Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Cây vải là cây á nhiệt đới, quá nóng thì không ra hoa chỉ ra lá, quá rét thì chết. Cây vải thường được trồng trên các vùng đồi, vì vậy tạo điều kiện cho hệ côn trùng trên vải phát triển. Từ đó các nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu sự đa dạng cũng như đặc điểm của chúng.1 Tình hình nghiên cứu côn trùng trên vải thiều của thế giới. Trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng hại vải đã được công bố.
Năm 1990 Tan Shi Dong và cộng sự đã phát hiện ra 83 loài sâu hại trên cây vải thuộc 76 giống, 30 họ, 7 bộ. [2] Ở Ba Lan đã thả 1500 ong mắt đỏ cho 1 cây ăn quả lâu năm cho mỗi đợt để diệt trứng của các loài sâu hại và cho kết quả rất khả quan.F Water Hose đã công bố 4 loài sâu hại chính và quan trọng ở phía Nam Châu Á là: Aceria litchi (keifer), Cnopmorpha sinensix, Cossus sp, Tessaratoma papillosa Drury. Theo nghiên cứu của J,E Pena, T. Brown, (2001) về nhóm sâu cuốn lá thuộc họ Totricidae, bộ cánh vảy (Lepidoptera), thì loài Crosidoseman sp.
là loài được phát hiện cùng với các loài khác như: Proteoteras sp., gây những thiệt hại lớn cho vải ở Florida. Bắt đầu từ năm 1993 chúng được ghi nhận là một trong những loài dịch hại lớn ở Florida. Vào năm 1996- 1997 loài này đã làm giảm đáng kể năng suất đến 40% ở một số nơi.[6] Nhóm tác giả LiLi Ying, Wang Ren và D.F Water house vào năm 1997 đã xác định được 10 loài sâu hại phổ biến và quan trọng trên cây nhãn và cây vải ở phía Nam Trung Quốc. [7] Năm 1998 Rajpal Singh và cộng tác viên phát hiện ra 16 loài sâu hại phổ biến tại một số huyện của Trung Quốc.
[8] Năm 1998, Liu Ashmaed để trừ bọ xít nhãn vải, hiệu lực phòng trừ đạt 94%.[1] Năm 1998, Luo Qi Hao và cộng sự đi sâu nghiên cứu loài bướm đêm trích hút quả vải Comocritis albicapilla Morinti, đây là một trong các loài sâu hại quan trọng.[3] Phạm Thị Huệ 3 Khóa luận tốt nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội Năm 1999, Yang Chi Kun và cộng sự đã nghiên cứu về loài ruồi hại vải thuộc giống Oligotrophini ở Quảng Đông Trung Quốc.[4] Năm 2011, theo nhóm tác giả Qui Liangmiao, Zhan Zhixiong, Lin Renkui, Wu Wei, Chen Yuanhong đã phát hiện ở tỉnh Phúc Kiến có 100 loài côn trùng. Tiêu biểu là côn trùng bộ Cánh màng chiếm 24,31%, bộ Cánh cứng chiếm 18,75% và bộ Nửa Cánh cứng chiếm 9,03% trên tổng số loài ăn thịt. Tình hình nghiên cứu côn trùng trên cây vải ở trong nước. Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước là chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế trang trại nhằm xóa đói giảm nghèo, làm cho diện tích trồng vải ở nước ta tăng lên nhanh chóng, cùng với đó điều kiện khí hậu của nước ta rất thuận lợi cho cây vải phát triển, vì vậy cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của côn trùng.
Trên cơ sở đó các nhà khoa học Việt Nam đi sâu vào nghiên cứu về hệ côn trùng phong phú và đa dạng đó. Trong 2 năm 1967- 1968, Viện BVTV đã điều tra được 18 loài sâu hại nhãn vải: bọ dừa nâu, bọ dừa nâu nhỏ, sâu tiện vỏ, xén tóc mai rùa, rệp sáp cạnh, rệp sáp đỏ, rệp sáp nâu mềm, bọ xít vằn, sâu cuốn lá, rệp sáp Ai Cập, rệp sáp lớn giả cam, rệp sáp hình bán cầu, ve sầu bướm, bọ đa lớn hai chấm và bọ xít nhãn. [23] Năm 1970, Viện cây ăn quả, cây nông nghiệp và cây làm thuốc đã thống kê được 26 loại sâu hại vải. Trong đó, những loài sâu thường gặp và gây hại lớn là bọ xít nhãn vải, sâu đục quả và nhện lông nhung.
Ngoài ra còn có câu cấu, sâu đục cành, sâu cuốn lá, bọ dừa, rệp sáp…[24] Năm 1982, sau một quá trình nghiên cứu Hoàng Đức Nhuận đã phát hiện được ở Việt Nam trên 220 loài sâu hại thuộc 65 giống, 15 tộc và 6 phân họ.[3] Năm 1995, Vũ Quang Côn và cộng sự nghiên cứu một số đặc điểm phát sinh, phát triển của bọ xít nhãn vải Tessaratoma papillosa Drury (Hemiptera : Pentatomidae), đi sâu nghiên cứu sự phát triển của cá thể, của các cơ quan sinh sản, sự Phạm Thị Huệ 4 Khóa luận tốt nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội phát sinh lứa và biến động số lượng loài. Kết quả cho thấy thời gian cùng tồn tại gối lứa của bọ xít trưởng thành thế hệ cũ và mới kéo dài khoảng 30 ngày, trong đó bọ xít trưởng thành của thế hệ mới chiếm tới 61,4% còn bọ xít trưởng thành thế hệ cũ chỉ 38,6%. Bằng thực nghiệm cho thấy mỗi con cái thế hệ mới ghép đôi giao phối với con đực thế hệ cũ đẻ được 2 – 3 ổ trứng. Hiện tượng tiêu sinh trứng của trưởng thành cái xảy ra khi cách ly chúng với cây nhãn vải.
Mật độ bọ xít cao nhất vào trung tuần tháng 4 (48 – 56 con/cây). [2] Năm 1995, Trần Huy Thọ và cộng sự đã phát hiện được 19 loài sâu hại và 4 loài nhện gây hại tại Hà Nội, Hải Hưng, Hà Nam, Yên Bái. Những loài sâu hại chính như: bọ xít hại nhãn vải, rệp sáp, ve sầu bướm, sâu tiện vỏ, sâu đục cành, sâu đục thân, nhện lông nhung và ruồi đục quả. [18] Theo nghiên cứu của Trần Huy Thọ, Đào Đăng Tựu và Trương Văn Hàm (1996) cho biết: bọ xít nhãn vải phân bố rộng khắp các vùng trồng vải, phát sinh gây hại phổ biến từ tháng 3 đến tháng 6, sâu tiện vỏ phát sinh từ tháng 6 đến tháng 11, chủ yếu phá hại trên cành có đường kính từ 1- 4 cm.
Sâu đục thân làm cho cây phát triển còi cọc và có thể bị chết. Ruồi đục quả thường phát sinh mạnh vào tháng 6 đến tháng 7, quả bị hại thường bị thối nhũn và chảy nước. Rệp sáp hình ô van, nằm dưới mặt lá trích hút làm cho lá bị tổn thương, dẫn đến rụng lá. Rệp sáp đỏ hại trên mầm non, cuống quả và mặt trên của quả làm cho quả phát triển chậm, teo dần và dễ rụng, bộ phận bị hại có lớp muội xốp phủ kín.
Nhện lông nhung là loài gây hại cực kỳ quan trọng, phát triển không thuận lợi ở điều kiện nhiệt độ cao và mưa lớn. Ve sầu bướm phát sinh mạnh vào tháng 4 gây hại cho vải thiều đặc biệt là lúc cây ra hoa, trích hút làm rụng quả. [19] Năm 1997, Nguyễn Văn Huỳnh, Võ Thanh Hoàng điều tra phát hiện được nhiều loài sâu hại trên lộc non của vải nhưng gây hại mạnh nhất là hai loài: sâu đục gân lá và vạt sành. Chúng gây hại trên lộc non làm chúng bị thâm đen, bị rách dẫn đến cây sinh trưởng còi cọc, giảm khả năng quang hợp.
[4] Cùng năm 1997, Nguyễn Danh Vàm và cộng tác viên đã phát hiện trên cây nhãn tại Tiền Giang 8 loài sâu hại, so sánh với kết quả điều tra của trung tâm cây ăn quả Long Định (1995) thì đối tượng sâu hại thu được ít hơn 5 loài, các loài sâu hại chủ yếu là: sâu đục gân lá, sâu đục quả, sâu ăn hoa, sâu đục quả non, bọ xít nhãn, rệp bông, bọ cánh cứng ăn lá, sâu cuốn lá. Đến năm 1998 đã nghiên cứu loài Aphodidus margilellus Phạm Thị Huệ 5 Khóa luận tốt nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội fabr thuộc bộ cánh cứng, màu nâu xám. Ban ngày chúng ẩn nấp trong lùm cây hay lá khô, ban đêm bay ra cắn lá vải non để lại vết thâm đen trên lá làm giảm khả năng quang hợp.Nguyễn Xuân Thành- Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, đã đóng góp cho nghành nghiên cứu côn trùng học nói chung và côn trùng trên cây vải nói riêng nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Năm 1998 – 1999, Nguyễn Xuân Thành nghiên cứu ở nông trường Bình Khê, xã Tràng Lương, huyện Đông Triều, Quảng Ninh và nông trường Hà Trung, Thanh Hoá.
Số lượng loài thu được là 77 loài sâu hại và 1 loài nhện hại, trong đó: Bộ cánh phấn có 39 loài, bộ cánh đều 13 loài, bộ hai cánh có 1 loài, bộ cánh nửa 4 loài, bộ cánh cứng 19 loài. Côn trùng có ích gồm 14 loài côn trùng ăn thịt (thuộc 6 bộ và 8 họ ) và 13 loài côn trùng ký sinh (11 loài thuộc bộ cánh màng , 2 loài thuộc bộ hai cánh). Nhện hại mới phân loại được một loài là Eriophies litchi Keifer thuộc họ Eriophydae, số lượng loài nhện ăn thịt thu được là 10 loài. Ông đã nghiên cứu sinh học sinh thái về loài sâu cuốn lá đầu đen và sâu cuốn lá đầu nâu, nhóm sâu nhớt, nhóm sâu đo xanh, sâu đo hình que đầu hai sừng, sâu đo nâu xám, nhóm bướm chích quả, sâu đục cuống quả, sâu đục gân lá, bọ cánh cứng, bọ cánh gân nâu, bọ hung, bọ xít nhãn vải, bọ mắt vàng, nhện lông nhung, câu cấu, bọ dừa, ong ký sinh trứng bọ xít nhãn vải và ong ký sinh sâu non bộ cánh vẩy.
[10] Năm 2000, Nguyễn Xuân Thành nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của hai loài bọ mắt vàng Chrysopa và Ankylopteryxsp (Chrysopidae) trên cây vải thiều Đông Triều, Quảng Ninh. Kết quả cho thấy hai loài bọ mắt vàng đều thuộc phân họ Chrysopinae Esben-Petesen 1918, họ Chrysopidae, bộ Neuroptera. Cả hai loài tồn tại và phát triển quanh năm trên cây vải, mật độ cao nhất vào cuối xuân, đầu hè, khi mật độ thức ăn và các yếu tố sinh thái khác thuận lợi cho chúng. Mật độ cao nhất vào cuối tháng 4 đầu tháng 5, cuối tháng 5 và đến 20 tháng 6.
Đây là 2 loài côn trùng ăn thịt sâu hại quan trọng trong việc điều hòa mật độ chủng quần sâu hại vải, góp phần đáng kể hạn chế tác hại của sâu hại vải. [12] Năm 2002, Nguyễn Xuân Thành bước đầu nghiên cứu về thành phần các loài côn trùng và nhện trên vải tại Hà Nội và vùng phụ cận. Qua điều tra cho thấy thành phần côn trùng và nhện tương đối phong phú. Tổng số loài hiện đã thu được 109 loài, trong đó côn trùng và nhện thu được 54 loài.
Những loài nguy hiểm nhất có 12 loài. Côn Phạm Thị Huệ 6 Khóa luận tốt nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội trùng có ích (Ký sinh và bắt mồi) thu được là 21 loài, có ý nghĩa nhất là bọ mắt vàng, bọ rùa 18 chấm, ong ký sinh kén trắng. Nhện bắt mồi thu được 34 loài.