Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về lĩnh vực chế biến gỗ ở Việt Nam 1. Vai trò ngành chế biến gỗ trong nền kinh tế quốc dân Trong những năm qua, ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã có những bước phát triển vượt bậc, với kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng cao, năm 2009 đạt 2,6687 tỷ USD, vượt xa mục tiêu đạt 750 triệu USD kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ năm 2004 và đạt 2 tỷ USD năm 2010 đã được đặt ra tại Chỉ thị số 19/2004/CT-TTg ngày 01/6/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, sản phẩm gỗ đã trở thành một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Mặt hàng gỗ và sản phẩm của Việt Nam đã có mặt tại 37 quốc gia trên thế giới và Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ là thị trường đạt kim ngạch cao nhất 2,6 tỷ USD, chiếm 38,2% tổng kim ngạch, tăng 18,22%. Đứng thứ hai là thị trường Nhật Bản, tăng 9,50% đạt trên 1 tỷ USD. Tuy có vị trí thuận lợi trong việc giao thương hàng hóa nhưng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Trung Quốc chỉ đứng thứ ba trong bảng xếp hạng, đạt 982,6 triệu USD, tăng 12,72% so với năm 2014. Theo nhận định của Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA), xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ vượt trội hơn so với nhiều ngành hàng chủ lực khác.
Dự kiến năm 2016, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,2-7,3 tỉ USD, tốc độ tăng trưởng khoảng 8-10%. Thực trạng chung ngành chế biến gỗ ở Việt Nam Bước đầu ngành chế biến gỗ Việt nam đã hình thành các cụm chế biến gỗ ở T.P Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây nguyên, miền Trung và cụm làng nghề chế biến gỗ tại phía Bắc. Riêng tại Quy Nhơn (miền Trung) có khu chế biến gỗ với 50 doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu. Vùng làng nghề và cụm làng nghề sản xuất thủ công mỹ nghệ, đồ mộc cao cấp tại Bắc Ninh, Hà Tây (cũ), Nam Định, Hà Nội, Bình Dương.
hàng năm tiêu thụ lượng gỗ lên đến 100. Sản xuất đồ mộc xuất khẩu của Việt Nam hàng năm tiêu thụ hơn 2,5 triệu m3 gỗ. Nhìn chung, các cơ sở chế biến gỗ của Việt Nam là những cơ sở chế biến vừa và nhỏ, phân bố rải rác trong các vùng trên phạm vi toàn quốc. Trong số 3900 doanh nghiệp chế biến gỗ có đến 1/3 doanh nghiệp Nhà nước thuộc Trung ương và địa phương quản lý, Khoảng 4% công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Còn lại là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Cũng do tình trạng phân tán, mà khả năng cơ giới hoá và hiện đại hoá ngành chế biến cũng rất hạn chế. Nhìn chung, có thể thấy rằng tình trạng máy móc thiết bị chế biến gỗ và lâm sản chưa được đầu tư đổi mới nhiều, nhất là các cơ sở thuộc các tỉnh phía Bắc và khu IV cũ Ngành chế biến gỗ trong thời gian qua đã tạo ra được các sản phẩm phục vụ trong nước và xuất khẩu như gỗ xẻ, gỗ xây dựng, đồ mộc thông dụng, đóng tàu thuyền, giao thông vận tải, hàng thủ công mỹ nghệ, dăm mảnh và các sản phẩm Song, Mây xuất khẩu. Cơ cấu sản phẩm trên cơ sở giá trị hàng hoá được thể hiện tại bảng 1.1 như sau: 5 Bảng 1.
Cơ cấu các sản phẩm chế biến lâm sản từ Việt Nam TT Sản phẩm Tỷ lệ% 1 Gỗ xẻ 11 2 Đồ mộc, đóng thuyền, giao thông vận tải 60 3 Hàng thủ công mỹ nghệ 13 4 Dăm mảnh 0,4 5 Song mây, Tre trúc 4,2 6 Loại khác 8,4 Tổng 100 Nguồn: Dự thảo chiến lựơc phát triển Lâm Nghiệp VN 2006-2020 của Cục Lâm Nghiệp 1. Đánh giá xu hướng phát triển lĩnh vực chế biến gỗ trong tương lai Nhu cầu gỗ xẻ: Dự báo nhu cầu tiêu dùng gỗ xẻ sẽ tăng từ 2,2 triệu m3 trong năm 2003 lên trên 7 triệu m3 vào năm 2020. Mức dự đoán về tăng nhu cầu này có thể quá cao, vì đã có nguyên liệu thay thế gỗ xẻ như bê tông, thép, nhôm (trong xây dựng) và ván nhân tạo (trong sản xuất đồ mộc). Mức tiêu thụ gỗ xẻ năm 2003 cho 1000 dân ở Việt nam là 27m3, trong khi đó ở Ấn Độ khoảng 7 m3, Trung Quốc khoảng 12 m3, Malaysia khoảng 109 m3, Thái Lan khoảng 75 m3, Hàn Quốc khoảng 126 m3, Brazil khoảng 110 m3, Mỹ khoảng 420 m3, Đức khoảng 216 m3.
Nhu cầu ván sợi: Được dự báo sẽ tăng 40.000 m3 vào năm 2020 tức là tăng 8000 m3 mỗi năm, chủ yếu ván MDF. Tiêu dùng về ván sợi năm 2003 cho 1000 dân của Việt Nam khoảng 0,5m3, trong khi đó ở Ấn Độ khoảng 0,1m3, Trung Quốc khoảng 8 m3, Malaysia 6 khoảng 10m3, Hàn Quốc khoảng 40m3, Brazil 5m3, Mỹ khoảng 31m3, Đức khoảng 20m3. Nhu cầu ván dăm: Tiêu dùng hiện tại về ván dăm được ước tính khoảng 80.000m3, tức là khoảng 1m cho 1000 dân, trong khi đó ở Phillipines khoảng 0,4m3, Trung Quốc khoảng 0,4 m3, Hàn Quốc khoảng 33 m3, Brazil khoảng 10m3, Mỹ khoảng 97m3, Đức khoảng 100m3. Nhu cầu này sẽ tăng đến trên 300.000 m3 vào năm 2020, tức là tăng gấp ba lần trong 17 năm.
Nhu cầu gỗ tròn: Hiện nay số liệu thống kê cấp quốc gia rất hạn chế, theo ước tính khoảng 25 triệu m3 gỗ tròn vào năm 2020. Ảnh hưởng của quá trình chế biến gỗ đến sức khỏe con người Qua khảo sát các cơ sở chế biến gỗ, từ các máy cưa, máy bào, máy khoan, máy xẻ và phun bóng mầu sản phẩm bằng sơn véc ny…, tác động đến các yếu tố môi trường do hoạt động sản xuất gây nên bao gồm: - Tác động đến chất lượng môi trường không khí. - Tác động do tiếng ồn từ phân xưởng sản xuất đồ gỗ. - Tác động do chất thải rắn - Rủi ro và sự cố môi trường có thể xẩy ra.
Trong các ảnh hưởng trên của quá trình chế biến gỗ đến sức khỏe con người, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu xử lý vấn đề bụi và mùn cưa sinh ra khi xẻ ván bằng hệ thống xẻ tự động cưa vòng đứng thuộc đề tài cấp nhà nước mã số ĐTĐL. Tổng quan về công nghệ và thiết bị xẻ gỗ ở Việt Nam và trên thế giới 1. Nguyên liệu đầu vào, sản phẩm xẻ, công nghệ và thiết bị xẻ ở Việt Nam Nguyên liệu đầu vào Nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam tương đối đa dạng về loài cây, xuất xứ và kích thước sản phẩm. Hiện nay khoảng 7 80% nguyên liệu đầu vào được nhập khẩu từ các nước khác và chủ yếu là gỗ rừng tự nhiên.
Khoảng 20% nguyên liệu gỗ được khai thác từ rừng nội địa và được phân thành hai nhóm: Nhóm gỗ cứng: Thường là nhóm gỗ của cây lá rộng. Đây là nhóm gỗ có cơ lý tính rất tốt và thường thuộc nhóm gỗ quý như đinh, lim, sến, táu. Hiện nay những loại gỗ này còn rất ít và chủ yếu được nhập từ Lào, Campuchia. Nhóm gỗ mềm: Nhóm gỗ này chủ yếu là gỗ lá kim như thông, bồ đề và một số loại gỗ khác.
Nhóm gỗ này bao gồm cả nhập khẩu và trồng nội địa để cung cấp cho nhu cầu gỗ sản xuất đồ mộc. Sản phẩm của quá trình xẻ Nhóm gỗ cứng: Thường được xẻ những hộp lớn để phục vụ cho chế biến đồ gỗ mỹ nghệ như bàn, tủ, sập, phản, .hoặc làm cột nhà và các phụ kiện cho nhà gỗ. Nhóm gỗ mềm: Do gỗ rừng trồng có đường kính nhỏ, tính chất cơ, vật lý thấp màu sắc không đẹp do cấu tạo của gỗ cho nên đa phần chúng được sử dụng keo lá tràm dưới dạng nguyên liệu, vật liệu thô và thực tế cho thấy sản phẩm chủ yếu được lựa chọn là làm thanh cơ sở cho ván ghép thanh, cốt pha, sản phẩm xẻ dùng làm xà gỗ, một số dùng làm cột đỡ, làm dăm công nghệ. Nhưng do yêu cầu thiết kế phân xưởng để sản xuất ra các loại sản phẩm có kích thước: Dày x Rộng x Dài = S x B x L = 2,4 x 3,8 x 70 (cm) nên ta lựa chọn sản xuất ra các thanh làm thanh cơ sở cho sản xuất ván ghép thanh là chủ yếu.
Công nghệ và thiết bị xẻ ở Việt Nam Theo kết quả điều tra khảo sát các công ty chế biến gỗ, các nhà máy chế biến gỗ và các xưởng chế biến gỗ của tư nhân cho thấy thiết bị xẻ gỗ hiện nay ở Việt Nam có hai thiết bị phổ biến như sau: Cưa vòng nằm Cưa vòng nằm là thiết bị xẻ phá được sử dụng rộng rãi hiện nay ở Việt 8 Nam. Loại cưa này thường đứng đầu dây chuyển xẻ và được sử dụng để xẻ gỗ lớn và có thể sử dụng xẻ gỗ nhỏ. Tuy nhiên loại cưa này phù hợp với đối tượng là gỗ lớn đường kính gỗ từ 300-1000mm, sản phẩm đầu ra của loại cưa này là các loại ván (ván dầy hoặc ván mỏng) hoặc là gỗ hộp, gỗ thanh. Ưu điểm của cưa vòng nằm là vốn đầu tư thấp; lắp đặt, vận hành đơn giản, dễ sử dụng.
Tuy nhiên, nó có những nhược điểm là năng suất thấp (khoảng 0,25-0,5 m3/h); chất lượng sản phẩm thấp (độ mấp mô, độ lượn sóng cao); độ chính xác kích thước thấp (độ dư gia công lớn); tỷ lệ thành phẩm thấp; lao động nặng nhọc. Do vậy, loại cưa vòng nằm được sử dụng nhiều ở những nhà máy, xí nghiệp xẻ gỗ lớn gỗ nhập khẩu.1 là thiết bị cưa vòng đẩy được sử dụng phổ biến hiện nay ở Việt Nam. Cưa vòng nằm là thiết bị xẻ gỗ lớn phổ biến hiện nay ở Việt Nam Cưa vanh cải tiến Cưa vanh cải tiến được sử dụng khá nhiều hiện nay ở những công ty, xí nghiệp xẻ gỗ nhỏ rừng trồng, loại cưa này được cải tiến từ cưa vanh chuyên để xẻ lại, xẻ thanh và vanh đường cong, sản phẩm của cưa này là ván, thanh gỗ có kích thước nhỏ. Ưu điểm của cưa vanh cải tiến là vốn đầu tư thấp; lắp 9 đặt, vận hành đơn giản, dễ sử dụng.
Nhưng nó co những nhược điểm như năng suất thấp (khoảng 0,18-0.25m3/h); chất lượng sản phẩm thấp ( độ mấp mô, độ lượn sóng cao, kích thước ngắn); độ chính xác kích thước thấp (độ dư gia công lớn); tỷ lệ thành phẩm cao hơn cưa vòng; lao động nặng nhọc, hay xẩy ra tai nạn lao động. Do đó loại cưa này chỉ phù hợp cho xẻ gỗ nhỏ, gỗ tận thu, không xẻ gỗ lớn, gỗ có chiều dài lớn.