Đặt vấn đề Từ xưa ông cha ta đã có câu “Rừng vàng Biển bạc” chỉ qua câu nói đó thôi chúng ta đã thấy được rằng rừng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người cũng như sinh vật trên trái đất, nó không chỉ mang lại cho con người những lợi ích về mặt kinh tế mà còn mang lại những lợi ích về mặt môi trường, rừng còn là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe của con người, du lịch sinh thái, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên hiện nay diện tích rừng tự nhiên đang bị thu hẹp ở mức báo động cụ thể như sau: Theo số liệu thống kê thì diện tích rừng tự nhiên nước ta năm 1945 là 14,4 triệu ha, độ che phủ là 43% nhưng đến năm 2002 diện tích rừng tự nhiên đã giảm xuống chỉ còn 11,78 triệu ha, độ che phủ chỉ còn 35,8% (nguồn BNN và PTNT tính đến tháng 12 năm 2003). Nguyên nhân của sự suy giảm là do bị chiến tranh tàn phá, tình trạng gia tăng dân số, nạn du canh, du cư, khai thác rừng bừa bãi đốt nương làm rẫy, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng không hợp lý, ngoài ra hàng năm, dịch sâu bệnh hại rừng trồng đã gây nên những tổn thất lớn không những làm giảm chất lượng rừng, làm chết cây ước tính thiệt hại nhiều tỷ đồng mà còn làm suy thoái môi trường. Theo Nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ họp thứ hai ngày 5/12/1997, vấn đề sâu bệnh hại rừng là vấn đề sinh học. Rừng càng được trồng trên quy mô lớn là những điều kiện thuận lợi về thức ăn cho sâu bệnh phát sinh và phát triển, tần suất dịch sẽ cao, hậu quả khó có thể lường trước được (BNN và PTNT, 2006) [3].
n 2 Đứng trước thực trạng trên nên Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để khắc phục như: Triển khai các dự án PAM, 147, trồng mới 5 triệu ha rừng, các chương trình về lâm nghiệp khuyến khích người dân tham gia tích cực vào trồng rừng và bảo vệ rừng như: Chính sách phát triển rừng, chính sách đầu tư tín dụng trong phát triển lâm nghiệp, chính sách thuế, chính sách giao khoán cho các hộ gia đình, cá nhân. Việc trồng rừng được triển khai trên phạm vi cả nước đặc biệt là các tỉnh miền núi như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Tuyên Quang…. Với những đặc điểm về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội đặc trưng và những giá trị kinh tế rừng mang lại nên phần lớn diện tích rừng trồng của tỉnh Bắc Kạn được cho là phù hợp nhất cho việc phát triển và nhân rộng loài cây Mỡ. Tuy nhiên trong quá trình trồng rừng thuần loài đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện nhiều quần thể sâu hại nguy hiểm đặc biệt những năm trở lại đây đã xuất hiện loài sâu Ong ăn lá Mỡ làm cho cây sinh trưởng phát triển chậm và có thể bị chết gây ảnh hưởng đến mục đích kinh doanh rừng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bắc Kạn, trong số diện tích rừng Mỡ bị sâu Ong phá hoại, huyện Chợ Đồn có hơn 580ha, huyện Pác Nặm khoảng hơn 400ha, huyện Chợ Mới hơn 20ha và huyện Bạch Thông trên 10ha. Trước thực trạng đó UBND tỉnh Bắc Kạn đã ra Chỉ Thị số 10/CT - UBND vế việc tăng cường công tác phòng trừ sâu Ong hại cây Mỡ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và gần đây trên địa bàn xã Nghĩa Tá - huyện chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn cũng đã xuất hiện loài sâu Ong ăn lá Mỡ gây nên những thiệt hại to lớn cho những lâm phần rừng ở địa phương.Với vai trò là một người dân ở trong xã cũng như một sinh viên trường Đại học Nông Lâm nên tôi muốn đóng góp một phần công sức bé nhỏ của bản thân để giải quyết phần nào những vấn đề nêu trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mức độ hại và đề xuất biện pháp phòng trừ sâu Ong ăn lá Mỡ (Shizocera sp ) tại rừng trồng xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được mức độ sâu gây hại của sâu Ong ăn lá Mỡ tại rừng trồng xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. - Tìm hiểu được một số đặc điểm phát sinh phát triển của loại sâu Ong hại Mỡ trong khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất ra được một số biện pháp phòng trừ các sâu hại trong rừng trồng Mỡ tại xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Trong học tập và nghiên cứu - Giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức đã được học trong nhà trường. - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Có điều kiện tiếp cận với thực tế, củng cố thêm những kỹ năng để sau khi ra trường có thể vận dụng trong công việc đạt hiệu quả cao.
- Nắm vững phương pháp điều tra đánh giá mức độ gây hại của sâu ăn lá đối với rừng trồng. - Đề tài là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ Ong ăn lá Mỡ tại đại bàn nghiên cứu. - Bổ sung những dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loại sâu hại này. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật để áp dụng đối với từng địa phương.
- Rèn luyện được kỹ năng làm việc một cách tự chủ, kỹ năng tiếp cận với người dân để đạt hiệu quả công việc cao hơn. - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở góp phần xã Nghĩa Tá, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn có biện pháp ngăn chặn dịch sâu Ong đang gây hại tại các rừng Mỡ, góp phần tăng năng suất và chất lượng rừng trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường sinh thái trong khu vực. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2.
Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu và phân loại côn trùng Côn trùng phân bố rất rộng rãi trên trái đất từ xích đạo đến Nam cực, Bắc cực hay trên những hòn đảo xa xôi hẻo lánh đều thấy có côn trùng. Côn trùng phần lớn sống ở trên cạn song số loài sống ở dưới nước cũng không phải là ít. Trên đỉnh núi cao cách mặt đất 5.000 m cũng thu thập được các loài bọ xít; máy bay bay cao 4.600 m vẫn thấy có nhiều loài côn trùng. Sâu non ve sầu có thể sống ở dưới đất sâu đến 2 m, mối đào tổ sâu đến 36 m.
Trong mạch nước nóng 70 - 800C vấn thấy có côn trùng. Thậm chí trong chai nước mắm mặn như vậy vẫn có con dòi là ấu trùng của một số loài ruồi và chiếm ½ tổng số các loài sinh vật cư trú tên hành tinh chúng ta. Tuy có số lượng cá thể lớn và chủng loại khá đa dạng nhưng chỉ có 10% số loài côn trùng gây hại và số loài thường gây thành dịch không quá 1% (Phạm Ngọc Anh, 1967) [1]. Đã từ lâu có rất nhiều hệ thống phân loại thực vật được công bố.
Số lương bộ, họ của mỗi hệ thống khác nhau tùy theo đặc điểm mà tác giả dùng để phân loại. Giáo sư Ma - Tư - Nốp (1924 - 1938) dựa vào số lượng và cấu tạo phương thức đặt cánh trong tiền hóa của côn trùng đã chia ra làm 33 bộ và hai lớp phụ (lớp phụ có cánh và lớp phụ không cánh). Ngoài ra còn kết hợp với các đặc điểm sau: - Mức độ phân hóa về thân thể chia thành 3 bộ phận: Đầu, ngực, bụng. - Số lượng cánh, phân bố mạch cánh và độ rắn của cánh.
- Sự cấu tạo của bô phận miệng và các kiểu biên thái của côn trùng. Với việc kết hợp các phương pháp so sánh từ đó có thể xếp các loài côn trùng vào các bộ khác nhau. Trong đó các bộ côn trùng liên quan đến rừng gồm: n 5 Kiểu biến thái hoàn toàn Là kiểu biến thái mà sâu non nở ra từ trứng có hình thái và sinh hoạt khác hẳn với sâu trưởng thành. Thường thấy ở côn trùng thuộc các bộ: Bộ cánh vảy, bộ cánh cứng, bộ cánh màng, bộ hai cánh.
Kiểu biến thái không hoàn toàn Lá kiểu biến thái mà sâu non vừa nở ra từ trứng có hình thái và sinh hoạt gần giống sâu trưởng thành chỉ khác sâu trưởng thành số đốt râu đầu có thể ít hơn, chưa có cánh, và bộ phận sinh dục đực chưa phát triển. Thường thấy ở các loài côn trùng thuộc các bộ: Bộ cánh thẳng, bộ cánh không đều, bộ cánh đều, bộ cánh bằng. Trong sản xuất lâm nghiệp thường gặp rất nhiều loại sâu hại chúng rất đa dạng và phương thức phá hoại của chúng cũng rất khác nhau nhiều loại côn trùng là có lợi như ăn thịt hay kí sinh trên các loại sâu hại nhưng cũng có một số đáng kể thường xuyên gây ra tác hại lớn cho cho sản xuất nông lâm nghiệp và con người. Theo thống kê của tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hiệp Quốc, hàng năm nông nghiệp của thế giới bị thất thu do sâu bệnh và cỏ dại lên đến 30 triệu tấn ngũ cốc số lượng lương thực đó đủ nuôi sống 150 triệu người (Đặng Kim Tuyến và cs, 2008) [18].
Đặc biệt trong những năm gần đây đã xuất hiện một loài sâu hại có thể gây thành dịch trên diện rộng đó loài sâu Ong ăn lá Mỡ loài sâu này đã tàn phá rất nhiều diện tích rừng trồng Mỡ. Chính vì vậy nên hiện các nhà sinh học đang rất quan tâm về loài sâu này để đưa ra biện pháp nhằm làm giảm những tổn thất do sâu hại gây ra. Qua các nghiên cứu các nhà sinh học đã đưa ra một số kết luận sau: - Tên thường gọi: Là sâu Ong ăn lá Mỡ - Tên khoa học: Shizocera sp thuộc họ Ong ăn lá (Argidae), bộ cánh màng (Hymenoptera). n 6 Sâu hại rừng chủ yếu là các loại sâu ăn lá, hàng năm thường phát dịch ăn trụi hàng nghìn ha rừng trồng gây ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của rừng (Trần Công Loanh và cs, 1997) [12].