Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Sơn tra (tên khoa học: Docynia indica, thường gọi là "táo mèo") thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), là loài cây gỗ bán tự nhiên bản địa phân bố tại các vùng núi cao thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Cây sinh trưởng thích hợp ở độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển, có khả năng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, rửa trôi đất dốc và tăng tỷ lệ che phủ rừng. Quả Sơn tra có giá trị kinh tế, dược liệu (hỗ trợ điều trị huyết áp, mỡ máu, tim mạch) và chế biến thực phẩm (ngâm đường, ngâm rượu, làm rượu vang, mứt, ô mai, sấy khô). Tuy nhiên, trước đây tập quán canh tác của người dân chủ yếu dựa vào phát dọn, bảo vệ và thu hái quả tự nhiên từ rừng. Nguồn giống chưa qua chọn lọc, quả không đồng đều, sâu bệnh nhiều dẫn đến chất lượng thu hoạch thấp.

Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất dốc của tỉnh Sơn La theo Thông báo số 121-TB/TU ngày 30/11/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các Nghị quyết của HĐND tỉnh (Nghị quyết số 28/2017/NQ-HĐND ngày 15/3/2017, Nghị quyết số 57/2017/NQ-HĐND ngày 21/7/2017, Nghị quyết số 76/2018/NQ-HĐND ngày 04/4/2018, Nghị quyết số 80/NQ-HĐND ngày 04/4/2018) và định hướng phát triển vùng nguyên liệu cung cấp cho Tập đoàn TH theo Thông báo số 1025-TB/TU ngày 25/5/2018, huyện Bắc Yên đã mở rộng diện tích trồng Sơn tra nhằm xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc H'Mông. Mặc dù diện tích mở rộng, hiệu quả kinh tế mang lại chưa tương xứng với tiềm năng; hiện tượng "được mùa mất giá" thường xuyên diễn ra; tiêu thụ phụ thuộc chủ yếu vào thương lái mua quả tươi; quả qua chế biến, bảo quản mới đạt khoảng 20% tổng sản lượng. Từ thực tiễn đó, học viên Lê Đức Lợi thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế nhằm phân tích chuỗi giá trị và đề xuất giải pháp phát triển bền vững ngành hàng quả Sơn tra tại địa phương.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện hoạt động của chuỗi giá trị, nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân.

Nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị nông sản;
  2. Đánh giá thực trạng hoạt động chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên;
  3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên;
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hoạt động của chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên trong thời gian tới.

Nghiên cứu tập trung giải quyết 3 câu hỏi:

  1. Những kết quả đã đạt được và những khó khăn trong hoạt động của chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên trong thời gian qua là gì?
  2. Đâu là các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động các chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên?
  3. Cần làm gì để thực hiện các giải pháp nhằm nâng cấp chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên trong thời gian tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng chuỗi giá trị và giải pháp phát triển chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La; đối tượng khảo sát gồm các hộ sản xuất, kinh doanh, người thu gom, bán buôn, bán lẻ, tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX), doanh nghiệp chế biến (Công ty TNHH Bắc Sơn), cán bộ quản lý huyện và các xã.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại các địa bàn trọng điểm gồm xã Hang Chú, xã Xím Vàng và thị trấn Bắc Yên thuộc huyện Bắc Yên, cùng một số thị trường tiêu thụ liên quan.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu chuỗi giá trị thu thập qua các năm 2018, 2019 và 2020. Số liệu sơ cấp khảo sát trong năm 2020. Luận văn thực hiện từ tháng 5/2020 đến tháng 8/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết chuỗi giá trị của Kaplinsky R. (2001) và Michael Porter (1985), kết hợp cẩm nang ValueLinks của Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ Eschborn, 2007) và các nghiên cứu của Nguyễn Đức Lộc (2019), Đinh Xuân Trường (2014). Chuỗi giá trị được tiếp cận theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ chuỗi các hoạt động có liên kết mật thiết từ khâu cung ứng đầu vào, sản xuất, thu gom, sơ chế/chế biến, phân phối đến tiêu dùng cuối cùng. Về mặt nâng cấp chuỗi, tác giả vận dụng 4 phương thức nâng cấp theo GTZ (2007): nâng cấp quy trình, nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và nâng cấp chuỗi. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng lý thuyết ngành hàng của J. P. Boutonnet (1960) và Phạm Vân Đình (2005) để phân định vai trò của các tác nhân kinh tế độc lập.

Để làm rõ bản chất công cụ, luận văn tổng hợp sự khác biệt giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị:

Tiêu chí so sánh Chuỗi cung ứng (Supply Chain) Chuỗi giá trị (Value Chain)
Bản chất ý nghĩa Tích hợp các hoạt động mua sắm, chuyển đổi, vận chuyển và hậu cần Chuỗi hoạt động tuần hoàn làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm
Nguồn gốc tiếp cận Bắt nguồn từ quản trị hoạt động (Operations Management) Bắt nguồn từ quản trị kinh doanh và chiến lược (Business Management)
Trọng tâm hoạt động Tối ưu hóa việc luân chuyển nguyên vật liệu, giảm lãng phí Gia tăng giá trị, nâng cao tỷ suất lợi nhuận và giá trị gia tăng
Trình tự dòng chảy Yêu cầu sản phẩm $\rightarrow$ Chuỗi cung ứng $\rightarrow$ Khách hàng Nhu cầu khách hàng $\rightarrow$ Chuỗi giá trị $\rightarrow$ Sản phẩm hoàn thiện
Mục tiêu cốt lõi Sự hài lòng của khách hàng và tính thông suốt của dòng vật tư Đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững trên thị trường

Khung phân tích liên kết dọc dựa trên phân loại của Hoàng Vũ Quang (2016), bao gồm: liên kết tự nhiên, thỏa thuận miệng, hợp đồng (hợp đồng đầy đủ và hợp đồng không đầy đủ) và hợp nhất dọc.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập tài liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê, đề án của UBND huyện Bắc Yên, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Sơn La; dữ liệu sơ cấp thu thập qua điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc và phỏng vấn sâu trực tiếp các nhóm tác nhân: hộ nông dân trồng Sơn tra, người thu gom, người bán buôn, đại diện HTX, Công ty TNHH Bắc Sơn, người bán lẻ và người tiêu dùng.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả (tính tần suất, tỷ lệ %, số bình quân); phương pháp hạch toán kinh tế nông nghiệp để xác định giá trị sản xuất ($GO$), chi phí trung gian ($IC$), giá trị gia tăng ($VA$) và lợi nhuận ròng của từng tác nhân; phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT); quy trình lập bản đồ chuỗi giá trị theo 8 bước của Đinh Xuân Trường (2014).

Nội dung chính theo từng chương

Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghiên cứu chuỗi giá trị quả Sơn Tra

Chương này tổng kết có hệ thống các khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, ngành hàng và tác nhân; phân tích 4 hình thức nâng cấp chuỗi theo hướng dẫn ValueLinks của GTZ (2007) và các tiêu chí đánh giá phát triển chuỗi (tính phù hợp, hiệu lực, hiệu quả, chiều hướng tác động và tính bền vững).

Về mặt sinh học và kinh tế kỹ thuật, tác giả dẫn liệu nghiên cứu của Vũ Đức Toàn (2018) về loài cây Sơn tra (Docynia indica): cây thân gỗ cao 4-5 m, thích nghi độ cao 1.000-1.500 m, nở hoa tháng 3-4, thu hoạch quả tháng 9-11. Chu kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài 5 năm đầu, bắt đầu cho năng suất quả ổn định từ năm thứ 5 trở đi. Quy trình kỹ thuật bao gồm khâu thu hái quả chín, xử lý ngâm ủ hạt, đóng bầu đất (89% đất mặt, 10% phân chuồng, 1% NPK), chăm sóc cây giống 6-7 tháng đạt chiều cao 70-80 cm trước khi đưa ra trồng rừng theo băng đồng mức (băng chặt 2 m, băng chừa 1 m, kích thước hố đào 40x40x40 cm).

Phần thực tiễn phân tích bài học kinh nghiệm từ các mô hình chuỗi giá trị:

  • Chuỗi rau an toàn xã Phiêng Luông, huyện Mộc Châu: liên kết giữa HTX Dũng Tiến và Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng DAH 86, áp dụng chuẩn VietGAP, gắn tem truy xuất nguồn gốc, đạt sản lượng 600 tấn/năm và doanh thu trên 300 triệu đồng/ha/năm (UBND huyện Mộc Châu, 2019).
  • Chuỗi chanh leo tại huyện Bắc Yên: liên kết sản xuất giống Đài Nông 1 và bao tiêu sản phẩm với Công ty Cổ phần Nafoods Tây Bắc (UBND huyện Bắc Yên, 2018).
  • Chuỗi thảo quả tại Lào Cai: dự án hỗ trợ của Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) giai đoạn 2008-2010 giúp cải thiện kỹ thuật sấy, giảm chặt phá rừng và ổn định thị trường (UBND tỉnh Lào Cai, 2008).
  • Tổng quan các công trình liên quan: nghiên cứu chuỗi giá trị mận hậu Mộc Châu (Đào Hữu Bính & Đoàn Đức Lân, 2010), chuỗi cam sành Hàm Yên (Hoàng Thị Bích Diệp, 2015), chuỗi ổi Đông Dư (Đỗ Quang Giám & cs), dự án xây dựng nhãn hiệu chứng nhận "Sơn tra Sơn La" (Vũ Văn Đoàn, 2018) và nghiên cứu giải pháp chuỗi Sơn tra của Nguyễn Thị Mai Lan (2008).

Phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Bắc Yên. Địa bàn huyện có diện tích tự nhiên 109.936 ha, cách trung tâm tỉnh Sơn La 95 km, địa hình chia cắt mạnh với độ cao trung bình gần 1.000 m (đỉnh Phù Sa Phìn cao 2.879 m, mực nước sông Đà thấp nhất 120 m). Huyện phân hóa thành 3 tiểu vùng tự nhiên: vùng lòng hồ thủy điện sông Đà (gồm 4 xã), vùng dọc Quốc lộ 37 (động lực thương mại dịch vụ) và tiểu vùng 8 xã vùng cao (Tà Xùa, Làng Chếu, Xím Vàng, Hang Chú, Háng Đồng, Hua Nhàn, Hồng Ngài, Phiêng Côn) với đặc trưng khí hậu á nhiệt đới, sương mù bao phủ 70% số tháng trong năm, lượng mưa 1.500 mm/năm.

Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của huyện có 66.976,10 ha đất nông nghiệp, 43.066,6 ha đất có rừng (chiếm 39,2% diện tích tự nhiên, gồm 21.774,9 ha rừng phòng hộ; 4.855,29 ha rừng đặc dụng; 16.436,4 ha rừng sản xuất). Cơ cấu dân số gồm 7 dân tộc, trong đó dân tộc H'Mông chiếm tỷ lệ lớn nhất (42,17%), dân tộc Thái chiếm 31,28%, dân tộc Mường chiếm 18,23%, dân tộc Kinh chiếm 4,36%.

Toàn bộ hệ thống phương pháp nghiên cứu, chọn mẫu tại các xã Hang Chú, Xím Vàng và thị trấn Bắc Yên, chỉ tiêu đánh giá tài chính ($GO, IC, VA$, lợi nhuận) và ma trận SWOT được thiết kế đồng bộ làm căn cứ thực hiện phân tích định lượng và định tính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực trạng ngành hàng và chuỗi giá trị quả Sơn tra:

  • Hiện trạng vùng sản xuất: Tính đến năm 2019, tổng diện tích cây Sơn tra toàn huyện đạt 1.802,07 ha. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 410,97 ha; diện tích rừng trồng qua các giai đoạn từ năm 2006 đến 2018 là 1.391,10 ha. Tổng sản lượng quả thu hoạch ước đạt 6.325 tấn/năm.
  • Bản đồ chuỗi và đặc điểm các tác nhân: Chuỗi giá trị bao gồm các tác nhân chính:
    1. Cung ứng đầu vào: Hạt giống tự ươm hoặc cây giống từ các dự án hỗ trợ nông lâm nghiệp (Dự án KfW7, nguồn vốn Nghị quyết 30a, Chương trình 135); vật tư phân bón sử dụng ở mức rất thấp.
    2. Hộ sản xuất: Người dân vùng cao (100% đồng bào H'Mông tại các xã vùng dự án), quản lý diện tích cây tự nhiên và cây trồng mới; chi phí đầu tư phân bón và BVTV hạn chế; năng suất biến động lớn.
    3. Người thu gom (thương lái địa phương): Thu mua tại vườn hoặc các điểm tập kết ven đường liên xã, vận chuyển về thị trấn Bắc Yên.
    4. Người bán buôn: Mua gom khối lượng lớn, vận chuyển quả tươi về các đầu mối tiêu thụ tại Hà Nội, Yên Bái và các tỉnh đồng bằng.
    5. Hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến: Tiêu biểu là Công ty TNHH Bắc Sơn và một số HTX nông nghiệp. Đơn vị này tham gia chế biến rượu vang Sơn tra (năm 2020 sản lượng đạt 62.500 lít), mứt, ô mai và sấy khô, song công suất chế biến toàn huyện mới hấp thụ được khoảng 20% tổng sản lượng.
    6. Người bán lẻ: Bán quả tươi tại chợ truyền thống, điểm dừng chân du lịch (đỉnh Tà Xùa) và các cửa hàng hoa quả.
    7. Người tiêu dùng: Sử dụng quả tươi để ngâm rượu, làm đồ uống hoặc sử dụng các chế phẩm sau chế biến.
  • Phân tích liên kết: Mối liên kết giữa các tác nhân chủ yếu là liên kết tự nhiên và thỏa thuận miệng tự do, không có hợp đồng kinh tế ràng buộc. Mối liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với hộ nông dân còn lỏng lẻo, chưa hình thành chuỗi khép kín.
  • Phân tích tài chính và giá trị gia tăng: Tác giả lượng hóa chi phí đầu tư 5 năm kiến thiết cơ bản đối với cây trồng mới, hạch toán doanh thu và chi phí của từng tác nhân. Tỷ trọng giá trị gia tăng phân bổ không đều; người sản xuất chịu rủi ro thiên tai và biến động giá nhưng tỷ suất lợi nhuận biên thấp hơn các khâu trung gian thương mại và chế biến sâu.
  • Phân tích SWOT và các yếu tố ảnh hưởng:
    • Điểm mạnh & Cơ hội: Điều kiện đất đai, khí hậu á nhiệt đới phù hợp; quả Sơn tra được công nhận nhãn hiệu chứng nhận "Sơn tra Sơn La" năm 2018 cho 3 huyện Bắc Yên, Mường La, Thuận Châu; chính sách hỗ trợ phát triển cây ăn quả trên đất dốc của tỉnh; tiềm năng kết hợp du lịch sinh thái Tà Xùa.
    • Điểm yếu & Thách thức: Địa hình chia cắt, giao thông vận chuyển khó khăn; trình độ canh tác lạc hậu; thiếu vốn đầu tư; công nghệ chế biến và hệ thống bảo quản sau thu hoạch còn thiếu (mới có 01 nhà máy rượu vang, 01 xưởng sấy, 02 kho lạnh); cạnh tranh trực tiếp với quả Sơn tra từ tỉnh Yên Bái.
  • Định hướng và giải pháp: Đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể: nâng cấp quy trình kỹ thuật nhân giống và thâm canh; đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng chế biến sâu và bảo quản lạnh; phát triển liên kết chuỗi thông qua HTX và hợp đồng bao tiêu với doanh nghiệp; tăng cường xúc tiến thương mại, khai thác giá trị nhãn hiệu chứng nhận và chương trình OCOP.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả định lượng và luận cứ thực tiễn:

  • Tổng hợp số liệu diện tích và sản lượng: Xác định cụ thể hiện trạng vùng nguyên liệu Sơn tra huyện Bắc Yên năm 2019 đạt 1.802,07 ha (trong đó rừng tự nhiên chiếm 410,97 ha; diện tích rừng trồng giai đoạn 2006-2018 đạt 1.391,10 ha), với tổng sản lượng quả ước tính 6.325 tấn/năm.
  • Xác định thực trạng năng lực chế biến tại chỗ: Lượng hóa tỷ lệ quả Sơn tra được đưa vào chế biến và bảo quản đạt khoảng 20% tổng sản lượng; chỉ rõ hạ tầng công nghiệp địa phương năm 2020 gồm 01 nhà máy chế biến rượu vang (sản lượng 62.500 lít), 01 xưởng sấy khô và 02 kho bảo quản lạnh.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn:
    • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa khung phân tích chuỗi giá trị và phân loại các hình thức nâng cấp chuỗi áp dụng đặc thù cho lâm sản ngoài gỗ/cây ăn quả đa mục đích trên vùng cao đất dốc.
    • Về mặt thực tiễn: Luận giải rõ đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng tác nhân từ khâu ươm giống, chăm sóc 5 năm kiến thiết cơ bản đến tiêu thụ sản phẩm; chỉ ra các điểm nghẽn trong liên kết dọc giữa người trồng và đơn vị chế biến; cung cấp cơ sở dữ liệu thực tế phục vụ trực tiếp cho UBND huyện Bắc Yên và các cơ quan chuyên môn trong việc triển khai quy hoạch vùng nguyên liệu Sơn tra giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025 gắn với khai thác Nhãn hiệu chứng nhận "Sơn tra Sơn La".

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Các dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa tập trung vào năm 2020, chủ yếu phản ánh tình hình sản xuất và thương mại tại các xã đại diện (Hang Chú, Xím Vàng) và thị trấn Bắc Yên; chưa bao quát toàn diện chuỗi cung ứng mở rộng ra toàn bộ các tỉnh tiêu thụ miền xuôi. Khâu chế biến sâu trên địa bàn còn sơ khai nên việc hạch toán tài chính đối với các sản phẩm chế biến đa dạng (ô mai, tinh bột, nước ép đóng chai) chưa có chuỗi số liệu dài hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi chu kỳ kinh tế của diện tích rừng trồng mới khi bước vào giai đoạn cho sản lượng quả cực đại; đánh giá tác động của nhãn hiệu chứng nhận và chuẩn OCOP đến giá bán sản phẩm; phân tích sâu thị trường xuất khẩu tiểu ngạch và chính ngạch sang các nước lân cận.

Giá trị tham khảo

Luận văn là nguồn tư liệu thực chứng phù hợp cho:

  • Học viên, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm tài liệu tham khảo về phương pháp hạch toán kinh tế chuỗi giá trị nông sản vùng cao.
  • Cán bộ quản lý nhà nước tại các Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp các huyện miền núi phía Bắc trong việc xây dựng đề án phát triển cây ăn quả trên đất dốc, quản lý rừng phòng hộ kết hợp phát triển kinh tế hộ gia đình.
  • Doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp tham khảo quy trình kỹ thuật ươm giống, chu kỳ đầu tư kiến thiết cơ bản và mô hình liên kết thu mua, chế biến lâm sản ngoài gỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Diện tích và sản lượng quả Sơn tra tại huyện Bắc Yên đạt quy mô bao nhiêu vào thời điểm nghiên cứu?
Theo số liệu thống kê năm 2019 được ghi nhận trong luận văn, tổng diện tích cây Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên là 1.802,07 ha. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 410,97 ha và diện tích rừng trồng qua các giai đoạn từ năm 2006 đến 2018 là 1.391,10 ha. Tổng sản lượng quả ước tính đạt 6.325 tấn/năm.

2. Năng lực chế biến và bảo quản quả Sơn tra tại địa phương hiện trạng như thế nào?
Tỷ lệ quả Sơn tra qua sơ chế, chế biến và bảo quản tại Bắc Yên chỉ chiếm khoảng 20% tổng sản lượng. Hạ tầng chế biến trên địa bàn huyện còn hạn chế, bao gồm 01 nhà máy chế biến rượu vang (sản lượng năm 2020 đạt 62.500 lít), 01 xưởng sấy khô và 02 kho bảo quản lạnh; phần lớn sản lượng quả còn lại (khoảng 80%) được tiêu thụ dưới dạng quả tươi qua tư thương.

3. Đặc điểm kỹ thuật và chu kỳ kiến thiết cơ bản của cây Sơn tra được xác định ra sao?
Cây Sơn tra thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae), sinh trưởng tốt ở độ cao từ 1.000 đến 1.500 m so với mực nước biển, mùa hoa vào tháng 3-4 và thu hoạch quả chín từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm. Cây bắt đầu cho quả ổn định từ năm thứ 5 trở đi, do đó chi phí đầu tư cơ bản của hộ nông dân được tính toán tập trung trong 5 năm đầu tiên kể từ khi trồng mới.

4. Khung pháp lý và chính sách nào của tỉnh Sơn La tác động trực tiếp đến chuỗi giá trị cây Sơn tra?
Sản xuất cây Sơn tra tại Bắc Yên được thúc đẩy bởi Thông báo số 121-TB/TU ngày 30/11/2015 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sơn La; các Nghị quyết của HĐND tỉnh gồm: Nghị quyết số 28/2017/NQ-HĐND, Nghị quyết số 57/2017/NQ-HĐND, Nghị quyết số 76/2018/NQ-HĐND (chính sách hỗ trợ chế biến, tiêu thụ nông sản an toàn), Nghị quyết số 80/NQ-HĐND; cùng các chính sách hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Chương trình 135 và Nghị quyết 30a.

5. Sản phẩm quả Sơn tra tại Bắc Yên đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ như thế nào?
Năm 2018, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu cho nhãn hiệu chứng nhận "Sơn tra Sơn La" với vùng chỉ dẫn địa lý xác lập trên địa bàn 3 huyện: Bắc Yên, Mường La và Thuận Châu.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Đức Lợi đã phản ánh toàn diện thực trạng chuỗi giá trị quả Sơn tra trên địa bàn huyện Bắc Yên qua nguồn số liệu sơ cấp và thứ cấp giai đoạn 2018-2020. Kết quả nghiên cứu khẳng định tiềm năng kinh tế và giá trị bảo vệ rừng phòng hộ của cây Sơn tra đối với đồng bào dân tộc H'Mông, đồng thời chỉ rõ những mắt xích yếu kém trong liên kết tiêu thụ và tỷ lệ chế biến sâu tại chỗ. Các giải pháp nâng cấp chuỗi được đề xuất đồng bộ từ khâu thâm canh giống, đầu tư công nghệ bảo quản - chế biến đến khai thác nhãn hiệu chứng nhận, cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch nông lâm nghiệp bền vững tại địa phương.