Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT.1 TRÊN THẾ GIỚI.1 Quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô. Đất có vai trò rất lớn đối với sản xuất Nông – Lâm nghiệp nói riêng và đối với các ngành kinh tế khác nói chung. Khoa học về đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất, đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả.
Ngày nay với tốc độ tăng dân số cao con người đã lạm dụng quá mức giới hạn vốn có của đất đai. Đầu thế kỷ 16 dân số thế giới vào khoảng 500 triệu người, nhưng đến nay con số đó đã tăng lên hơn 6 tỷ người. Theo báo cáo về phát triển thế giới dự đoán dân số thế giới sẽ tăng lên khoảng 8,3 tỷ người vào năm 2025, Với tốc độ tăng dân số như trên thì không tránh khỏi tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, nhất là tài nguyên đất ngày càng bị thu hẹp và bị suy thoái nhanh chóng. Theo tài liệu của FAO thì thế giới đang sử dụng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn 4,1 tỷ ha, mỗi năm diện tích rừng bị thu hẹp 11 triệu ha.
Riêng ở châu Á Thái bình dương vào những năm 1976 – 1980 mất 9 triệu ha rừng. Cũng trong thời gian này, châu Phi mất 37 triệu ha rừng, châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng. Trong khi đó diện tích trồng rừng hàng năm chỉ bằng 1/10 diện tích rừng mất đi. Nguyên nhân là do nạn phá rừng diễn ra tràn lan với tốc độ lớn, cho nên hiện nay có tới 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hoá.
Do xói mòn hàng năm trên thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất, với lượng đất mất đi như vậy người ta ước tính có thể sản xuất ra 50 triệu tấn lương thực. Tài nguyên nước cũng bị ảnh hưởng lớn, hàng nghìn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn kiệt dần, nước ngọt trở nên khan hiếm. Tuổi thọ của nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới bị rút ngắn. Hàng năm thiệt hại do lũ lụt n 10 hạn hán vẫn sảy ra nghiêm trọng trên thế giới và gây nhiều tổn thất to lớn cho nền kinh tế toàn cầu.
Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trải qua một quá trình khai thác, bóc lột lâu dài tài nguyên thiên nhiên mà không hề nghĩ đến phục hồi và bảo vệ nó. Con người chỉ biết làm sao đem lại lợi nhuận cao về kinh tế trên mảnh đất mình sử dụng, chính vì lẽ đó mà thiên nhiên đã quay lưng lại với xã hội loài người, thiên tai hạn hán sảy ra thường xuyên, mặt đất nóng lên và lạnh đi một cách thất thường, tầng ôzôn bị phá huỷ, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên băng giá hai cực tan ra, nước biển dâng cao nhấn chìm những vùng đất ven biển. Hiện nay trên thế giới các nước đang phát triển, đặc biệt ở châu Á đều có một thực trạng giống nhau đó là nạn du canh du cư đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, dân số tăng nhanh, nhiều vùng miền núi và nông thôn chưa tự cung tự cấp được lương thực thực phẩm, năng suất cây trồng vật nuôi lại thấp, tác động của nhà nước làm thay đổi về mặt kinh tế văn hoá xã hội còn ít.
người dân nghèo khổ không còn cách nào khác là phá rừng lấy đất canh tác, khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, dẫn đến tình trạng mất rừng làm suy thoái tài nguyên đất. Những hình ảnh đó phần nào đã làm cho con người thức tỉnh hơn, chính vì thế mà những năm gần đây con người đã biết sử dụng đất bền vững, hợp lý hơn, những mô hình sử dụng đất có tính chất bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi đất ngày càng được áp dụng rộng rãi. Tại các nước phát triển đã có rất nhiều các công trình quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhất là về đất, như Đức, Thuỵ Điển, Canada… thì công tác quy hoạch sử dụng đất đã có lịch sử từ hàng trăm năm. Những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất, phân tích mối quan hệ giữa cây trồng với từng loại đất, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ lập địa được coi là cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai có hiệu quả hơn.
n 11 Bang Wiscosin (Mỹ) đã có đạo luật sử dụng đất vào năm 1929, và xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin. Kế hoạch này xác định diện tích cho sử dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và nghỉ ngơi giải trí[34] Năm 1946, Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “ Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây là tài liệu đầu tiên đề cập đến việc đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất.[32] Năm 1967, nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất đã được hội đồng nông nghiệp châu Âu phối hợp với PAO tổ chức.[36] Năm 1988 Dent và các tác giả khác đã nghiên cứu về quy trình quy hoạch. Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp và mối quan hệ giữa các cấp khác nhau: Kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn) ông còn đề xuất trình tự quy hoạch (gồm 4 giai đoạn và 10 bước ).2 Quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia.
Từ cuối thập niên 70 thế kỷ 20, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố kết quả. Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), nông thôn tham gia đánh giá (PRA). Những thử nghiệm phương pháp PRA vào thập kỷ 80 và lập kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30 nước phát triển (Chambers 1994)[30], đã cho thấy ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch. Phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất được nghiên cứu rộng rãi.
Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Wibrig đề cập đến một cách khá đầy đủ và toàn diện. Một trong những thành công cần được đề cập đến là các nhà khoa học của Trung tâm phát triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao Philippiness tổng hợp, hoàn thành và phát triển từ những năm 1970 đến nay. Đó là mô hình kỹ thuật canh tác trên đất dốc SALT. Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện đến n 12 năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc và được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đó là các mô hình SALT1, SALT2, SALT3, và SALT4.
Ở Inđônêxia từ năm 1972, việc chọn đất để trồng cây lâm nghiệp đều do công ty lâm nghiệp nhà nước tổ chức. Nông dân được cán bộ công ty hướng dẫn kỹ thuật trồng sau hai năm người dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp họ toàn quyền sử dụng. Ngoài ra ở đây còn có mô hình lâm nghiệp “Ladang” rất được chú ý [29].1 Quy hoạch sử dụng đất. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu vực dân cư.
Xây dựng cơ sở kinh tế - văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng (luật đất đai năm 1993)[11]. Cho nên đất đai chính là một tư liệu sản xuất không có gì thay thế được. Chính vì lẽ đó mà nước ta từ thời Pháp thuộc các nhà khoa học Pháp đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quy mô rộng lớn. Ở Việt nam các vấn đề nghiên cứu đất đai, quy hoạch đất đã được bắt đầu từ những năm 1930 [18], và dần dần được hoàn thiện theo đơn vị thời gian.
Năm 1955 – 1975 công tác điều tra phân loại đất được tổng hợp một cách có hệ thống trên phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng đến sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản. Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình Sâm, 1994). Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất.
Trong công trình “Sử dụng đất tổng hợp bền vững” của Nguyễn Xuân Quát [19] đã nêu ra những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng đất đai n 13 cũng như các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam. Công tác nghiên cứu về hiện trạng sử dụng đất gắn liền với hệ thống canh tác ở nước ta đã được đẩy mạnh từ những năm 1995. Đáng chú ý là 3 lần kiểm kê quý đất của tổng cục địa chính vào những năm 1978, 1985 và 1995 trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất để đề xuất chiến lược sử dụng đất đai trong phạm vi toàn quốc và các ngành có liên quan. Quan điểm hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập một cách toàn diện và đầy đủ nhất là chương trình tập huấn của PAO.
Trong đó những vấn đề sau được đề cập khá chi tiết trong bản hướng dẫn: Lược sử về sử dụng đất, khái niệm về hệ thống sử dụng đất, những đặc điểm của hệ thống sử dụng đất, đánh giá hệ thống sử dụng đất, một số hệ thống sử dụng đất và cách tiếp cận. Nghiên cứu hệ canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi đất nước thống nhất. Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành Lâm nghiệp đã phân chia đất đai toàn quốc thành các vùng sinh thái: Trung du và miền núi Bắc bộ, Đồng bằng sông hồng, Bắc trung bộ, Nam trung bộ, Tây nguyên, Đông nam bộ và Đồng bằng sông cửu long.