tàu cùng thả sức chạy hết tốc độ trên những hành trình định sẵn. Vận tải thủy chẳng hề từ chối bất cứ một chuyến hàng nào, từ những chuyến hàng mảnh mai dễ vỡ, đến các chất lỏng, đến những chuyến hàng cồng kềnh, …Vận tải thủy không những thuận tiện mà còn rẻ tiền nhất so với vận tải đường bộ, hàng không, đường sắt. Trong tương lai vận tải thủy sẽ phát triển một cách nhanh chóng. Khi giao thông đường thủy trở thành một trong những ngành vận chuyển quan trọng phục vụ đời sống, sản xuất và lưu thông thì công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu cũng ngày càng phát triển và được chú trọng.
Đây cũng là ngành ẩn chứa nguy cơ gây tai nạn và bệnh tật đe dọa tính mạng và sức khoẻ người lao động. Trong công việc sửa chữa và đóng mớí tàu thường xảy ra tai nạn như: Té ngã, điện giật, cháy nổ, va đập,…Ngoài ra yếu tố vi khí hậu, MTLĐ xấu cũng ảnh hưởng đến NLĐ. Nguy hiểm hóa hoc như cháy nổ, các chất oxi hóa, các chất ăn mòn, các chất gây ngộ độc. Khi tiến hành hàn trong hầm kín và các sản phẩm phân hủy từ nó do nung nóng kim loại và các hơi sinh ra có chứa Ozon, NOx, SO2, các chất bay hơi từ điện cực hàn.
Trong quá trình sơn thì có sự bay hơi của dung môi sơn, các chất pha loãng sơn, bột màu, nhựa Epoxy là những hơi, bụi rất độc. Các dung môi như xylen, xeton, benzen rất độc và có nguy cơ cháy nổ cao. 10 - Bụi của các vật liệu cách ly có nguồn gốc Amiăng cũng như bụi gia công bằng các tia va đập (trong công đoạn phun cát, gõ rỉ sinh ra bụi silic, bụi sắt), các hóa chất trong sơn chống hà (bột trắng của chì, nhôm, thủy ngân…) chính những thành phần này ảnh hưởng đến sức khỏe và nguy cơ tăng cao khi tiến hành thi công trong hầm kín. - Nguy hiểm cơ học như: Các bộ phận cơ cấu truyền động (đai truyền, bánh răng,…); Các bộ phận chuyển động tịnh tiến (máy búa, đầu bào,…); Các mảnh dụng cụ vật liệu gia công văng bắn ra (phoi văng, đá mài,.); Vật rơi, trơn trượt; Các bộ phận quay chuyển động với vận tốc lớn (đá mài, máy tiện, máy khoan,…).
- Nguy hiểm vật lý như khi hàn cắt kim loại trong hầm tàu nhiệt độ tăng cao dễ dẫn đến cháy. Khả năng thiếu oxi. Cho đến ngày 13/2/2006, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhận được báo cáo tai nạn lao động năm 2005 của 60/64 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Theo số liệu thống kê của 60 tỉnh, thành phố, tình hình tai nạn lao động trong năm 2005 như: Tổng số vụ 4.050, trong đó có 443 vụ tai nạn lao động chết người, 59 vụ có 2 người bị nạn trở lên; Tổng số người bị nạn: 4.164, trong đó có 473 người chết, 1.026 người bị thương nặng.
Riêng Thành phố Hồ Chí Minh: 543 vụ (chiếm 13,41% so với tổng số vụ toàn quốc) làm 572 người bị nạn (chiếm 13,74% so với tổng số nạn nhân toàn quốc), trong đó có 64 vụ làm 66 người chết, 10 người bị thương nặng. Những lĩnh vực sản xuất xảy ra nhiều TNLĐ chết người: Lĩnh vực xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp và công trình giao thông, chiếm tỷ lệ cao nhất: 37,55% tổng số vụ và 36,26% tổng số người chết; Lĩnh vực khai thác than chiếm 10,28% tổng số vụ và 14,29% tổng số người chết; Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 9,09% tổng số vụ và 8,42 tổng số người chết; Lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 8,30% tổng số vụ và 8,06% tổng số người chết. Các loại TNLĐ gây chết người nhiều nhất: Điện giật có 46 vụ làm chế 46 người; Rơi ngã có 54 vụ làm chết 57 ngươì; Vật đổ, đè có 21 vụ làm chết 24 người;Vật văng bắn có 10 vụ làm 10 người chết. Các nguyên nhân gây TNLĐ chết người nhiều nhất: Người bị nạn vi phạm quy trình quy phạm ATLĐ: 69 vụ làm 72 người chết; Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp ATLĐ có 52 vụ làm 58 người chết; Thiết bị không đảm bảo ATLĐ có 34 vụ làm 36 người chết; Chưa huấn luyện ATLĐ có 24 vụ làm 24 người chết.
Xí Nghiệp Liên Hợp Ba Son trực thuộc Bộ Quốc Phòng là một trong những đơn vị chủ lực của ngành đóng mới và sửa chữa tàu cho Hải quân Việt Nam. Ngoài nhiệm vụ chính trị là đảm bảo tính năng các trang bị trên tàu cho hoạt động của đội tàu bảo vệ vùng biển và nội phận quốc tế Xí nghiệp Liên Hợp Ba Son còn tận dụng năng lực, trang thiết bị tham gia làm kinh tế trên các lĩnh vực. 11 - Đóng tàu vận tải có tải trọng > 6. - Đóng các loại tàu dịch vụ.
- Gia công, chế tạo các kết cấu thép, giàn khoan, gia công cơ khí chính xác. - Chế tạo sửa chữa các loại nồi hơi, bình áp lực và hệ thống khí nén, đường ống áp lực cao trong dân dụng. Do vậy, đặc điểm sản xuất của từng phân xưởng, từng vị trí trên tàu , trên sông luôn xuất hiện và tìm ẩn những nguy cơ xảy ra TNLĐ và BNN cao mà Xí nghiệp luôn coi trọng con người và tài sản. Trong đó, công đoạn chống ăn mòn vỏ tàu là công việc có chứa nhiều yếu tố nguy hiểm, độc hại trong quá trình phun cát, gõ rỉ và sơn vỏ tàu.
Trong quá trình sơn thì có sự bay hơi của dung môi sơn và các chất pha loãng sơn, các độc tố trong sơn chống hà, bụi trong công đoạn phun cát, gõ rỉ. Chính qui trình công nghệ này chứa đựng những chất độc ảnh hưởng đến sức khỏe, tai nạn và nguy cơ cháy nổ cao trong lao động. Cho nên công tác BHLĐ phải được nhận thức và giải quyết đúng đắn ngay từ đầu. TÌNH HÌNH VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP TÀU THỦY NƯỚC NGOÀI Ngành công nghiệp tàu thủy trên thế giới đã phát triển mạnh, với quy mô và quy trình công nghệ hiện đại.
Ngay từ công đoạn chuẩn bị vật tư cũng được cơ giới hóa như các thiết bị nâng hạ, điều đó làm giảm bớt cường độ lao động góp phần tăng năng suất lao động. Ngoài ra, người lao động cũng làm việc theo một quy trình nghiêm ngặt về ATLĐ. Nhiều nước đã trang bị máy móc , thiết bị, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân đạt đến mức an toàn cao về kỹ thuật như: Máy hàn, máy cắt, máy bào, máy tiện, máy khoan, máy lắp ráp, nâng hạ,…có đầy đủ các hệ thống báo động, phòng ngừa khi thao tác sai hoặc xâm phạm vào vùng nguy hiểm. Đi đầu trong công nghệ tàu thủy có thể đến một số nước trên thế giới như: Anh, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Ba Lan, Hàn Quốc,…Tuy nhiên, với quy trình công nghệ hiện đại, các thiết bị đều đạt chuẩn an toàn cao.
Về thực chất ngành công nghiệp đóng tàu là một ngành cơ khí chuyên dụng, có tính chất nặng nhọc và độc hại cao. Cho đến nay vẫn chưa loại trừ hết khả năng xảy ra tai nạn và những điều kiện làm việc ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Theo tài liệu nước ngoài (Safety and heath in ship and ship prepairing Geneve – ILO 1980) thì tai nạn và rủi ro vẫn xảy ra, nguyên nhân tai nạn xảy ra do ngã cao chiếm tỷ lệ cao nhất.Theo số liệu của Anh thống kê như bảng 1 Bảng 1: Thống kê tỷ lệ các loại TNLĐ của nước ngoài. STT Tai nạn lao động Tỷ lệ (%) 1 Tai nạn do ngã cao 23,4 2 Ngã từ giá đỡ các hầm tàu 6,4 3 Dụng cụ cầm tay 3 12 4 Thao tác bằng tay 13 5 Nơi làm việc chật hẹp 3,7 6 Vật bắn rơi trúng tay chân 19,2 7 Tai nạn khác 0,15 Mặc dù với công nghệ cao, có quy định nghiệm ngặt về ATLĐ nhưng số liệu trên cho thấy nguy cơ xảy ra TNLĐ còn khá cao và tương đối đa dạng.
Cho nên các nước tiên tiến vẫn luôn quan tâm tăng cường nhiều biện pháp để đảm bảo an toàn cao ngay cả khi đã cơ giới hóa và tự động hóa. Trong công nghệ này những nguy hiểm độc hại kể trên sẽ gây nên một số BNN sau: Bảng 2: Nguy cơ mắc bệnh của ngành đóng tàu. Công việc Bệnh nghề nghiệp Hàn cắt kim loại, hàn hồ quang Viêm hô hấp, đục thủy tinh thể Gia công thủ công (búa, dụng Điếc cụ) Tiếp xúc thiết bị rung Bệnh trắng ngón tay, đau khớp Aluminosis, phá thần kinh trung Phun sơn ương, các chức năng gan thận Làm việc với vi khí hậu, tiếp Phát ban trên da, các bệnh tràng xúc với hóa chất lỏng Các vật liệu làm cách ly Ung thư (amiăng) Tiếp xúc các chất làm cứng Hen suyển nhựa, isosianat 1. TÌNH HÌNH VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH TÀU THỦY TRONG NƯỚC Ngành công nghiệp tàu thủy ở nước ta được hình thành và xây dựng trong những năm thập niên 60 dựa vào vị trí địa lý nước ta có hình chữ S, giáp với biển và sông nên rất thuận lợi cho ngành công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu thủy phát triển.