Nghiên Cứu Một Số Yếu Tố Của Công Nghệ Xử Lý Biến Dạng Gỗ Bạch Đàn Trắng

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ xẻ bạch đàn trắng eucalyptus camaldulensis, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

105
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về cây Bạch đàn trắng

1.1.1. Phân bố và sử dụng cây Bạch đàn trắng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Công Nghệ Xử Lý Gỗ Bạch Đàn Trắng

Gỗ bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn) là một nguồn tài nguyên quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Lào và Việt Nam. Tuy nhiên, việc sử dụng hiệu quả gỗ bạch đàn trắng còn gặp nhiều thách thức do đặc tính dễ biến dạng và nứt. Nghiên cứu về công nghệ xử lý gỗ bạch đàn là rất cần thiết để nâng cao giá trị sử dụng của loại gỗ này. Các nghiên cứu tập trung vào các khía cạnh như chọn giống, xử lý nhiệt, hóa chất, và đặc biệt là kỹ thuật xẻ gỗ để giảm thiểu khuyết tật. Việc ứng dụng thành công các công nghệ xử lý gỗ tiên tiến sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ.

1.1. Lịch Sử Phát Triển và Phân Bố Của Gỗ Bạch Đàn Trắng

Cây bạch đàn trắng có nguồn gốc từ Úc và đã được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Lào và Việt Nam. Loài cây này thích nghi tốt với nhiều điều kiện khí hậu và đất đai khác nhau, từ vùng nhiệt đới đến á nhiệt đới. Theo tài liệu của FAO (1979), bạch đàn trắng là loài cây gỗ được trồng rất rộng rãi, nhất là ở vùng khô và bán khô, trong vùng nhiệt đới, chủ yếu với giống có xuất xứ từ bắc Ôxtrâylia. Việc mở rộng diện tích trồng rừng bạch đàn giúp cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ ổn định cho các ngành công nghiệp.

1.2. Ứng Dụng Đa Dạng Của Gỗ Bạch Đàn Trắng Trong Thực Tiễn

Gỗ bạch đàn trắng có nhiều ứng dụng khác nhau, từ sản xuất giấy, ván sợi đến đồ mộc và xây dựng. Tuy nhiên, do đặc tính dễ biến dạng và nứt, việc sử dụng gỗ bạch đàn trắng trong sản xuất đồ mộc xuất khẩu còn hạn chế. Nghiên cứu về công nghệ xử lý gỗ nhằm cải thiện chất lượng và độ bền của gỗ là rất quan trọng để mở rộng các ứng dụng của loại gỗ này. Việc tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục một số đặc điểm bất lợi trong sản xuất đề mộc xuất khẩu của gỗ bạch đàn trắng là một hƣớng đi vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn.

II. Thách Thức Trong Xử Lý Biến Dạng Gỗ Bạch Đàn Trắng Giải Pháp

Một trong những thách thức lớn nhất trong xử lý gỗ bạch đàn trắng là giảm thiểu biến dạng và nứt trong quá trình xẻ và sấy. Tỷ lệ hao hụt nguyên liệu gỗ bạch đàn thường cao hơn so với các loại gỗ khác do các khuyết tật này. Các yếu tố ảnh hưởng đến biến dạng và nứt bao gồm đặc tính sinh trưởng của cây, phương pháp xẻ, và quy trình sấy. Việc nghiên cứu và áp dụng các kỹ thuật xử lý gỗ phù hợp là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ bạch đàn trắng.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Biến Dạng và Nứt Gỗ Bạch Đàn Trắng

Biến dạng và nứt gỗ bạch đàn trắng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm ứng suất sinh trưởng, độ ẩm, và phương pháp sấy. Ứng suất sinh trưởng là lực nội tại trong cây gỗ, có thể gây ra biến dạng khi gỗ được xẻ. Độ ẩm không đồng đều trong quá trình sấy cũng có thể dẫn đến nứt gỗ. Việc kiểm soát các yếu tố này là rất quan trọng để giảm thiểu khuyết tật. Tiêu hao nguyên liệu gỗ chủ yếu là do biến dạng và nứt mà nguyên nhân chủ yếu là ở khâu xẻ và khâu sấy. Nhƣng, nếu khâu xẻ không tốt, dù khâu sấy có hợp lí, gỗ xẻ sau sấy vẫn bị nứt và biến dạng.

2.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Về Công Nghệ Xẻ Gỗ

Nghiên cứu về công nghệ xẻ gỗ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu biến dạng và nứt gỗ bạch đàn trắng. Phương pháp xẻ ảnh hưởng trực tiếp đến ứng suất trong gỗ và hình dạng của sản phẩm xẻ. Việc lựa chọn phương pháp xẻ phù hợp có thể giúp giảm thiểu ứng suất và tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn. Để góp phần giảm tỷ lệ tiêu hao nguyên liệu gỗ bạch đàn khi gia công, cần thiết phải có nghiên cứu có hệ thống về cấu tạo, tính chất vật lí và công nghệ, đặc biệt là công nghệ xẻ gỗ.

2.3. Ảnh Hưởng Của Quy Trình Sấy Đến Chất Lượng Gỗ Bạch Đàn Trắng

Quy trình sấy có ảnh hưởng lớn đến chất lượng gỗ bạch đàn trắng. Sấy không đúng cách có thể dẫn đến nứt, cong vênh và giảm độ bền của gỗ. Việc áp dụng các quy trình sấy tiên tiến, kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ và độ ẩm, có thể giúp cải thiện chất lượng gỗ và giảm thiểu khuyết tật. Hiên nay, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều giải pháp, nhƣ: chọn giống, cho cây chết đứng, biến tính bằng vi sóng, keo dán, nén ép. hoặc chọn giải pháp sấy, tuy nhiên, chƣa giải pháp nào thực sự có hiệu quả cao.

III. Phương Pháp Xẻ Gỗ Bạch Đàn Trắng Giảm Biến Dạng Nghiên Cứu

Nghiên cứu về các phương pháp xẻ gỗ khác nhau là rất quan trọng để tìm ra giải pháp giảm thiểu biến dạng và nứt gỗ bạch đàn trắng. Các phương pháp xẻ phổ biến bao gồm xẻ hộp, xẻ xuyên tâm, và xẻ tiếp tuyến. Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng, và hiệu quả của chúng phụ thuộc vào đặc tính của gỗ và mục đích sử dụng. Việc so sánh và đánh giá các phương pháp xẻ khác nhau có thể giúp xác định phương pháp tối ưu cho gỗ bạch đàn trắng.

3.1. So Sánh Các Phương Pháp Xẻ Gỗ Phổ Biến Xẻ Hộp Xẻ Xuyên Tâm

Xẻ hộp là phương pháp xẻ đơn giản và phổ biến, nhưng có thể tạo ra sản phẩm có ứng suất cao. Xẻ xuyên tâm tạo ra sản phẩm ổn định hơn, nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao hơn và có thể tạo ra nhiều phế liệu hơn. Việc lựa chọn phương pháp xẻ phù hợp phụ thuộc vào đặc tính của gỗ và yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Một số sơ đồ xẻ kết hợp của giáo sƣ Martin Wiklund.

3.2. Đề Xuất Phương Pháp Xẻ Tối Ưu Cho Gỗ Bạch Đàn Trắng

Dựa trên kết quả nghiên cứu, có thể đề xuất phương pháp xẻ tối ưu cho gỗ bạch đàn trắng nhằm giảm thiểu biến dạng và nứt. Phương pháp này có thể kết hợp các kỹ thuật xẻ khác nhau để tận dụng ưu điểm của từng phương pháp. Ví dụ, có thể sử dụng xẻ xuyên tâm cho các sản phẩm đòi hỏi độ ổn định cao và xẻ hộp cho các sản phẩm ít quan trọng hơn. Để giải quyết một phần vấn đề đó, nghiên cứu về phƣơng pháp xẻ để giảm thiểu biến dạng và nứt của gỗ xẻ là một trong những hƣớng ƣu tiên hiện nay.

3.3. Ảnh Hưởng Của Cắt Khúc Gỗ Đến Chất Lượng Sản Phẩm Xẻ

Việc cắt khúc gỗ trước khi xẻ cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Cắt khúc gỗ theo chiều dài phù hợp có thể giúp giảm ứng suất và tạo ra sản phẩm có kích thước đồng đều hơn. Việc nghiên cứu về phương pháp cắt khúc gỗ tối ưu là rất quan trọng để nâng cao hiệu quả của quá trình xẻ. Phƣơng pháp cắt khúc . Loại hình sản phẩm . Phƣơng pháp xẻ .

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Công Nghệ Xử Lý Gỗ Bạch Đàn Trắng Kết Quả

Việc áp dụng các công nghệ xử lý gỗ tiên tiến vào thực tiễn sản xuất có thể mang lại những kết quả đáng kể trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng gỗ bạch đàn trắng. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để cải thiện quy trình xẻ, sấy, và chế biến gỗ, giúp giảm thiểu hao hụt nguyên liệu và tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn. Sử dụng gỗ bạch đàn trắng trong sản xuất đồ mộc xuất khẩu tại Lào hiện nay là nhu cầu cấp thiết, vừa đem lại giá trị kinh tế để tiếp tục trồng mới, nâng cao thu nhập cho ngƣời trồng rừng, vừa hạn chế khai thác rừng tự nhiên.

4.1. Đánh Giá Chất Lượng Gỗ Xẻ Sau Khi Áp Dụng Phương Pháp Mới

Sau khi áp dụng phương pháp xẻ mới, cần đánh giá chất lượng gỗ xẻ để xác định hiệu quả của phương pháp. Các tiêu chí đánh giá bao gồm độ biến dạng, độ nứt, và độ bền của gỗ. Kết quả đánh giá sẽ cung cấp thông tin quan trọng để điều chỉnh và cải thiện phương pháp xẻ. Tiêu chí và phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng gỗ xẻ .

4.2. So Sánh Kết Quả Giữa Phương Pháp Xẻ Truyền Thống và Phương Pháp Mới

So sánh kết quả giữa phương pháp xẻ truyền thống và phương pháp mới là rất quan trọng để chứng minh hiệu quả của phương pháp mới. Các kết quả so sánh có thể được trình bày dưới dạng bảng biểu và đồ thị để dễ dàng so sánh và đánh giá. Mức độ khuyết tật gỗ xẻ sau xẻ và sau sấy của đối chứng (d=250 mm) . Mức độ khuyết tật gỗ xẻ sau xẻ và sau sấy của đối chứng (d=280 mm) . Mức độ khuyết tật gỗ xẻ sau xẻ và sau sấy của mẫu TN d =250 mm . Mức độ khuyết tật gỗ xẻ sau xẻ và sau sấy của mẫu TN, d =280 mm .

4.3. Phân Tích Chi Phí và Lợi Ích Của Công Nghệ Xử Lý Mới

Phân tích chi phí và lợi ích của công nghệ xử lý gỗ mới là rất quan trọng để đánh giá tính khả thi về mặt kinh tế. Chi phí bao gồm chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vận hành, và chi phí bảo trì. Lợi ích bao gồm tăng năng suất, giảm hao hụt nguyên liệu, và tăng giá trị sản phẩm. Chất lƣợng sản phẩm xẻ của ĐC và TN, d = 250 mm . Giá trị trung bình sản phẩm không khuyết tật, d= 280 mm .

V. Kết Luận và Hướng Phát Triển Công Nghệ Xử Lý Gỗ Bạch Đàn Trắng

Nghiên cứu về công nghệ xử lý gỗ bạch đàn trắng đã mang lại những kết quả quan trọng trong việc giảm thiểu biến dạng và nứt gỗ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và giải quyết để nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ bạch đàn trắng. Hướng phát triển trong tương lai bao gồm nghiên cứu về các phương pháp xử lý gỗ thân thiện với môi trường, phát triển các sản phẩm gỗ có giá trị gia tăng cao, và xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng cho gỗ bạch đàn trắng.

5.1. Tóm Tắt Các Kết Quả Nghiên Cứu Chính

Tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính về công nghệ xử lý gỗ bạch đàn trắng, bao gồm các phương pháp xẻ, sấy, và chế biến gỗ. Nhấn mạnh những kết quả quan trọng và những đóng góp của nghiên cứu vào lĩnh vực này. Kết luận về giả thuyết . Đề xuất phƣơng pháp xẻ gỗ Bạch đàn trắng .

5.2. Đề Xuất Các Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo về công nghệ xử lý gỗ bạch đàn trắng, bao gồm nghiên cứu về các phương pháp xử lý gỗ thân thiện với môi trường, phát triển các sản phẩm gỗ có giá trị gia tăng cao, và xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng cho gỗ bạch đàn trắng. Đặc biệt qua đó giúp các doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh lâm sản thực hiện đúng chỉ thị số 15 của Thủ tƣớng Chính phủ nƣớc CHDCND Lào ký ngày 13 tháng 5 năm 2016 về việc nghiêm cấm khai thác gỗ rừng tự nhiền, xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ trên địa bàn toàn quốc.

5.3. Tầm Quan Trọng Của Việc Áp Dụng Công Nghệ Vào Thực Tế

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ xử lý gỗ vào thực tế sản xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ bạch đàn trắng và góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp. Cần có sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, và chính phủ để thúc đẩy việc áp dụng công nghệ vào thực tế. Để giải quyết một phần vấn đề đó, nghiên cứu về phƣơng pháp xẻ để giảm thiểu biến dạng và nứt của gỗ xẻ là một trong những hƣớng ƣu tiên hiện nay, cho nên, đề tài "Nghiên cứu một số yếu tố của công nghệ xử lý biến dạng gỗ xẻ Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ” là một hƣớng đi đúng, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số yếu tố công nghệ xử lý biến dạng gỗ xẻ bạch đàn trắng eucalyptus camaldulensis dehn bằng phương pháp xẻ

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với diện tích rừng rất lớn. Tuy nhiên, đến 2001, độ che phủ rừng chỉ còn còn 41%. Do vậy, Chính phủ đã tăng cƣơng cƣờng trồng rừng để nâng độ che phủ lên 47%. Tập đoàn cây rừng trồng phổ biến ở Lào là: Các loại keo tai tƣợng, keo lá tràm, tếch, bạch đàn.

Bạch dàn trồng ở Lào có 2 loại: Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn.) và bạch đàn đỏ (Eucalyptus urohlylla Dehn.) chiếm 80 % diện tích rừng trồng. Theo báo cáo của Bộ Nông - Lâm nghiệp Lào (2014): Diện tích rừng trồng bạch đàn đầu tƣ của Nƣớc ngoài 54.722 ha, của các hộ gia đình 1.467 ha, do Nhà Nƣớc đầu tƣ trồng là 56. Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn) là loài cây thích hợp với điều kiện khí hậu đất đai của Lào, nên đƣợc trồng nhiều nhất. Công ty Burapha Agroforestry Co., Ltd (BAFCO) và Công ty Oji & Sojitz (Nhật Bản) đã đầu tƣ về cây rừng trồng bạch đàn gồm diện tích hơn 50 nghìn ha, với sản lƣợng hơn 420.

Gỗ Bạch đàn trắng rừng trồng đƣợc khai thác để đƣa vào chế biến làm ván ghép thanh, sản xuất đồ gỗ, nhƣng tỷ lệ lợi dụng rất thấp. Ở Lào, để sản xuất 1 m3 ván ghép thanh cần đến 6 - 6,5 m3 gỗ tròn, cao gần gấp 2 lần so với các loài gỗ khác. Nguyên nhân chủ yếu là gỗ sau khi xẻ và sau khi sấy, bị biến dạng và nứt quá nhiều cần phải loại bỏ. Hiên nay, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều giải pháp, nhƣ: chọn giống, cho cây chết đứng, biến tính bằng vi sóng, keo dán, nén ép.

hoặc chọn giải pháp sấy, tuy nhiên, chƣa giải pháp nào thực sự có hiệu quả cao. Để góp phần giảm tỷ lệ tiêu hao nguyên liệu gỗ bạch đàn khi gia công, cần thiết phải có nghiên cứu có hệ thống về cấu tạo, tính chất vật lí và công nghệ, đặc biệt là công nghệ xẻ gỗ. Tiêu hao nguyên liệu gỗ chủ yếu là do biến dạng và nứt mà nguyên nhân chủ yếu là ở khâu xẻ và khâu sấy. Nhƣng, nếu khâu xẻ không tốt, dù khâu sấy có hợp lí, gỗ xẻ sau sấy vẫn bị nứt và biến dạng.

2 Sử dụng gỗ Bạch đàn trắng trong sản xuất đồ mộc xuất khẩu tại Lào hiện nay là nhu cầu cấp thiết, vừa đem lại giá trị kinh tế để tiếp tục trồng mới, nâng cao thu nhập cho ngƣời trồng rừng, vừa hạn chế khai thác rừng tự nhiên. Tuy nhiên, theo thống kê sơ bộ về thực trạng sử dụng nguồn nguyên liệu này cho thấy, tỷ lệ lợi dụng nguyên liệu còn rất thấp so với các loại nguyên liệu khác do một số đặc điểm của gỗ Bạch đàn trắng và do trình độ công nghệ hiện có của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục một số đặc điểm bất lợi trong sản xuất đề mộc xuất khẩu của gỗ Bạch đàn trắng là một hƣớng đi vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn, góp phần nâng cao giá trị kinh tế của gỗ Bạch đàn trắng nói riêng và gỗ rừng trồng nói chung; từ đó góp phần ổn định an sinh xã hội bền vững. Đặc biệt qua đó giúp các doanh nghiệp khai thác, chế biến và kinh doanh lâm sản thực hiện đúng chỉ thị số 15 của Thủ tƣớng Chính phủ nƣớc CHDCND Lào ký ngày 13 tháng 5 năm 2016 về việc nghiêm cấm khai thác gỗ rừng tự nhiền, xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ trên địa bàn toàn quốc.

Để giải quyết một phần vấn đề đó, nghiên cứu về phƣơng pháp xẻ để giảm thiểu biến dạng và nứt của gỗ xẻ là một trong những hƣớng ƣu tiên hiện nay, cho nên, đề tài "Nghiên cứu một số yếu tố của công nghệ xử lý biến dạng gỗ xẻ Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn) bằng phương pháp xẻ” là một hƣớng đi đúng, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về cây Bạch đàn trắng 1. Phân bố và sử dụng cây Bạch đàn trắng Bạch đàn (Eucalyptus) là cây bản địa ở Úc (Australia).

Trên thế giới, có rất nhiều loài cây bạch đàn, hơn 800 loài và 138 chi, đƣợc trồng rộng rãi trên 90 nƣớc trên thế giới, với vùng phân bố rộng, phân bố tự nhiên tập trung chủ yếu ở Australia, Malaysia và Đông Âu [27].Vùng phân bố của bạch đàn (Eucalyptus) ở Úc Chỉ có 2 loài phân bố tự nhiên trong khu vực Malaysia (New Guinea, Oluccas, Sulawessi, quần đảo Lesser Sunda và Philippines). Một vài loài có biên độ sinh thái rộng, phân bố trong khu vực kéo dài từ miền Bắc nƣớc Úc đến miền Đông Malaysia. Những nghiên cứu gần đây đã phát hiện đƣợc khoảng trên 10 loài có phân bố ở miền Nam New Guinea. Ngƣời ta cho rằng, việc điều tra, nghiên cứu, khai thác các thảm thực vật rừng gió mùa và các savan tại khu vực rộng lớn phía Đông Nam của các vùng Đông Nam Á chắc chắn sẽ còn phát hiện thêm nhiều loài mới nữa thuộc chi Bạch đàn [9].

Vùng phân bố tự nhiên của Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehn.) Bạch đàn trắng là một trong số ít loài cây gỗ có khả năng thích nghi cao với nhiều dạng khí hậu khác nhau, từ khí hậu nhiệt đới đến á nhiệt đới và ôn đới; từ bán ẩm đến nửa khô hạn. Bạch đàn trắng là loài cây chịu đƣợc nhiệt độ cao lẫn nhiệt độ thấp, nhiệt độ bình quân cao nhất của tháng nóng nhất từ 29 o C đến 35 oC (thậm chí đến 40 oC) và nhiệt độ bình quân thấp nhất từ 11 oC đến 20 oC (thậm chí xuống đến 3 oC). Bạch đàn trắng sống đƣợc nơi cực hạn lẫn nơi sẵn nƣớc, rễ ăn sâu, chịu ngập và chịu mặn ngắn ngày, Bạch đàn trắng chịu đƣợc 4 - 8 tháng khô hạn, lƣợng mƣa trung bình năm thích hợp từ 1. Trong tự nhiên, Bạch đàn trắng mọc chủ yếu dọc theo các triền sông suối và cả trên đồi dốc thoải.

Bạch đàn trắng có sức đề kháng khá tốt, sinh trƣởng phát triển nhanh, liên tục, có sức đâm chồi mạnh, có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt, không để lại vết sẹo trên thân [29; 13]. Với đặc điểm sinh học phù hợp với nhiều vùng khí hậu khác nhau trên Thế giới, Bạch đàn trắng là một trong số ít những loài cây gỗ đƣợc nhiều nƣớc chọn và nghiên cứu trồng thành rừng tập trung với diện tích lớn nhằm để 5 cung cấp gỗ nguyên liệu. Ngoài ra, do Bạch đàn trắng còn có thể sinh trƣởng và phát triển cả ở những nơi mà nhiều loài cây gỗ khác khó có thể sống đƣợc nên loài này cũng còn đƣợc nhiều nơi chọn để trồng thành đai bảo vệ, phủ xanh ở những vùng có điều kiện đất đai, khí hậu khắc liệt. Tuy nhiên, Bạch đàn trắng thích hợp trồng trên đất phù sa, không thích hợp với đất núi đá vôi, là loài điển hình mọc ven sông suối nhƣng vẫn gặp trồng ở vùng khô [29].

Tài liệu của FAO (1979) [29] đã thống kê, Bạch đàn trắng là loài cây gỗ đƣợc trồng rất rộng rãi, nhất là ở vùng khô và bán khô, trong vùng nhiệt đới, chủ yếu với giống có xuất xứ từ bắc Ôxtrâylia. Ngay đầu Thế kỷ XIX, nhận thấy những giá trị của Bạch đàn trắng trong việc cung cấp gỗ củi và nguyên liệu giấy sợi, Nêpan đã nhập giống về nghiên cứu trồng thử nghiệm và đã sau này đã phát triển khá mạnh. Italia cũng đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm từ rất sớm, ngay từ năm 1870. Tuy diện tích trồng Bạch đàn trắng của Italia không lớn nhƣng đã đƣợc duy trì ổn định từ hàng chục năm nay.

Vào năm 1867, Pakistan và sau đó Uruguay, Achentina cũng bắt đầu nghiên cứu gây trồng Bạch đàn trắng. Năm 1884, Thổ Nhĩ Kỳ, Ixraen tiếp cận với việc nhập nội Bạch đàn trắng để gây trồng, sau này đặc biệt Ixraen khá thành công trong việc gây trồng và phát triển Bạch đàn, trong đó có Bạch đàn trắng. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hàng loạt các nƣớc châu Phi cũng đã tiến hành nghiên cứu để trồng, sau đó đến các nƣớc Địa Trung Hải. Braxin và một số nƣớc Nam Mỹ phát triển rất mạnh việc gây trồng Bạch đàn vào những năm 70, 80 của Thế kỷ XX.

Cũng theo số liệu thống kê của FAO (1979) [29], đến năm 1974 trên Thế giới đã có khoảng 4 triệu ha rừng trồng Bạch đàn nói chung, sản xuất ra khoảng 6 triệu m3 gỗ hàng năm, chủ yếu là gỗ có kích thƣớc nhỏ. Gỗ Bạch đàn rừng trồng đặc biệt đã góp phần to lớn trong việc giải quyết vấn đề thiếu chất đốt, thiếu gỗ xây dựng ở các nƣớc đang phát triển. Đến năm 1995, tổng 6 diện tích rừng trồng Bạch đàn, trong đó có Bạch đàn trắng ở các nƣớc nhiệt đới đã lên đến gần 10 triệu ha, hàng năm sản xuất đƣợc trung bình khoảng 150 triệu m3 gỗ. Các nƣớc nhƣ Braxin, Ấn Độ, Chi Lê, Nam Phi là những nƣớc đứng đầu về diện tích rừng trồng Bạch đàn.

Cũng theo FAO (1979) [28], phần lớn rừng trồng Bạch đàn trắng đều có luân kỳ kinh doanh ngắn, khoảng 7 - 10 năm, riêng ở Tây Ban Nha kéo dài đến 14 - 15 năm. Năng suất rừng trồng Bạch đàn trắng rất khác nhau, ở vùng nhiệt đới khô thƣờng chỉ đạt 5 - 10 m3/ha.năm với luân kỳ kinh doanh 10 - 20 năm, nhƣng ở những vùng có khí hậu ẩm hơn thì năng suất cao hơn khá nhiều. Ví dụ, ở Thổ Nhĩ Kỳ, Achentina, Ixraen năng suất có thể đạt 20 - 25 m3/ha.năm, thậm chí đến 30 m3/ha. Hiện nay, rất nhiều loài đã đƣợc đƣa trồng tại nhiều khu vực ngoài vùng phân bố tự nhiên của chúng.

Nhiều dải rừng Bạch đàn đã đƣợc hình thành ở Lào; các nƣớc lục địa châu Á; các nƣớc nhiệt đới, cận nhiệt đới châu Phi, khu vực Địa Trung Hải và miền Nam châu Âu; đến các khu vực Nam và Trung Mỹ. Ở Việt Nam, một số loài đã đƣợc nhập và trồng tƣơng đối rộng rãi [9], nhƣ: - Bạch đàn timo (Eucalyptus alba Reinw. Tên đồng nghĩa: Eucalyptus leucadendron Reinw. ex de Vriese, 1856).

- Bạch đàn trắng (Eucalyptus camaldulensis Dehnh., 1832, tên đồng nghĩa: Eucalyptus rostrata Sch. Một vài địa phƣơng ở Việt Nam còn gọi là Bạch đàn camal, Bạch đàn Úc, Khuynh diệp đỏ. - Bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora Hook., 1848, còn có các tên đồng nghĩa: Eucalyptus melissiodora Lindley, 1848; Eucalyptus variegata E. Mueller, 1859; Eucalyptus maculata Hook.) Bailey, 1900; Corymbia citriodora (Hook.

Có nơi ở nƣớc Lào và Viêt Nam còn gọi là Bạch đàn đỏ. 7 - Bạch đàn uro (Eucalyptus urophylla S. Blake, 1977, còn có tên đồng nghĩa: Eucalyptus alba auct. ex Blume, Eucalyptus decaisneana auct.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Công Nghệ Xử Lý Gỗ Bạch Đàn Trắng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp và công nghệ hiện đại trong việc xử lý gỗ bạch đàn trắng, một loại gỗ có giá trị kinh tế cao. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các quy trình xử lý mà còn phân tích những lợi ích mà công nghệ mang lại, như tăng cường độ bền, khả năng chống mối mọt và cải thiện tính thẩm mỹ của sản phẩm gỗ. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích để áp dụng vào thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn nghiên cứu công nghệ biến tính nhiệt gỗ keo tai tượng acacia mangium willd, nơi khám phá công nghệ biến tính gỗ nhằm cải thiện tính chất vật liệu. Bên cạnh đó, Luận văn nghiên cứu tuyển chọn cưa đĩa xẻ gỗ cho làng nghề la xuyên ý yên nam định sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các công cụ và thiết bị trong ngành chế biến gỗ. Cuối cùng, Luận văn nghiên cứu hệ thống xử lý mùn cưa cho cưa vòng đứng trong dây chuyền xẻ gỗ tự động cung cấp cái nhìn về quy trình tự động hóa trong ngành chế biến gỗ, giúp tối ưu hóa sản xuất và giảm thiểu lãng phí. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về công nghệ và quy trình trong ngành gỗ.