Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng: Nghiên cứu cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Khám phá luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng về cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam, phân tích và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

95
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nội dung cơ bản về chi ngân sách nhà nước và cơ cấu chi ngân sách nhà nước

Nội dung cơ bản về chi ngân sách nhà nướccơ cấu chi ngân sách nhà nước là một phần quan trọng trong nghiên cứu tài chính công. Chi ngân sách được định nghĩa là tổng số tiền mà Nhà nước chi tiêu cho các hoạt động công cộng, bao gồm cả chi cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng và các dịch vụ công khác. Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước bao gồm tính chủ thể, tính mục đích và tính hiệu quả. Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định việc sử dụng quỹ ngân sách, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Tính mục đích của chi ngân sách thể hiện qua việc chi tiêu phải gắn liền với các nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển. Cuối cùng, tính hiệu quả của chi ngân sách được đánh giá qua khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển kinh tế. Việc phân tích cơ cấu chi ngân sách giúp xác định các lĩnh vực ưu tiên và điều chỉnh chính sách tài chính cho phù hợp với thực tiễn.

1.1. Khái niệm và đặc điểm chi ngân sách nhà nước

Khái niệm về chi ngân sách nhà nước được hiểu là tổng hợp các khoản chi tiêu của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm của chi ngân sách bao gồm nguồn hình thành, tính chủ thể, tính mục đích và tính hiệu quả. Nguồn hình thành chi ngân sách chủ yếu từ thuế và các nguồn thu khác của Nhà nước. Tính chủ thể thể hiện ở việc Nhà nước là cơ quan duy nhất có quyền quyết định về chi ngân sách. Tính mục đích của chi ngân sách thể hiện qua việc chi tiêu phải phục vụ cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Cuối cùng, tính hiệu quả của chi ngân sách được đánh giá qua khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và phát triển bền vững.

II. Thực trạng cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2010 đến nay

Thực trạng cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2010 đến nay cho thấy nhiều biến động. Quy mô chi ngân sách đã tăng lên đáng kể, tuy nhiên, cơ cấu chi vẫn còn nhiều bất cập. Tỉ trọng chi thường xuyên ngày càng cao, trong khi chi đầu tư phát triển lại có xu hướng giảm. Điều này dẫn đến việc chi ngân sách không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các số liệu cho thấy, trong giai đoạn này, chi ngân sách chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực như giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Tuy nhiên, việc phân bổ ngân sách cho các lĩnh vực này vẫn chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn lực cho các dự án phát triển quan trọng. Đánh giá chung cho thấy, mặc dù có nhiều thành tựu đạt được, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục để đảm bảo cơ cấu chi ngân sách hợp lý và hiệu quả.

2.1. Đánh giá chung về cơ cấu chi ngân sách nhà nước

Đánh giá chung về cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho thấy những thành tựu và hạn chế trong việc phân bổ ngân sách. Mặc dù chi ngân sách đã có sự tăng trưởng, nhưng tỉ trọng chi đầu tư phát triển lại giảm, trong khi chi thường xuyên tăng cao. Điều này cho thấy sự mất cân đối trong cơ cấu chi ngân sách, ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bao gồm việc quản lý ngân sách chưa hiệu quả, cũng như sự gia tăng nhu cầu chi tiêu cho các lĩnh vực xã hội. Cần có các giải pháp cụ thể để điều chỉnh cơ cấu chi ngân sách, nhằm đảm bảo nguồn lực được phân bổ hợp lý và hiệu quả hơn.

III. Giải pháp đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2021 2025

Giải pháp đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2021-2025 cần tập trung vào việc điều chỉnh chính sách chi ngân sách. Cần xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên trong chi ngân sách, nhằm đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường quản lý và giám sát chi ngân sách, đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực. Đồng thời, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực phát triển bền vững, như giáo dục, y tế và công nghệ. Việc đổi mới cơ cấu chi ngân sách không chỉ giúp cải thiện hiệu quả sử dụng ngân sách mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

3.1. Các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể để đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nước bao gồm việc điều chỉnh tỉ trọng giữa chi thường xuyênchi đầu tư phát triển. Cần tăng cường chi đầu tư phát triển để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồng thời giảm bớt chi thường xuyên không cần thiết. Ngoài ra, cần có các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân vào các lĩnh vực công cộng, nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân sách cũng là một giải pháp quan trọng, giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Nội dung cơ bản về chi ngân sách nhà nƣớc và cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trang cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 Chƣơng 3: Giải pháp đổi mới cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam giai đoạn 2021-2025 6. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong thời gian, đã có nhiều bài nghiên cứu tiếp cận theo nhiều hƣớng khác nhau về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực chi NSNN và những tác động của chi NSNN đến các lĩnh vực kinh tế xã hội dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ Luận án tiến sỹ, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, các bài báo, cụ thể: (1) Luận án Tiến sỹ kinh tế của tác giải Nguyễn Khắc Đức năm 2002 đề tài: “Đổi mới cơ cấu chi NSNN trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”: (i) Những kết quả của Luận án: Luận án đã đƣa ra những vấn đề lý luận về NSNN, cơ cấu chi NSNN, các nhân tố ảnh hƣởng tới cơ cấu chi NSNN và một số mô hình cơ cấu chi NSNN. Từ đó, tác giả sử dụng số liệu để phân tích thực trạng cơ cấu chi NSNN của Việt Nam trong hai giai đoạn: giai đoạn trƣớc khi có Luật NSNN (1989-1995) và giai đoạn sau khi có Luật NSNN (1996-2000). Căn cứ vào thực trạng cơ cấu chi NSNN, tác giả đƣa ra quan điểm đổi mới cơ cấu chi NSNN gắn với thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc cũng nhƣ đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới cho giai đoạn 2001-2010.

(ii) Những giới hạn của Luận án: Luận án đƣợc thực hiện năm 2002 do đó, hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 1989-2000, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ 4 sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015. (2) Luận án Tiến sỹ của tác giả Bùi Đƣờng Nghiêu năm 2003 đề tài “Đổi mới cơ cấu chi NSNN góp phần thực hiện CNH-HĐH ở Việt Nam” (i) Những kết quả của Luận án: Luận án đã làm rõ các vấn đề lý luận chung về NSNN, vai trò của NSNN, cơ cấu chi NSNN trong đó có đƣa ra cơ sở xác định cơ cấu định tính và cơ cấu định lƣợng của chi NSNN, các nhân tố ảnh hƣởng đến cơ cấu đó; đồng thời, phân tích vai trò của chi NSNN đối với việc CNH-HĐH ở Việt Nam. Trên góc độ thực tiễn, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng chi NSNN, cơ cấu chi NSNN dựa trên hệ thống số liệu và những ảnh hƣởng của chi NSNN đối với CNH-HĐH đất nƣớc. Trên cơ sở đó, tác giả đã đƣa ra những quan điểm và hệ thống giải pháp đổi mới cơ cấu chi NSNN hƣớng tới mục tiêu thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH ở nƣớc ta giai đoạn 2001-2010.

(ii) Những giới hạn của Luận án: Luận án đƣợc thực hiện năm 2003 do đó, hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 1991-2000, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015. (3) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Cơ cấu lại NSNN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo” – Vụ NSNN – Bộ Tài chính. (i) Những kết quả của Luận án: Tác giả đã đƣa ra một số lý luận chung về cơ cấu NSNN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo. Trên góc độ thực tế, tác giả đã nêu bật thực trạng cơ cấu NSNN từ năm 1991-2005 (cơ cấu thu NSNN, cơ cấu chi NSNN và kinh nghiệm quốc tế trong việc cơ cấu lại ngân sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo.

Từ đó, tác giả đề xuất mục tiêu định hƣớng và các giải pháp cơ bản để cơ cấu lại NSNN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói, giảm nghèo. (ii) Những giới hạn của Luận án: đƣợc thực hiện năm 2006 do đó, hệ thống số liệu mà tác giả nghiên cứu từ năm 1991-2005, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai 5 đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015. Nhƣ vậy, có thể khẳng định, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về cơ cấu chi NSNN ở Việt Nam cũng nhƣ các giải pháp để đổi mới cơ cấu chi NSNN nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, hệ thống số liệu mà các tác giả nghiên cứu từ năm 1991-2010, hệ thống giải pháp đƣa ra cho giai đoạn 2001-2010 đến nay không còn phù hợp, do trong giai đoạn này các cơ sở pháp lý về tài chính công và chi tiêu NSNN nói riêng có nhiều biến động với sự ra đời của Luật NSNN năm 2002 và Luật NSNN năm 2015.

6 CHƢƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ CƠ CẤU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Khái niệm chi ngân sách nhà nƣớc Thuật ngữ “Ngân sách” xuất phát từ từ gốc tiếng Anh “budget” có nghĩa là túi tiền của nhà vua, túi tiền này đƣợc dùng cho các mục đích công cộng nhƣ: đắp đê phòng chống lũ lụt, xây dựng đƣờng xá và chi tiêu cho hoàng gia. Khi xã hội phát triển, ngày nay khái niệm ngân sách đƣợc hiểu mở rộng hơn là tổng số thu chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Nếu chủ thể đó là doanh nghiệp thì đƣợc gọi là ngân sách của doanh nghiệp, còn nếu chủ thể đó là Chính phủ/Nhà nƣớc thì đƣợc gọi là NSNN. Có nhiều quan niệm về thuật ngữ “NSNN”: Các nhà kinh tế quan niệm: “NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.

Luật NSNN của Việt Nam năm 2002 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Luật NSNN của Việt Nam năm 2015 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (có cụm từ “dự toán”). Do đó, xét về mặt bên ngoài, NSNN trình bày “dự toán” các khoản thu và chi tiêu của Chính phủ trong một năm, được thông qua bởi cơ quan lập pháp. Nhà nƣớc (Chính phủ) là chủ thể duy nhất có quyền quyết định việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN.

Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nƣớc tập trung một bộ phận của cải của xã hội vào quỹ tiền tệ chung của Nhà nƣớc thông qua các hoạt động thu NSNN nhƣ thuế, phí, lệ phí, gọi là các nguồn lực tài chính và thực hiện 7 phân bổ các nguồn lực nói trên để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình nhƣ: duy trì bộ máy hoạt động của chính phủ, đảm bảo an ninh quốc phòng, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo công bằng. Các hoạt động đó hình thành chi tiêu NSNN. Tuy nhiên, các nguồn lực tài chính luôn ở trạng thái khan hiếm, trong khi nhu cầu chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng nhanh thì việc tìm kiếm các cách thức phân bổ nguồn lực tài chính càng trở nên quan trọng. Do đó, xét về mặt bên trong, NSNN là phương thức hay cách thức phân bổ nguồn lực vốn khan hiếm của Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Việc phân bổ nguồn lực tài chính của Nhà nƣớc bao gồm 2 quá trình: huy động tập trung nguồn lực vốn, gọi là thu NSNN và phân phối, sử dụng vốn, gọi là chi NSNN. Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung được vào NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi giúp bộ máy Nhà nước vận hành và thực hiện các nhiệm vụ của mình. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nƣớc; chi trả nợ của Nhà nƣớc; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Chính phủ sử dụng chi NSNN nhƣ một công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế theo các mục tiêu nhất định ở các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau.

Qui mô, phạm vi chi NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ phát triển KT–XH của quốc gia trong thời kỳ đó. Đặc điểm chi Ngân sách nhà nƣớc Chi NSNN có những đặc điểm sau: (1) Nguồn hình thành chi tiêu NSNN: Xét về nội dung vật chất, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung thuộc quyền chi phối và sử dụng của Nhà nƣớc. Nguồn hình thành quỹ tiền tệ đó đƣợc tập trung từ một bộ phận nhất định các nguồn lực tài chính của toàn xã hội tập trung vào tay nhà nƣớc, hình thành quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nƣớc – quỹ NSNN. Nguồn 8 lực tài chính đƣợc sử dụng để chi tiêu NSNN có thể đƣợc lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong nƣớc và ngoài nƣớc; từ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lƣu thông và phân phối, nhƣng có nét đặc trƣng nổi bật là luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh tế trong nƣớc và sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhƣ: giá cả, thu nhập, lãi suất.

Nhận thức đầy đủ đặc điểm trên có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nguồn hình thành chi tiêu NSNN là nguồn thu trong nƣớc, trong đó nguồn thu cơ bản và lâu dài là lƣợng của cải mới đƣợc tạo ra trong các ngành sản xuất và dịch vụ. Do đó, để tăng chi tiêu NSNN, con đƣờng chủ yếu phải là khuyến khích mở rộng sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu cơ cấu chi ngân sách nhà nước Việt Nam trong luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức tổ chức và quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước tại Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi ngân sách, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng ngân sách. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về cơ chế tài chính của nhà nước mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc tối ưu hóa chi tiêu công.

Để mở rộng kiến thức về quản lý ngân sách nhà nước, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp xã tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nơi trình bày các giải pháp cụ thể cho quản lý ngân sách ở cấp xã. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng cũng sẽ cung cấp những phương pháp thực tiễn để cải thiện quản lý chi tiêu. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý về chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum, giúp bạn nắm bắt cách thức quản lý ngân sách trong lĩnh vực giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý ngân sách nhà nước tại Việt Nam.