MỞ ĐẦU Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với diện tích rừng rất lớn. Tuy nhiên, đến 2001, độ che phủ rừng chỉ còn còn 41%. Do vậy, Chính phủ đã tăng cƣơng cƣờng trồng rừng để nâng độ che phủ lên 47%. Tập đoàn cây rừng trồng phổ biến ở Lào là: Các loại keo tai tƣợng, keo lá tràm, tếch, bạch đàn.
Bạch dàn trồng ở Lào có 2 loại: Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn.) và bạch đàn đỏ (Eucalyptus urohlylla Dehn.) chiếm 80 % diện tích rừng trồng. Theo báo cáo của Bộ Nông - Lâm nghiệp Lào (2014): Diện tích rừng trồng bạch đàn đầu tƣ của Nƣớc ngoài 54.722 ha, của các hộ gia đình 1.467 ha, do Nhà Nƣớc đầu tƣ trồng là 56. Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn) là loài cây thích hợp với điều kiện khí hậu đất đai của Lào, nên đƣợc trồng nhiều nhất. Công ty Burapha Agroforestry Co., Ltd (BAFCO) và Công ty Oji & Sojitz (Nhật Bản) đã đầu tƣ về cây rừng trồng bạch đàn gồm diện tích hơn 50 nghìn ha, với sản lƣợng hơn 420.
Gỗ Bạch đàn trắng rừng trồng đƣợc khai thác để đƣa vào chế biến làm ván ghép thanh, sản xuất đồ gỗ, nhƣng tỷ lệ lợi dụng rất thấp. Ở Lào, để sản xuất 1 m3 ván ghép thanh cần đến 6 - 6,5 m3 gỗ tròn, cao gần gấp 2 lần so với các loài gỗ khác. Nguyên nhân chủ yếu là gỗ sau khi xẻ và sau khi sấy, bị biến dạng và nứt quá nhiều cần phải loại bỏ. Hiên nay, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều giải pháp, nhƣ: chọn giống, cho cây chết đứng, biến tính bằng vi sóng, keo dán, nén ép.
hoặc chọn giải pháp sấy, tuy nhiên, chƣa giải pháp nào thực sự có hiệu quả cao. Để góp phần giảm tỷ lệ tiêu hao nguyên liệu gỗ bạch đàn khi gia công, cần thiết phải có nghiên cứu có hệ thống về cấu tạo, tính chất vật lí và công nghệ, đặc biệt là công nghệ xẻ gỗ. Tiêu hao nguyên liệu gỗ chủ yếu là do biến dạng và nứt mà nguyên nhân chủ yếu là ở khâu xẻ và khâu sấy. Nhƣng, nếu khâu xẻ không tốt, dù khâu sấy có hợp lí, gỗ xẻ sau sấy vẫn bị nứt và biến dạng.
2 Sử dụng gỗ Bạch đàn trắng trong sản xuất đồ mộc xuất khẩu tại Lào hiện nay là nhu cầu cấp thiết, vừa đem lại giá trị kinh tế để tiếp tục trồng mới, nâng cao thu nhập cho ngƣời trồng rừng, vừa hạn chế khai thác rừng tự nhiên. Tuy nhiên, theo thống kê sơ bộ về thực trạng sử dụng nguồn nguyên liệu này cho thấy, tỷ lệ lợi dụng nguyên liệu còn rất thấp so với các loại nguyên liệu khác do một số đặc điểm của gỗ Bạch đàn trắng và do trình độ công nghệ hiện có của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục một số đặc điểm bất lợi trong sản xuất đề mộc xuất khẩu của gỗ Bạch đàn trắng là một hƣớng đi vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của gỗ Bạch đàn trắng nói riêng và gỗ rừng trồng nói chung; từ đó góp phần ổn định an sinh xã hội bền vững. Đặc biệt qua đó giúp các doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh lâm sản thực hiện đúng chỉ thị số 15 của Thủ tƣớng Chính phủ nƣớc CHDCND Lào ký ngày 13 tháng 5 năm 2016 về việc nghiêm cấm khai thác gỗ rừng tự nhiền, xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ trên địa bàn toàn quốc.
Để giải quyết một phần vấn đề đó, nghiên cứu về phƣơng pháp xẻ để giảm thiểu biến dạng và nứt của gỗ xẻ là một trong những hƣớng ƣu tiên hiện nay, cho nên, đề tài "Nghiên cứu một số yếu tố của công nghệ xử lý biến dạng gỗ xẻ Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ” là một hƣớng đi đúng, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về cây Bạch đàn trắng 1. Phân bố và sử dụng cây Bạch đàn trắng Bạch đàn (Eucalyptus) là cây bản địa ở Úc (Australia).
Trên thế giới, có rất nhiều loài cây bạch đàn, hơn 800 loài và 138 chi, đƣợc trồng rộng rãi trên 90 nƣớc trên thế giới, với vùng phân bố rộng, phân bố tự nhiên tập trung chủ yếu ở Australia, Malaysia và Đông Âu [27].Vùng phân bố của bạch đàn (Eucalyptus) ở Úc Chỉ có 2 loài phân bố tự nhiên trong khu vực Malaysia (New Guinea, Oluccas, Sulawessi, quần đảo Lesser Sunda và Philippines). Một vài loài có biên độ sinh thái rộng, phân bố trong khu vực kéo dài từ miền Bắc nƣớc Úc đến miền Đông Malaysia. Những nghiên cứu gần đây đã phát hiện đƣợc khoảng trên 10 loài có phân bố ở miền Nam New Guinea. Ngƣời ta cho rằng, việc điều tra, nghiên cứu, khai thác các thảm thực vật rừng gió mùa và các savan tại khu vực rộng lớn phía Đông Nam của các vùng Đông Nam Á chắc chắn sẽ còn phát hiện thêm nhiều loài mới nữa thuộc chi Bạch đàn [9].
Vùng phân bố tự nhiên của Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn.) Bạch đàn trắng là một trong số ít loài cây gỗ có khả năng thích nghi cao với nhiều dạng khí hậu khác nhau, từ khí hậu nhiệt đới đến á nhiệt đới và ôn đới; từ bán ẩm đến nửa khô hạn. Bạch đàn trắng là loài cây chịu đƣợc nhiệt độ cao lẫn nhiệt độ thấp, nhiệt độ bình quân cao nhất của tháng nóng nhất từ 29 o C đến 35 oC (thậm chí đến 40 oC) và nhiệt độ bình quân thấp nhất từ 11 oC đến 20 oC (thậm chí xuống đến 3 oC). Bạch đàn trắng sống đƣợc nơi cực hạn lẫn nơi sẵn nƣớc, rễ ăn sâu, chịu ngập và chịu mặn ngắn ngày, Bạch đàn trắng chịu đƣợc 4 - 8 tháng khô hạn, lƣợng mƣa trung bình năm thích hợp từ 1. Trong tự nhiên, Bạch đàn trắng mọc chủ yếu dọc theo các triền sông suối và cả trên đồi dốc thoải.
Bạch đàn trắng có sức đề kháng khá tốt, sinh trƣởng phát triển nhanh, liên tục, có sức đâm chồi mạnh, có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt, không để lại vết sẹo trên thân [29; 13]. Với đặc điểm sinh học phù hợp với nhiều vùng khí hậu khác nhau trên Thế giới, Bạch đàn trắng là một trong số ít những loài cây gỗ đƣợc nhiều nƣớc chọn và nghiên cứu trồng thành rừng tập trung với diện tích lớn nhằm để 5 cung cấp gỗ nguyên liệu. Ngoài ra, do Bạch đàn trắng còn có thể sinh trƣởng và phát triển cả ở những nơi mà nhiều loài cây gỗ khác khó có thể sống đƣợc nên loài này cũng còn đƣợc nhiều nơi chọn để trồng thành đai bảo vệ, phủ xanh ở những vùng có điều kiện đất đai, khí hậu khắc liệt. Tuy nhiên, Bạch đàn trắng thích hợp trồng trên đất phù sa, không thích hợp với đất núi đá vôi, là loài điển hình mọc ven sông suối nhƣng vẫn gặp trồng ở vùng khô [29].
Tài liệu của FAO (1979) [29] đã thống kê, Bạch đàn trắng là loài cây gỗ đƣợc trồng rất rộng rãi, nhất là ở vùng khô và bán khô, trong vùng nhiệt đới, chủ yếu với giống có xuất xứ từ bắc Ôxtrâylia. Ngay đầu Thế kỷ XIX, nhận thấy những giá trị của Bạch đàn trắng trong việc cung cấp gỗ củi và nguyên liệu giấy sợi, Nêpan đã nhập giống về nghiên cứu trồng thử nghiệm và đã sau này đã phát triển khá mạnh. Italia cũng đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm từ rất sớm, ngay từ năm 1870. Tuy diện tích trồng Bạch đàn trắng của Italia không lớn nhƣng đã đƣợc duy trì ổn định từ hàng chục năm nay.
Vào năm 1867, Pakistan và sau đó Uruguay, Achentina cũng bắt đầu nghiên cứu gây trồng Bạch đàn trắng. Năm 1884, Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen tiếp cận với việc nhập nội Bạch đàn trắng để gây trồng, sau này đặc biệt Ixraen khá thành công trong việc gây trồng và phát triển Bạch đàn, trong đó có Bạch đàn trắng. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hàng loạt các nƣớc châu Phi cũng đã tiến hành nghiên cứu để trồng, sau đó đến các nƣớc Địa Trung Hải. Braxin và một số nƣớc Nam Mỹ phát triển rất mạnh việc gây trồng Bạch đàn vào những năm 70, 80 của Thế kỷ XX.
Cũng theo số liệu thống kê của FAO (1979) [29], đến năm 1974 trên Thế giới đã có khoảng 4 triệu ha rừng trồng Bạch đàn nói chung, sản xuất ra khoảng 6 triệu m3 gỗ hàng năm, chủ yếu là gỗ có kích thƣớc nhỏ. Gỗ Bạch đàn rừng trồng đặc biệt đã góp phần to lớn trong việc giải quyết vấn đề thiếu chất đốt, thiếu gỗ xây dựng ở các nƣớc đang phát triển. Đến năm 1995, tổng 6 diện tích rừng trồng Bạch đàn, trong đó có Bạch đàn trắng ở các nƣớc nhiệt đới đã lên đến gần 10 triệu ha, hàng năm sản xuất đƣợc trung bình khoảng 150 triệu m3 gỗ. Các nƣớc nhƣ Braxin, Ấn Độ, Chi Lê, Nam Phi là những nƣớc đứng đầu về diện tích rừng trồng Bạch đàn.
Cũng theo FAO (1979) [28], phần lớn rừng trồng Bạch đàn trắng đều có luân kỳ kinh doanh ngắn, khoảng 7 - 10 năm, riêng ở Tây Ban Nha kéo dài đến 14 - 15 năm. Năng suất rừng trồng Bạch đàn trắng rất khác nhau, ở vùng nhiệt đới khô thƣờng chỉ đạt 5 - 10 m3/ha.năm với luân kỳ kinh doanh 10 - 20 năm, nhƣng ở những vùng có khí hậu ẩm hơn thì năng suất cao hơn khá nhiều. Ví dụ, ở Thổ Nhĩ Kỳ, Achentina, Ixraen năng suất có thể đạt 20 - 25 m3/ha.năm, thậm chí đến 30 m3/ha. Hiện nay, rất nhiều loài đã đƣợc đƣa trồng tại nhiều khu vực ngoài vùng phân bố tự nhiên của chúng.
Nhiều dải rừng Bạch đàn đã đƣợc hình thành ở Lào; các nƣớc lục địa châu Á; các nƣớc nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Phi, khu vực Địa Trung Hải và miền Nam châu Âu; đến các khu vực Nam và Trung Mỹ. Ở Việt Nam, một số loài đã đƣợc nhập và trồng tƣơng đối rộng rãi [9], nhƣ: - Bạch đàn timo (Eucalyptus alba Reinw. Tên đồng nghĩa: Eucalyptus leucadendron Reinw. ex de Vriese, 1856).
- Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnh., 1832, tên đồng nghĩa: Eucalyptus rostrata Sch. Một vài địa phƣơng ở Việt Nam còn gọi là Bạch đàn camal, Bạch đàn Úc, Khuynh diệp đỏ. - Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook., 1848, còn có các tên đồng nghĩa: Eucalyptus melissiodora Lindley, 1848; Eucalyptus variegata E. Mueller, 1859; Eucalyptus maculata Hook.) Bailey, 1900; Corymbia citriodora (Hook.
Có nơi ở nƣớc Lào và Viêt Nam còn gọi là Bạch đàn đỏ. 7 - Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla S. Blake, 1977, còn có tên đồng nghĩa: Eucalyptus alba auct. ex Blume, Eucalyptus decaisneana auct.