CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG, NGOÀI NƯỚC 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Tĩnh mạch là một mạng lưới gồm các cấu trúc hình ống, vận hành theo cơ chế các tĩnh mạch nhỏ ở xa sẽ dẫn máu về các tĩnh mạch lớn hơn, gần tim hơn, sau đó đổ về tim. Suy tĩnh mạch được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu trở về tim. Sự trao đổi chất giữa mao mạch và mô bị xáo trộn gây ra hiện tượng thoát dịch khỏi tĩnh mạch, làm phù chân, gây ra sự ứ đọng các sản phẩm chuyển hóa tại các mô của da và lớp dưới da, lâu dần có thể dẫn tới thay đổi dinh dưỡng tại da, gây ra chàm và loét tĩnh mạch. Suy tĩnh mạch gây nên tình trạng những tĩnh mạch giãn to, ngoằn ngoèo dưới da hoặc viêm ở các mô xung quanh.
Biểu hiện thành triệu chứng phù mắt cá chân, viêm da và lở loét ở cẳng chân, chủ yếu là ở vùng gần mắt cá chân.1: Hình ảnh tổn thương da theo phân độ của người bệnh Nén, được coi là một trong những chức năng quan trọng nhất trong quá trình chữa bệnh (Oess, 2004) phục vụ nhiều người, do lý do đó mà người ta sử dụng tất tĩnh mạch. Suy tĩnh mạch mãn tính (CVI), biểu hiện qua các triệu chứng như: phù, chứng tăng sắc tố trên mô, trên da, mắt cá chân có thể thu nhỏ, teo da trắng, và loét chân (Neumann 1998 theo trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann 2003), là những tình trạng nghiêm trọng có thể được kiểm soát với tất tĩnh mạch. Sự co và giãn cơ bắp chân trong khi đi bộ bình thường cung cấp năng lượng cần thiết để đưa máu từ chân ngược lên và cuối cùng là về tim. Van của tĩnh mạch có nhiệm vụ ngăn cản dòng máu chảy ngược lại.
Tỷ lệ máu trong tĩnh mạch chảy ngược lại ở chân là một chỉ số để biết sự hoạt động của van tốt thế nào, do tốc độ sẽ chậm hơn đáng kể khi van không có đủ khả năng (Pahlavan, Hampton, 2004). Khi các van này bị hư hỏng, hoặc trở nên kém (Hình 1.2), làm tăng áp lực của dòng máu chảy ngược trên hệ thống tĩnh mạch và cuối cùng có thể dẫn đến vô số các biến chứng. Van hỏng là khi các đỉnh van không còn đáp ứng được, hoặc là chúng bị hư hỏng hoặc bị xẹp lại hoàn toàn. Trong CVI, các bơm trong cơ bắp chân không có khả năng làm giảm áp lực tĩnh mạch trong quá 12 trình đi bộ, áp lực gia tăng này, thường được gọi là chứng tăng huyết áp tĩnh mạch, cuối cùng dẫn đến tăng áp lực mao dẫn (Van Geest, Franken, Neuman, 2003).2: Van tĩnh mạch thông thường với van tĩnh mạch bị hỏng Mức độ nghiêm trọng của CVI có thể phân loại theo hệ thống phân loại CEAP được công nhận trên bình diện quốc tế.
Hệ thống này nghiên cứu biểu hiện lâm sàng, nguyên nhân gây bệnh, giải phẫu, và các khía cạnh sinh lý bệnh. Những bệnh nhân bị phù nề, suy tĩnh mạch giảm albumine máu cũng có thể được hưởng lợi từ tất tĩnh mạch, do tác dụng nén của tất có thể làm giảm sưng. Van Geest cùng cộng sự (2003) đã xác định việc suy động mạch là việc chống chỉ định quan trọng nhất của liệu pháp nén, trong khi các chống chỉ định khác đối với liệu pháp nén bao gồm: "ngẽn mạch sâu cấp tính mà không có bổ sung hiệu quả, bệnh tim sung huyết nặng, dị ứng tiếp xúc với các thành phần của vật liệu sử dụng trong tất, dải băng gạc và các vết loét không xác định, chẳng hạn như ung thư biểu mô" theo chỉ định của Neumann (1996, 1998 như trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003). Thật không may, do sự tuân thủ kém của bệnh nhân trong điều trị nén, các vết loét ứ tĩnh mạch thường tái diễn.
Do bệnh mãn tính, vết loét chân có thể phát triển thành DVT (huyết khối tĩnh mạch sâu ), một căn bệnh đe dọa cuộc sống. Đối với du khách di chuyển thường xuyên, hội chứng hạng phổ thông, thường được gọi là ECS cũng như DVT và dẫn tới tạo dạng cục máu đông hình thành trong khi ngồi lâu ở những vị trí chật hẹp như khách hạng phổ thông. Hiện tượng này cùng với việc thiếu tập luyện và thiếu nước làm giảm dòng máu trở của tĩnh mạch và minh họa bằng bộ ba yếu tố sinh lý bệnh của Virchow trong sự hình thành huyết khối là; tổn thương nội mạc, dòng máu trong ven bị suy giảm, và gây nên hiện tượng nghẽn mạch do đông tụ máu (Hình 1.3: Ba triệu chứng của Virchow trong sự hình thành huyết khối Những nghiên cứu khác nhau, được tài trợ bởi viện Phlebology và Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ, đã xâu chuỗi ECS liên quan đến việc tử vong trên máy bay và sau chuyến bay, và đề xuất rằng thời gian bay là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển DVT (Ewing, 2005). Việc đứng trong thời gian dài cũng có thể dẫn đến giãn tĩnh mạch và các vấn đề lưu thông máu ở chân.
Phụ nữ mang thai, đàn ông và phụ nữ hay phàn nàn việc chân bị mỏi hoặc cảm thấy nặng nề, những người vừa trải qua phẫu thuật thẩm mỹ, nạn nhân bị bỏng, và vận động viên thể thao đều cần sử dụng tất tĩnh mạch (Oess, 2004). Chứng giãn tĩnh mạch, thường do tình trạng yếu tĩnh mạch di truyền, là tín hiệu sớm của suy tĩnh mạch. Việc tăng áp lực do thời gian đứng lâu hoặc gắng sức hoặc giảm sự hỗ trợ từ các mô xung quanh tĩnh mạch có thể dẫn đến giãn tĩnh mạch. Phụ nữ mang thai, người béo phì, và người già dễ bị tăng áp lực này hơn những người khác.
Ở giai đoạn này việc sử dụng tất tĩnh mạch là lý tưởng vì nó có thể ngăn ngừa tình trạng tồi tệ hơn. Một nghiên cứu năm 2003 cho thấy rằng tất tĩnh mạch có tác dụng tương tự, liên quan đến tỷ lệ chữa bệnh và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, như phẫu thuật tĩnh mạch nông. Hemosiderin là một hiện tượng ngả màu nâu trên da của phụ nữ mang thai do tĩnh mạch được kéo giãn dưới áp lực cao và cho phép các tế bào hồng cầu để đi vào các mô. Sắt từ các tế bào hồng cầu sau đó lắng đọng trên các mô và làm nhuốm màu lên da.
Vết sẹo phát sinh trên cẳng chân là những mảng trắng nhỏ ở mô không có máu gây đau đớn và là một dấu hiệu cảnh báo chứng loét tĩnh mạch (Pah-Lavan, Hampton, 2004). 14 Cuối cùng, cũng có thể sử dụng tất tĩnh mạch cho nạn nhân bỏng cấp độ hai và ba để ngăn ngừa và điều trị các vết sẹo phì đại và sẹo lồi cũng như khi điều trị co cứng và biến dạng khớp (Weinert, 2003). Tất tĩnh mạch có thể tạo thuận lợi làm lành các vết bỏng nhanh hơn và làm các vết sẹo phẳng và mềm hơn mà không cần điều trị gì thêm (Larson cùng cộng sự, 1971 trích dẫn của Wienert, 2003).1 Các dạng tất tĩnh mạch Tất tĩnh mạch được gọi là "tất tĩnh mạch đàn hồi y tế" (MECS). MECS được coi là một phần của giai đoạn 2 trong chế độ điều trị nén hai giai đoạn.
Giai đoạn 1 là để giảm phù nề và/hoặc chữa lành các vết loét ở chân bằng dải băng không đàn hồi, và giai đoạn 2 là việc duy trì nén qua MECS.1: Phân loại tất tĩnh mạch và áp lực tối đa tương ứng (ở mắt cá chân) Cấp Áp lực ở mắt cá chân (mmHg) I 15-21 II 23-32 III 34-46 IV ≥ 49 Chú thích: mmHg là áp suất đo bằng milimet thủy ngân Cấp II (trung bình): Sử dụng áp lực trong khoảng 23-32 mmHg ở mắt cá chân và rất hữu ích đối với phù nề nhẹ ở CVI, sau khi xơ hoá, trong trường hợp phụ thuộc phù nề, và ở tình trạng giãn tĩnh mạch không phù nề (Van Geest cùng nhóm nghiên cứu, 2003). 15 Cấp IV (rất mạnh): Sử dụng áp lực từ 49 mmHg trở lên, và chủ yếu hữu ích đối với phù nề bạch huyết và chứng phù voi. Thông thường, bệnh nhân có thể xét thấy nó khá khó khăn để đeo tất cấp III hoặc cấp IV, trong trường hợp này, nên được khuyến cáo bệnh nhân đeo hai lớp tất tĩnh mạch, do nén tổng lực có thể nén cao hơn so quy định ban đầu. Trắc đồ nén (Hình 1.4) cho thấy sự thay đổi áp lực khi nó di chuyển lên từ mắt cá chân lên đầu đùi.
Tất tĩnh mạch luôn có áp lực lớn nhất ở mắt cá chân và giảm dần dần khi nó di chuyển lên đến chân và hông, hoặc bất cứ vị trí cuối cùng nào mà tất kéo đến, có thể là đầu gối, hoặc đùi. Khi đo tất tĩnh mạch bệnh nhân phải là người không bị phù nề và đo trong tư thế nằm ngửa. Cần tiến hành đo tại các vị trí đo cụ thể (Hình 1.5), mà phù hợp với CEN, từ mắt cá chân lên đầu đùi (từ A đến G). Do chiều dài tất sẽ khác nhau với nhiều dạng điều trị khác nhau, chỉ thực hiện các phép đo thích hợp.
Huyết khối tĩnh mạch chân và phù nề bạch huyết sâu ở chân thường yêu cầu các phép đo từ A-G, trong khi CVI chỉ có thể yêu cầu đo đến D.4: Đường áp lực dành cho tất tĩnh Hình 1.5: Các vị trí cụ thể cần thực mạch. Lượng áp lực tối đa dồn hết vào hiện các phép đo để xác định kích cỡ mắt cá chân. Trong biểu đồ đường nét liền tất cho bệnh nhân, hoặc nếu cần phải là đường áp lực lý tưởng. có tất tùy chỉnh.2 Cấu trúc và vật liệu tất tĩnh mạch Có thể dệt MECS theo hai cách khác nhau, tất dệt kim phẳng và tất dệt kim tròn, mỗi loại có những ưu nhược điểm khác nhau cho bệnh nhân, cùng với các tính chất nén khác nhau.
"Tất cả MECS phải kín, và được dệt kim, gót tất phù hợp với các dạng kết cấu thích hợp và đặc tính căng" (Neumann, 2000 như trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann, 2003). Tất dệt kim phẳng: là loại tất tĩnh mạch có đường may, và có thể có kích thước tiêu chuẩn hoặc tùy chỉnh. Tất dệt kim phẳng, không phải là sản phẩm có tính thẩm mỹ, nhưng thường có độ vừa vặn hơn so với tất dệt kim tròn, và có thể đem lại áp lực chính xác hơn. "Đạt được tính chất này bằng cách dệt một loại vòng sợi mà không ảnh hưởng đến sức căng sợi.
Khâu hai cạnh với nhau và may đường may thành phẩm tất" (Neumann, 1996 trích dẫn của Van Geest, Franken, Neumann 2003). Những loại tất này có thể dệt từ "sợi đàn tính” hoặc dệt kim có cài sợi đàn tính.