ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài - Cây rau có vị trí và tầm quan trọng hết sức to lớn đối với đời sống con người. Từ thời xa xưa ông cha ta đã có câu: “ Cơm không rau như đau không thuốc”. Đã cho thấy giá trị dinh dưỡng của cây rau là rất cần thiết đối với sức khỏe của con người mà không loại thực phẩm nào có thể thay thế được. Rau xanh có tác dụng cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn uống của cơ thể con người, chúng cung cấp phần lớn các chất thiết yếu như vitamin, chất khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ,.
- Việc phát triển sản xuất rau còn có ý nghĩa cung cấp nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu làm tăng giá trị sản xuất và xuất khẩu đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tăng thu hút lao động và giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt. Do vậy, diện tích và sản lượng rau trên thế giới và Việt Nam không ngừng tăng lên. Theo Cục Chế biến, Thương mại NLTS & NM, tổng sản lượng rau cả nước năm 2012 đạt 14 triệu tấn, tăng 6% so với năm 2011.
- Hà Nội là vùng có truyền thống trồng rau. Do điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai thuận lợi đã hình thành nghề trồng rau từ lâu đời gắn liền với lịch sử xây dựng và phát triển của thủ đô qua nhiều thế kỉ và cho đến nay vẫn giữ được vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của thành phố. Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ, Hà Nội có sự đổi mới tích cực, chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm rau chất lượng cao và an toàn. Việc sản xuất rau an toàn ở Hà Nội đã đạt được những hiệu quả đáng kể với quy mô diện tích, và sản lượng tăng lên nhanh chóng.
Tuy nhiên, thực trạng sản xuất rau của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn như: đặc trưng loại rau quả chứa nhiều nước thường dễ hư hỏng chưa có phương tiện bảo quản, 1 tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu là xen canh không theo quy chuẩn nào, tiêu thụ không đồng nhất, bấp bênh. Khả năng đáp ứng của người sản xuất thường muộn hơn so với nhu cầu thực tế của khách hàng, liên kết giữa các thành viên trong chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp còn lỏng lẻo làm chi phí sản xuất cao mà giá bán sản phẩm lại thấp dẫn đến hiệu quả giá trị sản phẩm nông nghiệp nói chung là còn thấp…. - Cải bắp vốn được biết đến là một loại thực phẩm rất quen thuộc trong mùa đông, có thể chế biến được rất nhiều món ăn: ăn sống, làm gỏi, nấu canh, xào. Cải bắp chứa hơn 90% nước, 1,8% protid, 5,4% glucid, 1,6% xenluloza (chất xơ), 31mg% phốtpho, 4,8mg% canxi,1,1mg% sắt; lượng vitamin chỉ thua cà chua, gấp 4 - 5 lần cà rốt, 3 - 4 lần khoai tây, hành tây; 100g cải bắp cung cấp 50 calo.
Ngoài giá trị dinh dưỡng, bắp cải còn có khá nhiều công dụng chữa bệnh. Theo Đông y, cải bắp có vị ngọt tính mát, có tác dụng bổ dưỡng, an thần, hoạt huyết. Cải bắp được dùng trị các chứng bệnh sau: suy nhược thần kinh, thần kinh căng thẳng, hoại huyết mạn tính, mất ngủ, trầm uất, đau dây thần kinh tọa hoạt huyết, chữa kiết lỵ ra máu, nhiều giun ký sinh đường tiêu hóa, nhiễm xạ tia X, mụn nhọt, vết thương sắp lên da non, khản tiếng… Trong điều kiện sản xuất hàng hóa hiện nay, các ngành kinh tế đều hướng theo sự đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng, giảm thiểu chi phí, tăng sức cạnh tranh, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả. Để làm được điều đó thì cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phần tham gia, trong đó vai trò của chuỗi giá trị là vô cùng quan trọng.
Nhìn nhận đánh giá được chuỗi giá trị của ngành hàng rau cải bắp từ đó đưa ra một số giải pháp đề xuất nhằm hình thành hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị em tiến hành nghiên cứu đề 2 tài: “ Nghiên cứu chuỗi giá trị rau cải bắp trên trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung: Trên cơ sở đánh giá thực trạng chuỗi giá trị rau cải bắp trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm từ đó đưa ra đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi giá trị rau cải bắp trong thời kì tới.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp - Đánh giá thực trạng chuỗi giá trị sản phẩm rau cải bắp trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị sản phẩm rau cải bắp trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện mối liên kết của chuỗi giá trị rau cải trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Rau cải bắp vụ đông của các nông hộ trồng trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm. - Đối tượng tiếp cận: Các tác nhân đối với chuỗi giá trị sản phẩm cải bắp: người sản xuất (hộ nông dân), người thu gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích chuỗi giá trị rau bắp cải trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, nghiên cứu không tiếp cận các đối tượng là người cung cấp đầu vào.
Phạm vi không gian Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trên địa bàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Phạm vi thời gian Thời gian nghiên cứu là nửa năm từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 06 năm 2015. Thời gian của số liệu nghiên cứu được thu thập trong 3 năm gần nhất ( 2012, 2013, 2014). 4 PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM 2.
Chuỗi giá trị và những khái niệm liên quan Chuỗi cung ứng Theo Nguyễn Kim Anh (2006): “Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia, một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn công ty vận tải, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng của nó”. Bên trong mỗi tổ chức, chẳng hạn nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các chức năng liên quan đến việc nhận và đáp ứng nhu cầu khách hàng.Những chức năng này bao gồm phát triển sản phẩm mới, marketing, sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ ngân hàng. Trong một chuỗi cung ứng điển hình, nguyên vật liệu được mua ở một hoặc nhiều nhà cung cấp, các bộ phận được sản xuất ở một nhà máy hoặc nhiều hơn, sau đó vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian, cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng.
Chuỗi cung ứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối, các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở. Cũng có định nghĩa khác về chuỗi cung ứng như sau: “Chuỗi cung ứng là môi trường nơi dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin di chuyển từ nhà cung ứng đầu tiên tới khách hàng cuối cùng và ngược lại” (David Sharpe, 2008). Như vậy, chuỗi cung ứng là một mạng lưới phức tạp bao gồm các tác nhân liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc cung ứng sản phẩm cho khách hàng cuối cùng một cách nhanh và hiệu quả thông qua dòng sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm. 5 Chuỗi giá trị Chuỗi giá trị, cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn sách best-seller của ông có tựa đề: CompetitiveAdvantage:CreatingandSustainingSuperior Performance (Tạm dịch: Lợi thế Cạnh tranh: Tạo và duy trì có hiệu suất ở mức cao).
Khái niệm chuỗi giá trị (value chain) được Micheal Porter đưa ra lần đầu vào năm 1985, ông cho rằng công cụ quan trọng của doanh nghiệp để tạo ra giá trị lớn hơn cho khách hàng chính là chuỗi giá trị.Về thực chất, đây là một tập hợp các hoạt động nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của doanh nghiệp. Chuỗi giá trị bao gồm 9 hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị cho khách hàng, trong đó, chia ra 5 hoạt động chính (cung ứng đầu vào, quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm, marketing - bán hàng và dịch vụ) và 4 hoạt động hỗ trợ (quản trị tổng quát, quản trị nhân sự, phát triển công nghệ và hoạt động thu mua). Tiếp đó, nhà nghiên cứu Kaplins Rapheal đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị trong phân tích toàn cầu hóa: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”. Và một chuỗi giá tị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị cho chuỗi Như vậy, ta có thể giải thích định nghĩa về chuỗi giá trị: - Chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp Một chuỗi giá trị bao gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định.
Tất cả các hoạt động từ thiết kế, quá trình mang vật tư đầu vào, sản xuất, phân phối, marketing bán hàng, 6 thực hiện các dịch vụ hậu mãi đã tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Hơn nữa, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng.