Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây vải thiều (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc cải tạo môi trường sinh thái ở các vùng đồi trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam. Nhờ chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế trang trại, diện tích trồng vải tại nhiều địa phương đã gia tăng nhanh chóng. Tuy nhiên, sự mở rộng quy mô canh tác thuần loài kéo theo sự gia tăng mật độ và chủng loại của nhiều loài côn trùng gây hại như bọ xít hại nhãn vải, sâu cuốn lá, sâu đục gân lá và các nhóm sâu đo. Để bảo vệ năng suất, người nông dân chủ yếu dựa vào các loại thuốc trừ sâu hóa học phổ rộng (Regent, Sherpa, Fastac), dẫn đến tình trạng phá vỡ cân bằng sinh thái, tiêu diệt quần thể thiên địch, gây bộc phát tính kháng thuốc và làm tồn dư hóa chất độc hại trên nông sản.
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Phạm Thị Huệ đã thực hiện đề tài khóa luận nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu sinh học cho việc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên cây vải.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 nội dung:
- Xác định được thành phần côn trùng trên cây vải thiều.
- Biết quy luật biến động số lượng của loài sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes quadraria Guenee).
- Biết được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái cơ bản của sâu đo xanh hai sừng.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu được xác định cụ thể theo hai phân hệ:
- Điều tra nghiên cứu thực địa: Xác định sự đa dạng về thành phần loài côn trùng (sâu hại và thiên địch) trên cây vải; theo dõi quy luật phát sinh và biến động mật độ của côn trùng trong vụ xuân hè năm 2015.
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: Đánh giá đặc điểm hình thái, tập tính sinh học, sinh thái học của sâu đo xanh hai sừng; theo dõi thời gian phát triển của các pha phát dục và chu kỳ vòng đời của loài dưới tác động của biến thiên thời tiết và điều kiện thức ăn.
Đối tượng nghiên cứu là thành phần côn trùng trên cây vải, tập trung chuyên sâu vào loài sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes quadraria Guenee) thuộc họ Ngài sâu đo (Geometridae), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Phạm vi không gian thực địa được tiến hành tại các vườn vải thuộc xã Hiển Ninh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Phạm vi thời gian nghiên cứu diễn ra từ ngày 07/01/2015 đến ngày 13/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nguyên lý côn trùng học ứng dụng và hệ thống phân loại học động vật không xương sống, kế thừa các công trình nghiên cứu về hệ côn trùng hại nhãn vải tại Việt Nam của Viện Bảo vệ thực vật (1967-1968, 1970), Trần Huy Thọ và Đào Đăng Tựu (1995, 1996), cùng chuỗi nghiên cứu chuyên sâu về bọ xít nhãn vải, bọ mắt vàng, bọ xít bắt mồi và sâu đo của TS. Nguyễn Xuân Thành (1998-2005). Khung lý thuyết của đề tài gắn liền với phương pháp luận quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), tiếp cận mối tương quan sinh thái giữa nhóm sâu hại và quần thể thiên địch tự nhiên (bắt mồi ăn thịt, ký sinh) trong hệ sinh thái vườn cây ăn quả.
Phương pháp nghiên cứu thực địa:
- Điều tra định kỳ: Tần suất 7 ngày/lần trên các vườn vải tại xã Hiển Ninh. Phương pháp lấy mẫu áp dụng theo quy chuẩn điều tra dịch hại: chọn ngẫu nhiên 10 cây theo 5 điểm chéo góc, tại mỗi điểm khảo sát tán cây theo 4 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc). Thu thập mẫu bằng tay hoặc vợt côn trùng chuyên dụng. Ghi nhận nhật ký khí tượng song song (nhiệt độ không khí, độ ẩm tương đối, thời tiết nắng mưa) tại mỗi lần điều tra.
- Điều tra bổ sung: Tiến hành khảo sát mở rộng ngoài khu vực định kỳ để thu thập đầy đủ các thành phần loài hiếm gặp. Mẫu vật sau khi thu thập được đưa về phòng nuôi để theo dõi pha trưởng thành phục vụ định loại hoặc bảo quản trong cồn 70° và làm tiêu bản khô.
Phương pháp nghiên cứu phòng thí nghiệm:
- Thu trứng và ấu trùng sâu đo xanh hai sừng từ thực địa đưa về nuôi cá thể trong các lọ nhựa có dung tích thay đổi từ 0,2 lít đến 10 lít phù hợp với từng lứa tuổi. Hàng ngày thay thức ăn bằng lá non tươi, giữ ẩm bằng bông thấm nước, theo dõi sự lột xác, ghi chép kích thước hình thái và tỷ lệ chết ở từng pha.
- Nuôi cặp trưởng thành để xác định nhịp điệu sinh sản: Ghép đôi 10 cặp bướm trưởng thành trong bình nhựa dung tích 5 lít, cung cấp dinh dưỡng bổ sung bằng dung dịch mật ong 10% quét trên bề mặt lá vải, theo dõi thời gian tiền đẻ trứng, số lượng trứng đẻ hàng ngày và thời gian sống của bướm đực và cái. Thí nghiệm được lặp lại qua 2 đợt nuôi tương ứng với các nền nhiệt độ và ẩm độ khác nhau (Đợt 1: tháng 3 - tháng 4/2015; Đợt 2: tháng 4 - tháng 5/2015).
Phương pháp tính toán và xử lý số liệu:
- Mật độ quần thể:
$$\text{Mật độ (con/cây)} = \frac{\text{Tổng số cá thể thu được}}{\text{Tổng số cây điều tra}}$$
- Tần suất bắt gặp ($C%$):
$$C% = \left(\frac{\text{Tổng số lần bắt gặp}}{\text{Tổng số lần điều tra}}\right) \times 100%$$
Phân loại mức độ phổ biến thành 4 cấp: Rất ít phổ biến ($0 - 5%$), Ít phổ biến ($6 - 25%$), Phổ biến ($26 - 50%$), Rất phổ biến ($51 - 100%$).
- Các chỉ số sinh học: Kích thước cá thể ($X_i$), thời gian phát dục trung bình ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S_x$), tỷ lệ nở của trứng, tỷ lệ sống sót của ấu trùng và tỷ lệ vũ hóa của nhộng được tính theo các công thức thống kê sinh học tiêu chuẩn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Chương I tổng thuật chi tiết các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến hệ côn trùng trên cây vải và các biện pháp kiểm soát dịch hại:
- Nghiên cứu quốc tế: Trích dẫn các công bố của Tan Shi Dong (1990) ghi nhận 83 loài sâu hại vải tại Trung Quốc; kết quả phóng thích 1.500 ong mắt đỏ/cây tại Ba Lan; dẫn liệu của F. Waterhouse về 4 loài sâu hại chủ yếu vùng Nam Á (Aceria litchi, Conopomorpha sinensis, Cossus sp., Tessaratoma papillosa); ghi nhận của J.E. Pena và T. Brown (2001) về tác hại làm giảm 40% năng suất vải của nhóm sâu cuốn lá tại Florida; điều tra của Li Li Ying (1997) và Rajpal Singh (1998) tại miền Nam Trung Quốc.
- Nghiên cứu trong nước: Hệ thống hóa quá trình điều tra côn trùng hại vải từ các đợt khảo sát của Viện Bảo vệ thực vật (1967-1968) thu thập 18 loài, Viện Cây ăn quả (1970) thống kê 26 loài, Hoàng Đức Nhuận (1982) với hơn 220 loài sâu hại. Các nghiên cứu cơ bản của Vũ Quang Côn (1995) về cơ chế tiêu sinh trứng và cấu trúc lứa của bọ xít nhãn vải; Trần Huy Thọ (1995, 1996) về tập tính phá hại của rệp sáp, ruồi đục quả, ve sầu bướm; Phạm Đình Sắc (2003) về cấu trúc 33 loài nhện bắt mồi thuộc 10 họ tại Sóc Sơn; Bùi Lan Anh và Ngô Xuân Bình (2003) tại Thái Nguyên. Đặc biệt, chương này điểm lại chuỗi nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành về 77 loài sâu hại, 27 loài thiên địch tại Quảng Ninh - Thanh Hóa (1998-1999), vai trò điều hòa sinh học của bọ mắt vàng Chrysopa sp. (2000), ong ký sinh trứng Ooencyrtus phongi (2003), bướm hút dịch quả thuộc phân họ Ophiderinae (2004), 6 loài sâu cuốn lá họ Tortricidae (2005) và đặc tính ăn mồi của bọ xít Sycanus bifidus (2005).
- Tình hình biện pháp phòng trừ: Khái quát các giải pháp cơ giới (rung cây bắt bọ xít qua đông, ngắt ổ trứng), hóa học (sử dụng Dipterex 0,15-0,2%, Supracide 40EC, Fastac 50EC, Padan 95SP) và biện pháp sinh học (sử dụng chế phẩm vi sinh Bacillus thuringiensis - BT, chế phẩm virus NPV bảo quản 12 tháng, nhân thả ong ký sinh Anastatus sp. và Ooencyrtus phongi).
Chương II: NỘI DUNG ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương II xác định toàn bộ quy trình tổ chức thực nghiệm và xử lý dữ liệu:
- Địa bàn khảo sát: Các vườn vải chuyên canh tại xã Hiển Ninh, Sóc Sơn, Hà Nội (nơi có diện tích canh tác trung bình 1,1 ha/hộ).
- Dụng cụ và vật tư thí nghiệm: Kéo, panh cứng và mềm, vợt bắt côn trùng, lọ nuôi sâu dung tích 0,2 đến 10 lít, ống tuýp, bút lông, mật ong 10%, bông thấm nước, cồn 70°, sổ theo dõi khí tượng và biểu mẫu điều tra thực địa.
- Thiết kế phương pháp: Chi tiết hóa quy trình điều tra định kỳ 7 ngày/lần theo phương pháp 5 điểm chéo góc (mỗi điểm 5 cây, tổng cộng 10 cây mẫu) kiểm tra 4 hướng tán lá; kỹ thuật thu mẫu trứng, nuôi ấu trùng qua 4 tuổi lột xác, theo dõi pha tiền nhộng, nhộng màng và ghép đôi sinh sản của bướm trưởng thành; hệ thống hóa các công thức toán học tính mật độ quần thể, tần suất xuất hiện, kích thước hình thái và độ lệch chuẩn của các pha phát dục.
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương III trình bày toàn bộ số liệu điều tra thực địa và kết quả nuôi sinh học trong phòng thí nghiệm:
- Thành phần sâu hại và thiên địch tại xã Hiển Ninh:
- Điều tra đã phát hiện 22 loài sâu hại thuộc 7 họ, 4 bộ côn trùng. Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) chiếm ưu thế tuyệt đối với 15 loài (tỷ lệ 68,18%), tiếp theo là bộ Cánh đều (Homoptera) có 3 loài (13,64%), bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 2 loài (9,09%) và bộ Cánh nửa (Hemiptera) có 2 loài (9,09%). Nhóm loài gây hại nghiêm trọng nhất gồm: sâu cuốn lá đầu nâu (Olethreutes sp.), sâu cuốn lá đầu đen (Olethreutes leucaspis), sâu đo xanh, sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes quadraria), bọ xít nhãn vải (Tessaratoma papillosa) và rệp sáp (Ceroplastes rubens).
- Quần thể thiên địch thu được 14 loài thuộc 7 họ, 6 bộ côn trùng. Trong đó, bộ Cánh cứng (Coleoptera) chiếm tỷ lệ cao nhất với 5 loài (35,8%), bộ Cánh nửa (Hemiptera) có 3 loài (21,4%), bộ Hai cánh (Diptera) có 2 loài (14,3%), bộ Cánh mạch (Neuroptera) có 2 loài (14,3%), bộ Cánh màng (Hymenoptera) có 1 loài (7,1%) và bộ Bọ ngựa (Mantodea) có 1 loài (7,1%). Các loài thiên địch bắt mồi có tần suất bắt gặp cao gồm bọ ngựa xanh (Mantis sp.), bọ mắt vàng (Chrysopa sp.), bọ rùa 18 chấm (Harmonia sedecimnotata), bọ rùa đỏ (Micrapis discolor) và bọ xít hoa (Cantheconidea furcellata).
| Nhóm côn trùng |
Bộ Cánh vảy |
Bộ Cánh đều |
Bộ Cánh cứng |
Bộ Cánh nửa |
Bộ Hai cánh |
Bộ Cánh mạch |
Bộ Cánh màng |
Bộ Bọ ngựa |
Tổng cộng |
| Sâu hại (loài) |
15 |
3 |
2 |
2 |
0 |
0 |
0 |
0 |
22 |
| Tỷ lệ (%) |
68,18% |
13,64% |
9,09% |
9,09% |
0% |
0% |
0% |
0% |
100% |
| Thiên địch (loài) |
0 |
0 |
5 |
3 |
2 |
2 |
1 |
1 |
14 |
| Tỷ lệ (%) |
0% |
0% |
35,8% |
21,4% |
14,3% |
14,3% |
7,1% |
7,1% |
100% |
-
Biến động số lượng sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes quadraria):
Mật độ sâu đo xanh hai sừng gắn liền chặt chẽ với các giai đoạn sinh trưởng của cây vải và nhiệt độ môi trường qua 19 đợt điều tra (từ 07/01/2015 đến 13/05/2015). Giai đoạn tháng 1 đến đầu tháng 2, mật độ sâu duy trì ở mức thấp ($0,1 - 0,9$ con/cây) khi cây ở pha lá già và lộc đông. Mật độ bắt đầu tăng nhanh từ trung tuần tháng 2 khi cây nhú lộc xuân và nụ hoa ($2,6$ con/cây). Quần thể bộc phát đạt đỉnh cao vào tháng 3 khi cây ra hoa rộ: ngày 04/03 đạt $7,7$ con/cây ($21^\circ\text{C}$, $77%$), ngày 11/03 đạt $9,1$ con/cây ($20^\circ\text{C}$, $91%$), đạt cực đại vào ngày 18/03/2015 với $12,0$ con/cây ($26^\circ\text{C}$, $88%$), và ngày 25/03 duy trì ở mức $11,2$ con/cây. Sang tháng 4 và tháng 5, khi cây chuyển sang hình thành quả non và lá chuyển sang bánh tẻ, mật độ giảm dần từ $8,8$ con/cây (01/04) xuống còn $2,7$ con/cây (13/05).
-
Đặc điểm hình thái sâu đo xanh hai sừng:
Loài biến thái hoàn toàn qua 4 pha phát dục:
- Pha trứng: Hình bầu dục, có mấu neo ở một đầu để bám vào mép hoặc gân lá non. Màu sắc biến đổi theo thời gian: mới đẻ màu xanh lá cây, chuyển sang vàng nhạt và có màu đỏ khi sắp nở. Kích thước trung bình dài $0,77 \pm 0,114\text{ mm}$ (biến thiên $0,6 - 0,9\text{ mm}$), rộng $0,266 \pm 0,035\text{ mm}$ (biến thiên $0,2 - 0,3\text{ mm}$).
- Pha ấu trùng: Có 4 tuổi, trải qua 3 lần lột xác, di chuyển bằng cách uốn cong gập thân hình chữ $\Omega$:
- Tuổi 1: Thân màu vàng đỏ nhạt, có một vệt màu nâu đen chạy dọc sống lưng, chưa thấy rõ hai sừng trên đầu; chiều dài trung bình $6,22 \pm 0,166\text{ mm}$, chiều rộng $0,47 \pm 0,3\text{ mm}$.
- Tuổi 2: Chuyển sang màu xanh lá vải, xuất hiện rõ hai mấu sừng cùng màu thân; chiều dài trung bình $15,6 \pm 0,19\text{ mm}$, rộng $0,862 \pm 0,009\text{ mm}$.
- Tuổi 3: Thân màu xanh, hai sừng chuyển sang màu nâu nhạt; là tuổi cắn phá lá non và chồi mạnh nhất; chiều dài trung bình $25,29 \pm 0,202\text{ mm}$, rộng $1,268 \pm 0,013\text{ mm}$.
- Tuổi 4: Hai sừng chuyển sang màu đen đặc trưng. Giữa tuổi 4 sâu ngừng ăn, cơ thể tròn trịa, cuối tuổi chuyển sang màu xám nhạt để chuẩn bị hóa nhộng; chiều dài trung bình $32,34 \pm 0,212\text{ mm}$, rộng $1,779 \pm 0,016\text{ mm}$.
- Pha nhộng: Thuộc kiểu nhộng màng có 5 đốt cuối bụng. Khi mới hóa nhộng mắt màu trắng, thân vàng nhạt; giữa thời kỳ thân chuyển màu nâu cánh gián, mắt đen; cuối thời kỳ thân chuyển màu xanh đậm. Chiều dài trung bình $13,1 \pm 0,15\text{ mm}$ ($12 - 14\text{ mm}$), rộng $2,525 \pm 0,085\text{ mm}$ ($2 - 3\text{ mm}$).
- Pha trưởng thành: Bướm vũ hóa vào buổi tối. Lưng và mặt trên cánh màu xanh nõn chuối, bụng và mặt dưới cánh màu trắng, viền mép cánh có hàng lông nhỏ màu vàng. Cá thể cái có râu đầu dạng sợi chỉ, bụng to tròn; cá thể đực có râu đầu dạng lông chim, cuối bụng có túm lông màu vàng. Sải cánh con cái ($33,1 - 33,69\text{ mm}$) lớn hơn con đực ($31,8 - 32,15\text{ mm}$).
- Đặc tính sinh thái, sinh học và chu kỳ phát dục:
Số liệu theo dõi thực nghiệm qua 2 đợt nuôi cho thấy thời gian phát dục phụ thuộc rõ rệt vào nhiệt độ môi trường:
| Pha phát dục |
Đợt nuôi 1 (Nhiệt độ TB $23,96^\circ\text{C}$, Ẩm độ $86,18%$) |
Đợt nuôi 2 (Nhiệt độ TB $27,4^\circ\text{C}$, Ẩm độ $79,59%$) |
| Trứng |
$3,69 \pm 0,046$ ngày (Tỷ lệ nở: $78,6%$) |
$2,44 \pm 0,037$ ngày (Tỷ lệ nở: $58,8%$) |
| Ấu trùng tuổi 1 |
$5,3 \pm 0,125$ ngày |
$4,53 \pm 0,034$ ngày |
| Ấu trùng tuổi 2 |
$4,61 \pm 0,065$ ngày |
$3,8 \pm 0,11$ ngày |
| Ấu trùng tuổi 3 |
$4,65 \pm 0,023$ ngày |
$3,7 \pm 0,065$ ngày |
| Ấu trùng tuổi 4 |
$5,54 \pm 0,17$ ngày |
$4,85 \pm 0,08$ ngày |
| Tổng pha ấu trùng |
$20,0 \pm 0,479$ ngày (Tỷ lệ sống: $100%$) |
$16,6 \pm 0,307$ ngày (Tỷ lệ sống: $99,6%$) |
| Pha nhộng |
$7,92 \pm 0,12$ ngày (Tỷ lệ vũ hóa: $87,5%$) |
$6,45 \pm 0,06$ ngày (Tỷ lệ vũ hóa: $82,0%$) |
| Thời gian tiền đẻ trứng |
$1,86 \pm 0,24$ ngày |
$1,97 \pm 0,13$ ngày |
| Thời gian sống bướm đực |
$4,32 \pm 0,12$ ngày |
$3,67 \pm 0,25$ ngày |
| Thời gian sống bướm cái |
$4,87 \pm 0,21$ ngày |
$4,02 \pm 0,45$ ngày |
| Toàn bộ vòng đời |
$34,89 \pm 0,76$ ngày (Biến thiên: $32 - 37$ ngày) |
$26,4 \pm 0,89$ ngày (Biến thiên: $25 - 30$ ngày) |
- Nhịp điệu đẻ trứng: Trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng từ đêm thứ 2 sau khi giao phối, thời gian đẻ kéo dài trung bình $3,42 \pm 0,22$ ngày (đợt 1) và $2,73 \pm 0,07$ ngày (đợt 2). Bướm cái đẻ rộ nhất vào ngày thứ hai sau giao phối, đạt trung bình $25,07 \pm 1,45$ quả/con (đợt 1) và $33,34 \pm 1,97$ quả/con (đợt 2). Tổng số trứng đẻ tối đa của một cá thể cái ghi nhận được là 73 quả (đợt 2) và thấp nhất là 17 quả (đợt 1).
Kết quả và đóng góp
Văn bản khóa luận đã ghi nhận các kết quả thực nghiệm với những đóng góp cụ thể:
- Kết quả kiểm kê đa dạng sinh thái côn trùng: Cung cấp danh mục phân loại chi tiết gồm 22 loài sâu hại thuộc 7 họ, 4 bộ côn trùng và 14 loài thiên địch ăn thịt/ký sinh thuộc 7 họ, 6 bộ côn trùng trên cây vải thiều tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
- Dữ liệu sinh học của sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes quadraria): Lần đầu tiên mô tả đầy đủ các chỉ số hình thái chi tiết qua 4 tuổi sâu non (tuổi 1 dài $6,22\text{ mm}$; tuổi 4 dài $32,34\text{ mm}$), cấu tạo nhộng màng ($13,1\text{ mm}$) và các chỉ số hình thái của bướm trưởng thành (sải cánh, chiều dài vòi, râu đầu). Xác lập vòng đời phát dục hoàn chỉnh của loài ở hai ngưỡng nhiệt độ: kéo dài $34,89$ ngày ở điều kiện nhiệt độ $23,96^\circ\text{C}$ và rút ngắn xuống $26,4$ ngày khi nhiệt độ tăng lên $27,4^\circ\text{C}$. Xác định được đỉnh cao mật độ gây hại ngoài tự nhiên trùng vào giai đoạn cây vải nở hoa rộ (trung tuần tháng 3, đạt $12$ con/cây).
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật phòng trừ:
- Kỹ thuật canh tác: Hạn chế triệt để sự phát sinh của cành lộc đông nhằm cắt đứt nguồn thức ăn tích lũy qua đông của sâu non; cắt tỉa cành rậm rạp, phát quang vườn vải để loại bỏ nơi trú ngụ.
- Kỹ thuật giám sát: Tổ chức điều tra định kỳ 7 ngày/lần để theo dõi diễn biến mật độ sâu và sự phát triển của quần thể thiên địch.
- Biện pháp sinh học và hóa học: Hạn chế phun hóa chất độc hại để bảo vệ 14 loài thiên địch hiện diện trong vườn; ưu tiên ứng dụng các chế phẩm sinh học như vi khuẩn BT, Biocin 16 WP và chế phẩm virus NPV (hạn chế vũ hóa và đẻ trứng). Trong trường hợp mật độ sâu vượt ngưỡng gây hại kinh tế, chỉ sử dụng thuốc hóa học chọn lọc, ít độc hại theo đúng nguyên tắc "4 đúng": đúng thuốc, đúng cách, đúng liều lượng và đúng thời điểm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian nghiên cứu mới chỉ tập trung trong vụ xuân hè (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015), chưa theo dõi liên tục toàn bộ các mùa trong năm để xác định đầy đủ số lứa phát sinh hàng năm và đặc tính qua đông của sâu đo xanh hai sừng.
- Nghiên cứu thực hiện lần đầu bởi sinh viên tốt nghiệp, điều kiện tiếp cận các kỹ thuật sinh học phân tử trong định danh các loài sâu non và thiên địch chưa biết rõ tên khoa học còn hạn chế (một số loài trong danh mục mới dừng lại ở cấp chi hoặc họ).
Hướng mở nghiên cứu được văn bản đề xuất:
- Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và toàn diện hơn về thành phần và quy luật phân bố của các loài côn trùng gây hại và côn trùng có ích trên cây vải trong trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng cả năm.
- Nghiên cứu sâu về mạng lưới và mắt xích thức ăn giữa các loài thiên địch và sâu hại để xây dựng chiến lược quản lý dịch hại chuẩn xác.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học trong việc thử nghiệm nuôi nhân sinh khối nhân tạo các loài thiên địch tiềm năng (bọ mắt vàng, bọ rùa, ong ký sinh) nhằm chủ động phóng thích kiểm soát sâu hại vải.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Côn trùng học, Nông học và Công nghệ sinh học: Cung cấp tài liệu tra cứu cụ thể về phương pháp điều tra côn trùng trên cây ăn quả, kỹ thuật nuôi dưỡng ấu trùng biến thái hoàn toàn trong phòng thí nghiệm, phương pháp tính toán các chỉ số sinh thái và thời gian phát dục.
- Cán bộ kỹ thuật trạm khuyến nông, trạm bảo vệ thực vật tại các huyện vùng đồi trung du: Cung cấp số liệu dịch tễ học và quy luật biến động mật độ của sâu đo xanh hai sừng theo tuần sinh trưởng của cây vải để xây dựng lịch dự tính dự báo dịch hại.
- Nông dân canh tác vải thiều: Tham khảo phần mô tả hình thái các tuổi sâu đo xanh hai sừng, thời điểm xuất hiện đỉnh cao (tháng 3) để chủ động kiểm tra mép lá non, ngắt tỉa lộc đông và áp dụng chế phẩm vi sinh thay thế thuốc trừ sâu độc hại.
Câu hỏi thường gặp
1. Sâu đo xanh hai sừng trải qua bao nhiêu tuổi ấu trùng và dấu hiệu nhận biết từng tuổi như thế nào?
Sâu đo xanh hai sừng trải qua 4 tuổi với 3 lần lột xác. Ấu trùng tuổi 1 có thân màu vàng đỏ nhạt giống màu lộc non, trên lưng có một vệt màu nâu đen kéo dài, chưa thấy rõ hai sừng. Tuổi 2 thân chuyển sang màu xanh lá cây, bắt đầu nhìn rõ hai sừng màu xanh cùng màu thân. Tuổi 3 thân giữ màu xanh, hai sừng chuyển sang màu nâu nhạt và to hơn thân, là tuổi cắn phá mạnh nhất. Tuổi 4 thân màu xanh nhưng hai mấu sừng chuyển hẳn sang màu đen; giữa tuổi 4 sâu ngừng ăn, cơ thể tròn lại và chuyển màu xám nhạt để chuẩn bị hóa nhộng.
2. Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng như thế nào đến vòng đời của sâu đo xanh hai sừng?
Nhiệt độ môi trường tỷ lệ nghịch với thời gian phát dục của các pha. Ở đợt nuôi 1 với nền nhiệt độ trung bình $23,96^\circ\text{C}$ (độ ẩm $86,18%$), toàn bộ vòng đời của sâu kéo dài $34,89 \pm 0,76$ ngày. Khi nhiệt độ môi trường tăng lên $27,4^\circ\text{C}$ ở đợt nuôi 2 (độ ẩm $79,59%$), vòng đời của sâu rút ngắn xuống chỉ còn $26,4 \pm 0,89$ ngày.
3. Mật độ sâu đo xanh hai sừng tại xã Hiển Ninh (Sóc Sơn) đạt đỉnh cao nhất vào thời điểm nào và tương ứng với giai đoạn sinh trưởng nào của cây vải?
Mật độ sâu đo xanh hai sừng đạt đỉnh cao nhất vào ngày 18/03/2015 với mật độ trung bình $12,0$ con/cây (trong nền nhiệt độ $26^\circ\text{C}$, độ ẩm $88%$). Thời điểm này tương ứng với giai đoạn cây vải thiều phát triển lộc non mạnh và đang ra hoa rộ, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho sâu non.
4. Khóa luận đã ghi nhận bao nhiêu loài sâu hại và thiên địch trên cây vải tại địa bàn nghiên cứu?
Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 22 loài sâu hại thuộc 7 họ, 4 bộ côn trùng (trong đó bộ Cánh vảy chiếm tỷ lệ lớn nhất với 15 loài, tương đương $68,18%$) và 14 loài thiên địch thuộc 7 họ, 6 bộ côn trùng (trong đó bộ Cánh cứng chiếm ưu thế với 5 loài, tương đương $35,8%$).
5. Nhịp điệu đẻ trứng của trưởng thành sâu đo xanh hai sừng diễn ra như thế nào sau khi vũ hóa?
Bướm trưởng thành vũ hóa vào chập tối và có khả năng giao phối ngay trong đêm. Bướm cái bắt đầu đẻ trứng rải rác trên mép và gân lá non từ đêm thứ hai sau khi giao phối. Thời gian đẻ kéo dài trung bình từ $2,73$ đến $3,42$ ngày, trong đó số lượng trứng đẻ tập trung cao nhất vào ngày thứ hai (đạt từ $25,07$ đến $33,34$ quả/con/ngày).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phạm Thị Huệ đã hoàn thành việc điều tra thực địa và khảo sát thực nghiệm hệ côn trùng trên cây vải thiều tại xã Hiển Ninh, Sóc Sơn trong vụ xuân hè 2015, xác định được 22 loài sâu hại và 14 loài thiên địch. Nghiên cứu đã làm rõ toàn bộ đặc điểm hình thái qua 4 pha phát dục và sự biến thiên chu kỳ vòng đời của loài sâu đo xanh hai sừng (Thalassodes quadraria) từ 26,4 đến 34,89 ngày phụ thuộc vào điều kiện nhiệt ẩm. Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận đóng vai trò là cơ sở khoa học tin cậy để địa phương định hướng ứng dụng các biện pháp sinh học, hạn chế lạm dụng thuốc hóa học và xây dựng quy trình quản lý dịch hại tổng hợp bền vững cho vùng chuyên canh vải thiều.