CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 1. Điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội hình thành con người trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Đầu thế kỉ XX, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế và chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc, đời sống của các giai cấp, tầng lớp nhân dân Việt Nam đều vô cùng cực khổ. Giai cấp nông dân và giai cấp vô sản là hai bộ phận đông đảo nhất trong xã hội, cũng là hai đối tượng chủ yếu của chính sách bóc lột vơ vét của tư bản Pháp ở thuộc địa nên họ bị bần cùng hóa và bị đe dọa trực tiếp bởi nạn chết đói, thất nghiệp.
Có tới một phần ba số công nhân rơi vào tình trạng thất nghiệp. Chỉ tính riêng ở miền Bắc đã có 25.000 công nhân bị sa thải, trong đó có 12.000 công nhân ngành mỏ. Những công nhân có việc làm đều bị giảm lương từ 30% đến 50%. Một nhà báo nữ người Pháp là Viôlít (Andree Viollis) đã viết trong một dịp sang Đông Dương: “Lương công nhân không bao giờ vượt quá từ 2 đến 2,5 phơrăng mỗi ngày (tức là 20 - 25 xu/ ngày).
Trong các xưởng dệt, ngày làm việc từ 7 giờ sáng đến 9 giờ tối. Đàn ông lương từ 1,75 phơrăng đến 2 phơrăng, đàn bà từ 1,25 phơrăng đến 1,5 phơrăng, trẻ em từ 8 đến 10 tuổi được lĩnh 0,75 phơrăng…công nhân phải làm việc từ 15 đến 16 giờ mỗi ngày, và được trả từ 1,2 đến 2,2 phơrăng mỗi ngày”. Nông dân cũng bị bần cùng hóa, phải chịu sưu cao, thuế nặng và là nạn nhân của nạn cho vay nặng lãi. Giá sưu thuế ngày một tăng, một suất sưu năm 1929 bằng giá 50 kg gạo, đến năm 1932 là 100 kg gạo và đến năm 1933 là 300 kg gạo.
Theo điều tra của Phòng canh nông Bắc Kì trong tháng 5 – 1934, đời sống của nông dân ở các tỉnh Bắc Giang, Hà Đông, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình rất thấp. Mức thu nhập là 12 xu cho 6 người trong một ngày. Vì đói khổ, người nông dân phải vay của địa chủ với bất cứ tỉ lệ lãi nào để sống qua ngày c 16 và sau đó phải bán mọi thứ tài sản nghèo nàn của mình, thậm chí phải bán cả con để nộp sưu thuế và trả nợ. Gourou) trong tác phẩm “Nông dân Bắc Kì” đã viết: “Người ta có thể cầm chắc là nông dân sống ở mức cùng cực của đói kèm và nghèo khổ” [18; tr.
Các tầng lớp lao động khác như tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức cũng sống điêu đứng. Địa chủ nhỏ cũng bị sa sút. Một số tư sản dân tộc bị phá sản, vỡ nợ. Cùng với những biển đổi lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa Việt Nam thời kì này cũng có nhiều thay đổi do sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương Tây.
Các giá trị văn hóa Tây phương du nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỉ XX, dẫn đến những chuyển biến lớn trong đời sống của nhân dân, trước hết ở nhận thức. Sự phát triển của ý thức về cái tôi cá nhân, tự do cá nhân là một điểm mới trong nhận thức của người Việt Nam. Nếu như ở thời kì trung đại, dưới tác động, ảnh hưởng của Nho giáo, quan hệ họ hàng, gia tộc, quốc gia được đề cao, cái tôi cá nhân bị lu mờ thì bước sang thế kỉ XX, quan hệ họ hàng gia tộc lại mờ nhạt trước cái tôi cá nhân. Từ chỗ bị chìm trong cái Ta, cái Tôi đã trở thành những cá thể độc lập, là bản vị của xã hội, có nghĩa vụ và lợi ích độc lập.
Đặc biệt, đến đầu thế kỉ XX, vấn đề “nữ quyền” đã được nhiều người quan tâm và cổ vũ. Nếu như ở thời kì trung đại, người phụ nữ bị đối xử bất công, không được đi học, không được thể hiện cái tôi, không được tham gia các hoạt động xã hội, chính trị quốc gia đại sự… thì đến đầu thế kỉ XX, những người phụ nữ, nhất là ở thành thị, đã nhận thức được giá trị bản thân, đấu tranh đòi nữ quyền, chống lại những tập tục lạc hậu, luân lý Nho giáo lỗi thời, lên tiếng đòi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho giới mình. Phụ nữ cũng được đi học, cũng làm các công việc như nam giới như công nhân, viên chức, công chức, buôn bán, kinh doanh…, khẳng định mình trong tình yêu và hôn nhân, mạnh dạn trong giao tiếp xã hội, tiếp cận các mẫu trang phục hiện đại, Âu hóa… Cùng với những thay đổi trong nhận thức về cái tôi cá nhân, cách nhìn nhận phong tục tập quán của con người đầu thế kỉ XX đã khác trước. Một mặt c 17 tôn vinh bản sắc tinh tế riêng biệt của văn hóa dân tộc qua các lễ hội, sinh hoạt gia đình, tình nghĩa làng xóm, đạo thầy trò, nghĩa cha con, vợ chồng, để cao tình nghĩa thủy chung, nhân hậu.
Mặt khác đã phê phán nhẹ nhàng các hủ tục lạc hậu, xuất hiện những hành vi ứng xử mới trong phong tục như: thay đổi cách đặt tên cho con, dùng tên của những loài hoa đẹp hoặc ước vọng của cha mẹ để đặt tên cho con chứ không phải chỉ là “thằng cu”, “con hĩn” nữa; đem hoa ra viếng mộ người đã khuất; ở thành thị thì đơn giản hóa ngày Tết. Trong hôn nhân, con cái được quyền tự do yêu đương chứ không còn “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, cũng không nhất thiết phải môn đăng hộ đối, không phân biệt giàu nghèo, không có hiện tượng cưỡng ép duyên con nặng nề như trước. Nhận thức về nghề nghiệp của người Việt cũng khác xưa. Nếu xưa kia người Việt say mê bia đá, bảng vàng, chăm lo dùi mài kinh sử nên coi thường công nghệ thì đến đầu thế kỉ XX, giới sĩ phu đã viết “văn minh tân học sách”, phê phán thái độ coi rẻ công thương, nhận thấy buôn bán giữ một vị trí quan trọng đối với một quốc gia.
Cũng từ đó, hàng quán, cơ sở kinh doanh buôn bán mọc lên nhiều và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhất là ở các đô thị. Kéo theo đó là sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân, những người buôn bán nhỏ, những người làm thuê cho các cửa hàng, cơ sở kinh doanh. Họ là một bộ phận của tầng lớp thị dân mới với những nhu cầu mới về văn hóa. Nói tới những bước chuyển của văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX không thể không nói tới sự xuất hiện và ngày càng phổ biến của chữ quốc ngữ.
Từ chỗ chỉ là một phương tiện truyền đạo của một số nhà truyền giáo phương Tây tại Việt Nam ở thế kỉ XVII, đến đầu thế kỉ XX chữ quốc ngữ đã trở thành ngôn ngữ phổ biến, một thứ ngôn ngữ phổ thông thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm vốn giữ vị trí độc tôn từ hàng ngàn năm trước. Chữ quốc ngữ diễn tả được tâm tư tình cảm, suy nghĩ, tư tưởng của người Việt. Các nhà văn đã sử dụng chữ quốc ngữ để sáng tác văn học, dịch các tác phẩm văn học nghệ thuật, các công trình nghiên cứu nước ngoài. Đồng thời, một số chữ nước ngoài cũng được du c 18 nhập để làm phong phú thêm vốn ngôn ngữ dân tộc, diễn tả những khái niệm mới của thời đại.
Cùng với sự phát triển của chữ quốc ngữ, thể loại báo chí, dịch thuật đã ra đời và phát triển. Các tờ báo Tiếng Việt như Nam Phong (1919), Thực nghiệp dân báo (1920), Nam Kỳ kinh tế (1920), Thanh niên (1925), Tiếng dân (1927), Phụ nữ tân văn (1929), Tiểu thuyết thứ bảy (1934), Phong Hóa (1932), Ngày nay (1936)… lần lượt ra đời với hàng loạt bài viết phản ánh đời sống tư tưởng, tình cảm, nếp suy nghĩ mới của con người Việt Nam. Phóng sự là một trong những thể loại báo chí ra đời sau nhưng phát triển mạnh mẽ, đã phản ánh chân thực muôn mặt đời thường, từ kinh tế, chính trị đến xã hội, văn hóa của con người Việt Nam. Các cây bút phóng sự như Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang, Ngô Tất Tố, Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Đình Lạp… với bút lực dồi dào và tinh thần nhập cuộc đã “lăn lộn” với đời để đưa lên trang báo những bài phóng sự phản ánh chân thực, sâu sắc đời sống của các tầng lớp nhân dân cùng rất nhiều những góc khuất mà không phải ai cũng dễ dàng nhận thấy được.
Như vậy, từ đầu thế kỉ XX, đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Phong trào Âu hóa diễn ra mạnh mẽ nhất ở các đô thị, nơi không bị níu giữ bởi văn hóa làng xã. Thị dân sống ở thành thị không phụ thuộc vào lề thói văn hóa cũ, ít bị ảnh hưởng bởi văn hóa làng xã, tách dần với nếp suy nghĩ, nếp cảm của người nông dân, dễ thích nghi với những biến chuyển mới của xã hội. Thị dân đã chấp nhận một lối sống văn hóa mới.
Họ chọn cách sinh hoạt của người phương Tây như mặc đồ Tây, ở nhà Tây, thích đi ô tô, xe điện, chụp ảnh, xem phim, đọc sách báo, nhảy đầm… Thị dân tìm đến với văn hóa phương Tây để thỏa mãn những nhu cầu của mình, thực hiện lối sống mới – tự do, phóng khoáng, đề cao cái tôi cá nhân. Văn hóa phương Tây có nhiều mặt tích cực, song cũng có những mặt trái của nó. Ở xã hội mới này, sức mạnh của đồng tiền quá lớn. Vì tiền mà người ta c 19 sẵn sàng chà đạp lên những phẩm chất đạo đức, luân lý và nhân phẩm con người, ảnh hưởng tiêu cực đến các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của Việt Nam.
Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, ở thành thị, không khó để bắt gặp những cảnh tượng con khinh bố, vợ chửi chồng, thanh niên ăn chơi trụy lạc, cờ bạc, lừa lọc, phụ nữ làm mãi dâm, làm vợ Tây để kiếm tiền. Thân xác người phụ nữ đôi khi trở thành thứ đồ chơi để thỏa mãn thú vui dâm dật của nhóm người nhiều tiền, lắm của, háo sắc. Trong giới thượng lưu thành thị, do chịu ảnh hưởng của lối sống buông thả, phóng túng thái quá trong hôn nhân, gia đình của phương Tây nên đã có không ít trường hợp cha không ra cha, con không ra con, vợ ngoại tình, chồng ngoại tình… Con người là sản phẩm của hoàn cảnh và chịu tác động của hoàn cảnh.