phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Nội dung cơ bản về chi ngân sách nhà nƣớc và cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trang cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 Chƣơng 3: Giải pháp đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam giai đoạn 2021-2025 6. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong thời gian, đã có nhiều bài nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hƣớng khác nhau về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực chi NSNN và những tác động của chi NSNN đến các lĩnh vực kinh tế xã hội dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ Luận án tiến sỹ, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, các bài báo, cụ thể: (1) Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giải Nguyễn Khắc Đức năm 2002 đề tài: “Đổi mới cơ cấu chi NSNN trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”: (i) Những kết quả của Luận án: Luận án đã đƣa ra những vấn đề lý luận về NSNN, cơ cấu chi NSNN, các nhân tố ảnh hƣởng tới cơ cấu chi NSNN và một số mô hình cơ cấu chi NSNN. Từ đó, tác giả sử dụng số liệu để phân tích thực trạng cơ cấu chi NSNN của Việt Nam trong hai giai đoạn: giai đoạn trƣớc khi có Luật NSNN (1989-1995) và giai đoạn sau khi có Luật NSNN (1996-2000). Căn cứ vào thực trạng cơ cấu chi NSNN, tác giả đƣa ra quan điểm đổi mới cơ cấu chi NSNN gắn với thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc cũng nhƣ đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới cho giai đoạn 2001-2010.
(ii) Những giới hạn của Luận án: Luận án đƣợc thực hiện năm 2002 do đó, hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 1989-2000, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ 4 sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015. (2) Luận án Tiến sỹ của tác giả Bùi Đƣờng Nghiêu năm 2003 đề tài “Đổi mới cơ cấu chi NSNN góp phần thực hiện CNH-HĐH ở Việt Nam” (i) Những kết quả của Luận án: Luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận chung về NSNN, vai trò của NSNN, cơ cấu chi NSNN trong đó có đƣa ra cơ sở xác định cơ cấu định tính và cơ cấu định lƣợng của chi NSNN, các nhân tố ảnh hƣởng đến cơ cấu đó; đồng thời, phân tích vai trò của chi NSNN đối với việc CNH-HĐH ở Việt Nam. Trên góc độ thực tiễn, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng chi NSNN, cơ cấu chi NSNN dựa trên hệ thống số liệu và những ảnh hƣởng của chi NSNN đối với CNH-HĐH đất nƣớc. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra những quan điểm và hệ thống giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN hƣớng tới mục tiêu thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH ở nƣớc ta giai đoạn 2001-2010.
(ii) Những giới hạn của Luận án: Luận án đƣợc thực hiện năm 2003 do đó, hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 1991-2000, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015. (3) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Cơ cấu lại NSNN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo” – Vụ NSNN – Bộ Tài chính. (i) Những kết quả của Luận án: Tác giả đã đƣa ra một số lý luận chung về cơ cấu NSNN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo. Trên góc độ thực tế, tác giả đã nêu bật thực trạng cơ cấu NSNN từ năm 1991-2005 (cơ cấu thu NSNN, cơ cấu chi NSNN và kinh nghiệm quốc tế trong việc cơ cấu lại ngân sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo.
Từ đó, tác giả đề xuất mục tiêu định hƣớng và các giải pháp cơ bản để cơ cấu lại NSNN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo. (ii) Những giới hạn của Luận án: đƣợc thực hiện năm 2006 do đó, hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 1991-2005, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai 5 đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015. Nhƣ vậy, có thể khẳng định, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về cơ cấu chi NSNN ở Việt Nam cũng nhƣ các giải pháp để đổi mới cơ cấu chi NSNN nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, hệ thống số liệu mà các tác giả nghiên cứu từ năm 1991-2010, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015.
6 CHƢƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Khái niệm chi ngân sách nhà nƣớc Thuật ngữ “Ngân sách” xuất phát từ từ gốc tiếng Anh “budget” có nghĩa là túi tiền của nhà vua, túi tiền này đƣợc dùng cho các mục đích công cộng nhƣ: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đƣờng xá và chi tiêu cho hoàng gia. Khi xã hội phát triển, ngày nay khái niệm ngân sách đƣợc hiểu mở rộng hơn là tổng số thu chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Nếu chủ thể đó là doanh nghiệp thì đƣợc gọi là ngân sách của doanh nghiệp, còn nếu chủ thể đó là Chính phủ/Nhà nƣớc thì đƣợc gọi là NSNN. Có nhiều quan niệm về thuật ngữ “NSNN”: Các nhà kinh tế quan niệm: “NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Luật NSNN của Việt Nam năm 2002 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Luật NSNN của Việt Nam năm 2015 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (có cụm từ “dự toán”). Do đó, xét về mặt bên ngoài, NSNN trình bày “dự toán” các khoản thu và chi tiêu của Chính phủ trong một năm, được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Nhà nƣớc (Chính phủ) là chủ thể duy nhất có quyền quyết định việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN.
Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nƣớc tập trung một bộ phận của cải của xã hội vào quỹ tiền tệ chung của Nhà nƣớc thông qua các hoạt động thu NSNN nhƣ thuế, phí, lệ phí, gọi là các nguồn lực tài chính và thực hiện 7 phân bổ các nguồn lực nói trên để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình nhƣ: duy trì bộ máy hoạt động của chính phủ, đảm bảo an ninh quốc phòng, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo công bằng. Các hoạt động đó hình thành chi tiêu NSNN. Tuy nhiên, các nguồn lực tài chính luôn ở trạng thái khan hiếm, trong khi nhu cầu chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng nhanh thì việc tìm kiếm các cách thức phân bổ nguồn lực tài chính càng trở nên quan trọng. Do đó, xét về mặt bên trong, NSNN là phương thức hay cách thức phân bổ nguồn lực vốn khan hiếm của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Việc phân bổ nguồn lực tài chính của Nhà nƣớc bao gồm 2 quá trình: huy động tập trung nguồn lực vốn, gọi là thu NSNN và phân phối, sử dụng vốn, gọi là chi NSNN. Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung được vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi giúp bộ máy Nhà nước vận hành và thực hiện các nhiệm vụ của mình. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nƣớc; chi trả nợ của Nhà nƣớc; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Chính phủ sử dụng chi NSNN nhƣ một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế theo các mục tiêu nhất định ở các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau.
Qui mô, phạm vi chi NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ phát triển KT–XH của quốc gia trong thời kỳ đó. Đặc điểm chi Ngân sách nhà nƣớc Chi NSNN có những đặc điểm sau: (1) Nguồn hình thành chi tiêu NSNN: Xét về nội dung vật chất, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung thuộc quyền chi phối và sử dụng của Nhà nƣớc. Nguồn hình thành quỹ tiền tệ đó đƣợc tập trung từ một bộ phận nhất định các nguồn lực tài chính của toàn xã hội tập trung vào tay nhà nƣớc, hình thành quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nƣớc – quỹ NSNN. Nguồn 8 lực tài chính đƣợc sử dụng để chi tiêu NSNN có thể đƣợc lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nƣớc và ngoài nƣớc; từ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lƣu thông và phân phối, nhƣng có nét đặc trƣng nổi bật là luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh tế trong nƣớc và sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhƣ: giá cả, thu nhập, lãi suất.
Nhận thức đầy đủ đặc điểm trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn hình thành chi tiêu NSNN là nguồn thu trong nƣớc, trong đó nguồn thu cơ bản và lâu dài là lƣợng của cải mới đƣợc tạo ra trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Do đó, để tăng chi tiêu NSNN, con đƣờng chủ yếu phải là khuyến khích mở rộng sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội.