Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với môi trường sinh thái và sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được tác giả trích dẫn, tổng diện tích rừng cả nước đạt khoảng 13.643 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 10.365 ha và rừng trồng thông chiếm khoảng 2.000 ha. Mặc dù diện tích rừng thông đóng vai trò lớn trong các dự án trồng rừng và cung cấp nguồn lâm sản, tình hình dịch sâu hại tấn công các lâm phần thông đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương như Lạng Sơn, Vĩnh Phúc và Nghệ An. Số liệu thống kê từ các cơ quan chức năng cho thấy trên 2.500 ha rừng bị sâu hại tàn phá, riêng tại các khu vực trồng rừng thuộc các ban quản lý rừng tại Nghệ An có khoảng 400 ha bị thiệt hại nghiêm trọng.

Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An hiện đang quản lý 532,10 ha rừng thông thuần loài (thuộc các cấp tuổi từ 6 đến 8 theo số liệu tóm tắt và 26 đến 31 tuổi theo các ô tiêu chuẩn đo đếm). Nguồn lợi chủ yếu của đơn vị đến từ khai thác nhựa thông với diện tích khai thác bình quân từ 700 đến 900 ha/năm, sản lượng đạt khoảng 170 tấn/năm. Tuy nhiên, các diện tích rừng trồng thông này đang đối mặt với nguy cơ xâm hại lớn từ côn trùng gây hại, trong khi từ trước đến nay tại đơn vị chưa từng có công trình nghiên cứu hệ thống nào về thành phần và biện pháp phòng trừ sâu hại thông. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và đề xuất một số biện pháp phòng trừ sâu hại thông tại Ban quản lý rừng đặc dụng huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu bảo vệ rừng cụ thể tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ:

  1. Mục tiêu chung: Góp phần hạn chế sâu hại, nâng cao sản lượng và chất lượng gỗ để phát triển kinh tế địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được thành phần loài và đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài sâu hại chủ yếu đối với cây thông.
    • Thử nghiệm và đề xuất các biện pháp phòng trừ thích hợp đối với loài sâu hại chính trên đối tượng nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nội dung trọng tâm:

  1. Xác định thành phần loài sâu hại thông và phân tích rút ra loài sâu hại chính.
  2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của loài sâu hại chính.
  3. Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ đối với loài sâu hại chính.
  4. Đề xuất hệ thống các biện pháp phòng trừ sâu hại thông tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là các loài sâu hại thông hiện diện trên diện tích rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Phạm vi không gian nghiên cứu bao gồm 14 tiểu khu (1010, 1011, 1012, 1014, 1015A, 1015B, 1016A, 1016B, 1017A, 1017B, 1018, 1019A, 1020) thuộc 5 xã có rừng thông trên địa bàn huyện. Thời gian thu thập số liệu và triển khai thực nghiệm diễn ra từ ngày 12/02/2017 đến ngày 12/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề bảo vệ thực vật rừng dựa trên nền tảng lý thuyết Quản lý tổng hợp dịch hại (Integrated Pest Management - IPM). Cơ sở lý luận được kế thừa từ các định nghĩa của Liên hiệp IPM Hoa Kỳ (1994), Đại học Bang North Dakota, Trần Quang Hưng (1999), cùng các nguyên lý IPM trong lâm nghiệp do Đào Xuân Trường (1995), Trần Văn Mão (1994, 1995) và quy trình phòng trừ sâu róm thông bốn túm lông trên thông đuôi ngựa của Nguyễn Thế Nhã (2009, 2010, 2011) xác lập. Nguyên lý chủ đạo là vận dụng quy luật sinh thái học để điều chỉnh quần thể sinh vật hại duy trì dưới ngưỡng gây hại kinh tế, kết hợp hài hòa các biện pháp canh tác, cơ giới, sinh học và hạn chế tối đa việc lạm dụng hóa chất nhằm duy trì cân bằng tự nhiên.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu được tác giả áp dụng theo "Giáo trình Điều tra, dự tính dự báo sâu bệnh trong lâm nghiệp" (Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão, 2001), chia thành hai giai đoạn:

  1. Phương pháp ngoại nghiệp:

    • Điều tra sơ bộ: Khảo sát tổng thể tình hình phát sinh dịch hại trên toàn bộ lâm phần để xác định vùng trọng điểm lập ô tiêu chuẩn.
    • Điều tra tỉ mỉ: Thiết lập 9 ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời có diện tích 1.000 m² (kích thước 50 m × 20 m), phân bổ tại các vị trí chân đồi, sườn đồi và đỉnh đồi thuộc hai hướng phơi Đông Nam và Tây Bắc. Độ tuổi cây thông trong các ô tiêu chuẩn dao động từ 26 đến 31 tuổi, chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) từ 16,2 đến 19,7 m, đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) từ 19,6 đến 23,1 cm, độ dốc địa hình từ 10° đến 24°.
    • Chọn mẫu điều tra: Mỗi OTC chọn 30 cây tiêu chuẩn theo phương pháp 5 điểm (4 góc và 1 điểm trung tâm). Trên mỗi cây tiêu chuẩn lá kim, tiến hành kiểm tra 6 cành tiêu chuẩn phân bố tại 3 tầng tán: 2 cành tầng dưới song song đường đồng mức (Đông - Tây), 2 cành tầng giữa vuông góc đường đồng mức (Nam - Bắc), và 2 cành tầng trên song song đường đồng mức.
    • Điều tra sâu hại lá: Trên mỗi cành chọn 6 lá (2 lá gốc, 2 lá giữa, 2 lá ngọn), phân cấp mức độ hại theo 5 cấp: Cấp 0 (không hại), Cấp I (< 25%), Cấp II (25 - 50%), Cấp III (50 - 75%), Cấp IV (> 75%).
    • Điều tra sâu hại thân quanh gốc: Ghi nhận số lượng cá thể, triệu chứng và dấu vết đục khoét thân cây.
    • Điều tra sâu dưới đất: Bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 1 m²/OTC (4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm tán cây tiêu chuẩn sát gốc), đào xới bóc tách từng lớp đất sâu 10 cm để bắt sâu non và nhộng.
    • Điều tra thiên địch: Ghi nhận đồng thời các loài ăn thịt, ký sinh xuất hiện trên cây và trong ô dạng bản.
  2. Phương pháp xử lý nội nghiệp:

    • Phân loại và giám định mẫu vật: Côn trùng cánh vảy làm mẫu khô cắm kim, phơi/sấy chống mốc; các bộ khác ngâm dung dịch cồn 90°. Giám định phân loại dưới sự hướng dẫn chuyên môn của TS. Lê Bảo Thanh.
    • Công thức tính toán thống kê sinh thái:
      • Tỷ lệ có sâu: $P% = \left(\frac{n}{N}\right) \times 100$ (với $n$ là số cây có sâu, $N$ là tổng số cây điều tra).
      • Mật độ sâu hại: $M = \frac{\sum X_i}{n}$ (với $X_i$ là số cá thể trên cây thứ $i$).
      • Sai tiêu chuẩn ($S$) và Hệ số biến động: $S% = \left(\frac{S}{M}\right) \times 100$.
      • Mức độ bị hại trung bình: $R% = \frac{\sum (n_i \times v_i)}{N \times V} \times 100$ (với $n_i$ là số lá ở cấp hại $i$, $v_i$ là trị số cấp hại $0 - 4$, $V=4$). Phân cấp: Không hại ($R < 10%$), Hại nhẹ ($10 - 25%$), Hại vừa ($25 - 50%$), Hại nặng ($50 - 75%$), Hại rất nặng ($> 75%$).
      • Kiểm định sai khác thống kê giữa các ô tiêu chuẩn và đợt điều tra bằng tiêu chuẩn kiểm định $U$: $$U = \frac{|\bar{X}_1 - \bar{X}_2|}{\sqrt{\frac{S_1^2}{n_1} + \frac{S_2^2}{n_2}}}$$ Nếu $U > 1,96$, sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu côn trùng học trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Lịch sử quốc tế ghi nhận từ tài liệu cổ năm 3000 TCN tại Syrie về dịch châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria), các mô tả phân loại ban đầu của Aristotle (384-322 TCN), công trình đặt nền móng danh pháp hai phần "Systema Naturae" của Carl von Linné (1735), các công trình nghiên cứu cấu tạo hoa và thụ phấn của Sprengel (1793). Giai đoạn thế kỷ XIX - XX ghi nhận các công trình phân loại quy mô lớn của Lamarck, Handlirich, Volka và Sonkling (1910-1940 với 240.000 loài Cánh cứng trong 31 tập), tài liệu giám định pha ấu trùng sâu hại rừng của Ilinski, các công trình của các nhà côn trùng học Nga (Potarin, Provorovski, Kozlov, Vorontsov) và giáo trình côn trùng học lâm nghiệp của Trương Chấp Trung (1959) tại Trung Quốc.
  • Tại Việt Nam, nghiên cứu côn trùng học lâm nghiệp phát triển từ công trình "Côn trùng chí Đông Dương" của đoàn Mission Pavie (1897-1904) ghi nhận 1.020 loài, các chương trình điều tra của Bộ Nông nghiệp (1961, 1965, 1967, 1968) xác định 2.962 loài thuộc 223 họ và 20 bộ, giáo trình của Phạm Ngọc Anh (1967), sách "Côn trùng rừng Việt Nam" của Thái Bang Hoa và Cao Chu Lâm (1987), nghiên cứu bọ ăn lá hồi của Trần Công Loanh (1989), cùng các phương pháp dự tính dự báo và quy trình phòng trừ sâu hại thông theo IPM của Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão (1994, 2001, 2010, 2011).

Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này cụ thể hóa các chỉ tiêu lâm sinh của khu vực nghiên cứu, chuẩn hóa các bước thao tác thực địa và quy trình thu thập mẫu vật. Tác giả trình bày chi tiết cấu trúc 9 ô tiêu chuẩn điều tra thực địa, phương pháp chọn 30 cây tiêu chuẩn/OTC theo sơ đồ 5 điểm, nguyên tắc phân chia 6 cành điều tra đại diện 3 tầng tán cây thông, bảng phân cấp tỷ lệ ăn hại lá $R%$, kỹ thuật đào hố ô dạng bản xác định sâu đất, quy trình giám định mẫu khô/ướt và hệ thống công thức xử lý dữ liệu sinh thái học.

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội

  • Điều kiện tự nhiên: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Đàn quản lý tổng diện tích 3.294,7 ha đất lâm nghiệp, trải rộng trên 14 tiểu khu. Vị trí địa lý nằm trong khoảng tọa độ 18°33'15" - 18°47'37" vĩ độ Bắc và 105°26'29" - 105°36'25" kinh độ Đông. Khí hậu mang tính chất chuyển tiếp, chịu tác động mạnh của gió phơn Tây Nam khô nóng (tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ cực đại đạt 40°C, độ ẩm giảm xuống 55 - 60%) và gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau mang mưa phùn. Nhiệt độ bình quân năm đạt 24,3°C (thời kỳ thực tập ghi nhận trung bình 21,69°C đến 26,8°C), lượng mưa trung bình 1.900 mm/năm (biến thiên từ 1.100 mm đến 2.600 mm), độ ẩm không khí bình quân 83 - 87,13%. Thổ nhưỡng gồm hai nhóm đất chính: nhóm Feralit đỏ vàng trên đá sét chiếm 77% (2.536,3 ha), tầng đất dày 20 - 80 cm, tỷ lệ kết von cao; nhóm Feralit đỏ vàng phát triển trên đá cát hoặc dăm kết chiếm 23% (758,4 ha), khả năng giữ nước kém, đá lộ đầu chiếm 50 - 70%.
  • Tình hình dân sinh - kinh tế: Huyện Nam Đàn có dân số 150.996 người (thống kê năm 2011), mật độ 546 người/km². Lao động nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (86,3%). Ban quản lý có 45 cán bộ biên chế, hợp đồng 245 công nhân khai thác nhựa thông và 124 hộ nhận khoán bảo vệ rừng. Giai đoạn 2011-2015, đơn vị thực hiện quản lý bảo vệ 2.764,50 ha rừng trồng (tương ứng 12.148,36 lượt ha) và chăm sóc 950,0 lượt ha rừng trồng non.

Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm và phân tích dữ liệu điều tra qua 4 đợt khảo sát thực tế (Đợt 1: 13-14/02/2017; Đợt 2: 06-07/03/2017; Đợt 3: 28-29/03/2017; Đợt 4: 19-20/04/2017):

  1. Thành phần loài côn trùng hại thông: Phát hiện 9 loài sâu hại thuộc 8 họ và 6 bộ côn trùng khác nhau:
STT Tên Việt Nam Tên khoa học Họ Bộ Pha gây hại Bộ phận gây hại
1 Mối đất lớn Macrotermes annadalei Silvestri Termitidae Cánh bằng (Isoptera) Trưởng thành (+) Thân
2 Sâu róm thông Dendrolimus punctatus Walker Lasiocampidae Cánh vẩy (Lepidoptera) Sâu non (-) Lá
3 Sâu đục ngọn thông Rhyacionia cristata Wals Tortricidae Cánh vẩy (Lepidoptera) Sâu non (-) Ngọn
4 Bọ hung nâu nhỏ Maladera sp. Scarabaeidae Cánh cứng (Coleoptera) Trưởng thành (+) Rễ
5 Bọ hung nâu lớn Holotrichia sauteri Mauser Scarabaeidae Cánh cứng (Coleoptera) Trưởng thành (+) Rễ
6 Châu chấu đùi vằn Melanoplus sp. Acrididae Cánh thẳng (Orthoptera) Trưởng thành (+) Lá
7 Dế mèn nâu nhỏ Gryllus testaceus Walker Gryllidae Cánh thẳng (Orthoptera) Trưởng thành (+) Rễ
8 Ong ăn lá thông Diprion pini L. Diprionidae Cánh màng (Hymenoptera) Trưởng thành (+) Lá
9 Bọ xít xanh Nezara viridula Linne Pentatomidae Cánh không đều (Hemiptera) Trưởng thành (+) Thân

Về cơ cấu phân loại, các bộ Cánh vẩy, Cánh cứng và Cánh thẳng mỗi bộ chiếm 2 loài (tỷ lệ 22,22%/bộ); các bộ Cánh bằng, Cánh màng và Cánh không đều mỗi bộ chiếm 1 loài (tỷ lệ 11,11%/bộ). Xét theo vị trí tổn thương, có 4 loài hại lá (chiếm 44,4%), 2 loài hại thân, 3 loài hại rễ và 1 loài đục phá chồi ngọn.

  1. Đánh giá rút ra loài sâu hại chính: Dựa trên tần suất xuất hiện qua 4 đợt điều tra (SLXH), mật độ trung bình (MĐTB) và tỷ lệ cây bị hại ($P_{tb}%$), tác giả đã tổng hợp và phân tích diễn biến quần thể:
STT Tên loài sâu hại Đợt 1 (con/cây) Đợt 2 (con/cây) Đợt 3 (con/cây) Đợt 4 (con/cây) MĐTB (con/cây) $P_{tb}$ (%) SLXH
1 Sâu róm thông 0,42 4,87 5,85 6,76 5,40 89,59 4/4
2 Mối đất lớn 3,42 2,84 2,47 3,03 2,94 10,28 4/4
3 Châu chấu đùi vằn 0,68 0,59 0,68 0,82 0,69 13,61 4/4
4 Ong ăn lá thông 0,33 0,57 0,65 0,94 0,62 10,97 4/4
5 Sâu đục ngọn thông 0,33 0,13 0 0 0,12 10,00 2/4
6 Bọ xít xanh 0,12 0,05 0,02 0,07 0,07 1,67 4/4
7 Bọ hung nâu nhỏ 0,04 0,03 0 0 0,02 0,42 2/4
8 Bọ hung nâu lớn 0,03 0 0 0 0,008 0,83 1/4
9 Dế mèn nâu nhỏ 0,01 0 0,01 0 0,005 0,42 2/4

Dữ liệu xác định hai loài sâu hại chính có mật độ cao và phân bố rộng nhất là Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus) ($M = 5,40$ con/cây, $P% = 89,59%$) và Mối đất lớn (Macrotermes annadalei) ($M = 2,94$ con/cây, $P% = 10,28%$).

  1. Biến động mật độ và mức độ hại theo thời gian:

    • Sâu róm thông: Mật độ tăng đều theo thời gian, từ 4,12 con/cây (đợt 1, tháng 2 với nhiệt độ 16,84°C, ẩm độ 89,6%) lên 6,76 con/cây (đợt 4, tháng 4 với nhiệt độ 30,63°C, ẩm độ 84,5%). Mức độ bị hại lá $R%$ tương ứng tăng từ 15,58% lên 20,19% (thuộc cấp hại nhẹ). Sự gia tăng này phù hợp với khoảng nhiệt độ thích hợp cho loài sinh trưởng (20 - 30°C, ẩm độ 80 - 86%).
    • Mối đất lớn: Mật độ giảm nhẹ từ đợt 1 (3,42 con/cây) xuống đợt 2 (2,84 con/cây) và đợt 3 (2,47 con/cây) do tác động cơ học khi điều tra bóc vỏ làm xáo trộn tổ, sau đó phục hồi nhẹ ở đợt 4 (3,03 con/cây) khi bước vào mùa hè (thời kỳ phân đàn từ tháng 4 đến tháng 8). Kiểm định tiêu chuẩn $U$ giữa đợt 1 và đợt 4 cho giá trị $U = 0,02 < 1,96$, chứng minh sự sai khác mật độ không có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%. Tỷ lệ hại thân $R%$ biến động nhẹ từ 0,89% lên 1,08%.
  2. Ảnh hưởng của địa hình đến mật độ sâu hại:

Yếu tố địa hình Vị trí / Hướng dốc Sâu róm thông (con/cây) Mối đất lớn (tổ/m²)
Hướng phơi Hướng Đông Nam (OTC 02) 1,03 0,09
Hướng Tây Bắc (OTC 05) 0,78 0,08
Độ cao sườn đồi Chân đồi (OTC 01) 1,25 0,08
Sườn đồi (OTC 02) 0,78 0,04
Đỉnh đồi (OTC 03) 0,35 0,01

Mật độ sâu hại ở hướng sườn Đông Nam cao hơn Tây Bắc do đón gió mang ẩm, cây thông sinh trưởng tươi tốt tạo nguồn thức ăn dồi dào. Mật độ sâu hại có xu hướng giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi do chân đồi có tầng đất dày, độ ẩm cao, thảm mục tích tụ dày hơn, tạo môi trường thuận lợi cho sâu non và mối làm tổ.

  1. Đặc điểm hình thái và tập tính của Sâu róm thông:

    • Sâu trưởng thành: Thân dài 25 - 35 mm, màu sắc biến đổi từ trắng xám, nâu vàng đến nâu sẫm; cánh trước có 4 đường vân cong màu nâu sẫm, giữa cánh có chấm trắng nhỏ, mép ngoài cánh có 8 chấm đen xếp hình số 3 đặc trưng. Râu đầu con cái hình răng lược đơn, con đực hình răng lược kép.
    • Trứng: Hình bầu dục, kích thước 1 - 1,5 mm; mới đẻ có màu xanh lơ, sau chuyển hồng nhạt và nâu sẫm khi sắp nở. Sâu cái đẻ 300 - 350 trứng thành từng hàng trên lá kim trong 2 - 3 ngày.
    • Sâu non: Trải qua 6 tuổi. Tuổi 1 dài 5 - 9 mm; tuổi 2 dài 8 - 14 mm; tuổi 3 dài 15 - 22 mm bắt đầu xuất hiện túm lông độc; tuổi 4 đến tuổi 6 dài 22 - 65 mm với nhiều lông độc quanh thân. Sâu non tuổi 1 - 2 có tập tính buông tơ nhờ gió phát tán; từ tuổi 3 ăn hại rất mạnh.
    • Nhộng: Dài 22 - 27 mm, màu nâu đen, nằm trong kén tơ dài 32 - 37 mm phủ đầy lông độc.
  2. Kết quả thử nghiệm các biện pháp phòng trừ:

    • Biện pháp vật lý cơ giới (bắt giết thủ công): Sau 30 ngày thử nghiệm, mật độ Sâu róm thông tại ô thí nghiệm giảm mạnh từ 8,56 con/cây xuống 3,14 con/cây; mật độ Mối đất lớn giảm từ 4,43 con/cây xuống 2,07 con/cây.
    • Biện pháp phối hợp vật lý cơ giới và hóa sinh trừ Mối đất lớn: Đặt mồi nhử bằng gỗ vụn chôn quanh gốc; sau 7 ngày mối bắt đầu vào ăn mồi và tập trung làm tổ; sau 15 ngày tiến hành phun thuốc diệt mối sinh hóa PMC 90; sau 4 ngày kể từ khi xử lý thuốc, toàn bộ tổ mối bị tiêu diệt hoàn toàn.
    • Biện pháp sinh học: Ghi nhận kết quả thử nghiệm thả Kiến vống (Oecophylla smaragdina) để hạn chế sâu non trên tán thông.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp: Xây dựng mạng lưới giám sát điều tra định kỳ, kết hợp bảo tồn thiên địch, áp dụng kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt, sử dụng bẫy đèn/bắt giết cơ giới, hạn chế thuốc hóa học và triển khai mô hình quản lý tổng hợp IPM.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả định lượng cụ thể:

  • Lập danh lục 9 loài côn trùng gây hại thuộc 8 họ, 6 bộ; xác định rõ 2 loài sâu hại chính tại Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Đàn là Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus, mật độ trung bình 5,40 con/cây, tỷ lệ nhiễm 89,59%) và Mối đất lớn (Macrotermes annadalei, mật độ 2,94 con/cây, tỷ lệ nhiễm 10,28%).
  • Xác định quy luật biến động mật độ sâu hại tăng theo nền nhiệt độ (từ tháng 2 đến tháng 4), đồng thời phân hóa rõ nét theo điều kiện lập địa (hướng phơi Đông Nam có mật độ cao hơn Tây Bắc; mật độ giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi: Sâu róm thông giảm từ 1,25 xuống 0,35 con/cây; Mối giảm từ 0,08 xuống 0,01 tổ/m²).
  • Khảo nghiệm thành công hiệu lực phòng trừ của phương pháp cơ giới thủ công (giảm 63,3% mật độ Sâu róm thông và 53,3% mật độ Mối đất lớn sau 30 ngày) và phương pháp hóa sinh dùng mồi nhử kết hợp thuốc PMC 90 tiêu diệt hoàn toàn tổ mối sau 4 ngày phun thuốc.
  • Đóng góp khoa học: Đây là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về khu hệ côn trùng hại thông tại Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Đàn, cung cấp số liệu thực nghiệm gốc làm luận cứ khoa học cho công tác dự báo dịch hại và xây dựng chiến lược quản lý rừng thông bền vững tại tỉnh Nghệ An.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong thời lượng ngắn (3 tháng, từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 5/2017), chỉ thực hiện được 4 đợt điều tra, chưa theo dõi được trọn vẹn 4 đến 5 thế hệ vòng đời quanh năm của Sâu róm thông và các giai đoạn phân đàn đỉnh điểm của Mối đất lớn trong mùa mưa.
  • Điều kiện thời tiết trước giai đoạn thực tập diễn biến phức tạp (rét kéo dài kèm mưa phùn) làm ức chế mật độ sâu hại tự nhiên, dẫn đến số lượng cá thể thu thập được của một số loài (như Bọ hung, Dế mèn, Bọ xít) còn thấp.
  • Khóa luận chưa đi sâu nghiên cứu định lượng cấu trúc thành phần, tỷ lệ ký sinh và khả năng triệt tiêu sâu hại của các loài thiên địch tự nhiên trong quần xã rừng thông.

Hướng mở nghiên cứu tiếp theo:

  • Cần tiếp tục theo dõi biến động số lượng sâu hại trong chu kỳ nhiều năm và đủ các mùa trong năm để hoàn thiện biểu đồ sinh học của Sâu róm thông và Mối đất lớn.
  • Mở rộng quy mô thử nghiệm các chế phẩm sinh học, bẫy bả feromon và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình IPM trên diện tích rừng thông sản xuất tập trung.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Kỹ sư lâm nghiệp và cán bộ kỹ thuật tại các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ trong công tác nhận diện dịch hại và xây dựng lịch dự tính dự báo sâu bệnh hại rừng thông.
  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo vệ thực vật làm tài liệu tham khảo về phương pháp điều tra sâu bệnh hại lá kim theo ô tiêu chuẩn, kỹ thuật đánh giá cấp hại $R%$, và kỹ thuật diệt trừ mối gốc thông bằng mồi nhử kết hợp thuốc PMC 90.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận xác định những loài côn trùng nào là sâu hại chính trên cây thông tại Ban quản lý rừng Nam Đàn?
Dựa trên số lần xuất hiện (4/4 đợt), mật độ cá thể và phạm vi phân bố, tác giả xác định 2 loài sâu hại chính là Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) thuộc bộ Cánh vẩy với mật độ trung bình 5,40 con/cây, tỷ lệ nhiễm 89,59% và Mối đất lớn (Macrotermes annadalei Silvestri) thuộc bộ Cánh bằng với mật độ 2,94 con/cây, tỷ lệ nhiễm 10,28%.

2. Mật độ của Sâu róm thông biến động như thế nào theo thời gian khảo sát?
Mật độ Sâu róm thông tăng dần theo thời gian qua 4 đợt điều tra: đợt 1 đạt 4,12 con/cây ($R% = 15,58%$), đợt 2 đạt 4,87 con/cây ($R% = 17,08%$), đợt 3 đạt 5,85 con/cây ($R% = 18,56%$) và đợt 4 đạt 6,76 con/cây ($R% = 20,19%$). Nguyên nhân do thời tiết chuyển dần từ mùa lạnh sang mùa hè ấm áp (nhiệt độ tăng từ 16,84°C lên 30,63°C), tiệm cận khoảng nhiệt độ tối ưu (20 - 30°C) cho sâu róm phát triển.

3. Yếu tố địa hình (hướng dốc và độ cao) ảnh hưởng ra sao đến mật độ sâu hại thông?
Mật độ sâu hại ở sườn dốc hướng Đông Nam cao hơn sườn hướng Tây Bắc (Sâu róm thông: 1,03 so với 0,78 con/cây; Mối: 0,09 so với 0,08 tổ/m²) do hướng Đông Nam đón gió ẩm, cây thông sinh trưởng tốt hơn. Đồng thời, mật độ sâu róm và mối giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi (chân đồi: 1,25 con/cây và 0,08 tổ/m²; sườn đồi: 0,78 con/cây và 0,04 tổ/m²; đỉnh đồi: 0,35 con/cây và 0,01 tổ/m²) do chân đồi có tầng đất dày, độ ẩm cao và thảm mục phong phú hơn.

4. Quy trình thử nghiệm phòng trừ Mối đất lớn bằng mồi nhử kết hợp thuốc PMC 90 được thực hiện ra sao?
Tác giả bố trí mồi nhử chôn quanh gốc cây thông; sau 7 ngày mối bắt đầu tập trung ăn mồi và làm tổ; đến ngày thứ 15 tiến hành phun thuốc diệt mối sinh hóa PMC 90 vào hộp bả; sau 4 ngày kể từ khi xử lý thuốc, thuốc lây nhiễm toàn đàn và tiêu diệt hoàn toàn tổ mối.

5. Hiệu quả của biện pháp vật lý cơ giới (bắt giết) đối với hai loài sâu hại chính đạt kết quả định lượng thế nào?
Sau 30 ngày áp dụng biện pháp bắt giết cơ giới tại các ô thí nghiệm, mật độ Sâu róm thông giảm từ 8,56 con/cây xuống 3,14 con/cây, và mật độ Mối đất lớn giảm từ 4,43 con/cây xuống 2,07 con/cây.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Trọng Tài đã khảo sát và phân loại chi tiết 9 loài sâu hại thông tại Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Nam Đàn, xác định rõ Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus) và Mối đất lớn (Macrotermes annadalei) là hai loài gây hại chủ yếu. Nghiên cứu đã làm rõ quy luật biến động mật độ dịch hại chịu sự chi phối chặt chẽ của nền nhiệt độ mùa vụ và các điều kiện vi địa hình lập địa. Các kết quả khảo nghiệm phòng trừ bằng biện pháp cơ giới và mồi nhử thuốc PMC 90 mang lại hiệu lực rõ rệt, cung cấp cơ sở thực tiễn đáng tin cậy cho việc xây dựng phương án quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên rừng thông tại địa phương.