Luận án về chọn giống và nhân giống tràm với hàm lượng tinh dầu và tỷ lệ 1,8 cineole cao

Luận án nghiên cứu chọn giống và nhân giống tràm với hàm lượng tinh dầu và tỷ lệ 1 8 cineole cao, góp phần nâng cao giá trị kinh tế.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2015

133
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tinh dầu tràm và một số loài tràm giàu 1,8-cineole

1.1.1. Giá trị sử dụng tinh dầu tràm

1.1.2. Một số loài tràm giàu 1,8-cineole

2. CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nghiên cứu chọn giống tràm

Nghiên cứu chọn giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao và tỷ lệ 1,8 cineole tối ưu là một lĩnh vực quan trọng trong nông nghiệp và công nghiệp chế biến tinh dầu. Chọn giống tràm không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn cải thiện chất lượng tinh dầu, đặc biệt là hàm lượng tinh dầu tràm và tỷ lệ 1,8 cineole. Tinh dầu tràm có nhiều ứng dụng trong y học và công nghiệp, từ việc điều trị bệnh đến sản xuất mỹ phẩm. Việc nghiên cứu và phát triển giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao sẽ góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho người trồng và ngành công nghiệp chế biến tinh dầu tại Việt Nam.

1.1. Tầm quan trọng của tinh dầu tràm

Tinh dầu tràm được biết đến với nhiều công dụng như kháng khuẩn, kháng nấm và chống viêm. Hàm lượng tinh dầu trong tràm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống cây, điều kiện sinh trưởng và kỹ thuật canh tác. Các loài tràm như Tràm năm gân và Tràm cajuput là nguồn cung cấp chính cho tinh dầu thiên nhiên. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ 1,8 cineole trong tinh dầu tràm có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị và ứng dụng trong công nghiệp. Do đó, việc chọn giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao và tỷ lệ 1,8 cineole tối ưu là rất cần thiết.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua các phương pháp chọn giống và khảo nghiệm thực địa. Các giống tràm được chọn dựa trên tiêu chí sinh trưởng tốt, hàm lượng tinh dầu cao và tỷ lệ 1,8 cineole đạt yêu cầu. Công nghệ chọn giống hiện đại như nuôi cấy mô cũng được áp dụng để nhân giống các dòng tràm có đặc tính ưu việt. Việc khảo nghiệm được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng và chất lượng tinh dầu của các giống tràm. Kết quả khảo nghiệm sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc chọn giống và phát triển giống tràm tại Việt Nam.

2.1. Kỹ thuật nhân giống

Kỹ thuật nhân giống tràm bằng nuôi cấy mô đã được áp dụng để tạo ra các giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao. Phương pháp này giúp tăng cường khả năng sinh trưởng và chất lượng tinh dầu của tràm. Các biện pháp kỹ thuật như phân bón, chiều cao gốc chặt và mùa vụ cũng được nghiên cứu để tối ưu hóa năng suất và chất lượng tinh dầu. Việc áp dụng các biện pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn đảm bảo tính bền vững cho ngành trồng tràm.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số giống tràm năm gân có hàm lượng tinh dầu cao và tỷ lệ 1,8 cineole đạt yêu cầu. Các giống tràm này đã được xác định có khả năng sinh trưởng tốt và thích ứng với điều kiện khí hậu tại Việt Nam. Việc đánh giá hàm lượng tinh dầu và tỷ lệ 1,8 cineole trong các giống tràm cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các giống. Những giống tràm có tỷ lệ 1,8 cineole cao không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn có giá trị kinh tế cao.

3.1. Đánh giá chất lượng tinh dầu

Chất lượng tinh dầu tràm được đánh giá dựa trên hàm lượng 1,8 cineole và các thành phần khác. Kết quả cho thấy, các giống tràm năm gân có tỷ lệ 1,8 cineole từ 65% trở lên, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng tinh dầu. Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng tinh dầu và tỷ lệ 1,8 cineole là rất quan trọng để phát triển giống tràm có chất lượng cao. Những giống tràm này không chỉ có giá trị trong sản xuất mà còn có tiềm năng xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu chọn giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao và tỷ lệ 1,8 cineole tối ưu không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp cơ sở khoa học cho việc cải thiện giống tràm, nâng cao năng suất và chất lượng tinh dầu. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất tràm sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen tràm tại Việt Nam.

4.1. Ứng dụng trong sản xuất

Các giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao và tỷ lệ 1,8 cineole tối ưu sẽ được ứng dụng trong sản xuất tinh dầu. Việc phát triển giống tràm này không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu. Sản phẩm tinh dầu tràm có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực như y học, mỹ phẩm và thực phẩm. Điều này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng mà còn góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổ ng quan vấ n đề nghiên cứu (28 trang) - Chương 2: Nô ̣i dung, vâ ̣t liê ̣u, phương pháp và địa điểm nghiên cứu (16 trang) - Chương 3: Kế t quả nghiên cứu và thảo luâ ̣n (45 trang) - Kế t luâ ̣n, tồ n ta ̣i và khuyế n nghi (4 ̣ trang) Tài liệu tham khảo: 100 tài liệu (gồm 34 tài liệu tiếng Việt và 66 tài liệu tiếng Anh). Phụ lục: 49 phụ biểu và 3 sơ đồ bố trí khảo nghiệm giống. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tinh dầu tràm và một số loài tràm giàu 1,8-cineole 1.

Giá trị sử dụng tinh dầu tràm Tràm (Melaleuca) là chi thực vật có đến 290 loài, đa số các loài tràm là cây đa tác dụng, có thể để lấy gỗ, tinh dầu, nuôi ong, làm cây bảo vê ̣ đấ t nông nghiê ̣p, cây đường phố và cây trong công viên (Brophy và cs. Tinh dầu tràm là sản phẩm có giá trị dược phẩm và mỹ phẩm đang được chú ý khai thác. Khả năng cung cấp tinh dầu của tràm phụ thuộc vào từng loài, từng xuất xứ, từng cá thể, cũng như phụ thuộc vào tuổi cây và điều kiện lập địa (Brophy và Doran, 1996)[38]. Tinh dầu tràm là tên gọi chung cho các loại tinh dầu được chưng cất từ lá tràm, gồm nhiều hợp chất thiên nhiên có giá trị như 1,8-cineole, terpinen-4-ol, nerolidol và linalool v., trong đó 1,8-cineole, terpinen-4-ol là những loại tinh dầu được tiêu thụ nhiều nhất, tiếp đến là nerolidol và linalool có giá trị dược liệu và hương liệu cao được dùng trong sản xuất nước hoa và mỹ phẩm.

Nhóm tinh dầu giàu terpinen-4-ol được sản xuất từ cây Tràm trà nên có tên là "tea tree oil" có tỷ lệ terpinen-4-ol 30 - 48%, tỷ lệ 1,8-cineole không quá 15% (ISO 7730, 2004)[58]. Nhóm tinh dầu giàu 1,8-cineole ban đầu được sản xuất từ Tràm cajuput ở Indonesia nên có tên là “cajeput oil”. Các loài tràm sản xuất tinh dầu giàu 1,8-cineole chủ yếu là Tràm cajuput, Tràm năm gân và một số loài tràm khác, trong đó có Tràm trà loại giàu 1,8-cineole. Tinh dầu tràm giàu terpinen-4-ol của Tràm trà đã được sử dụng trong chữa bệnh của thổ dân Australia, như chữa vết thương và chống viêm trong nhiều thế kỷ (Drury, 1989; Lassak và Mccarthy, 1990)[53, 66].

Các hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu Tràm trà chủ yếu do sự hiện diện của terpinen-4-ol 5 mặc dù các thành phần khác đóng góp đáng kể đến hoạt động kháng khuẩn (Carson và Riley, 1995; Southwell và cs. Đánh giá khả năng kháng vi trùng và đặc tính chữa bệnh khác của tinh dầu Tràm trà cho thấy có ít nhất 27 loài vi khuẩn và 24 loài nấm đã được báo cáo là nhạy cảm với loại tinh dầu Tràm trà giàu terpinen-4-ol (Carson và cs. Tinh dầu Tràm trà được dùng nguyên chất hoặc là thành phần trong các loại sản phẩm như chất bảo quản, kháng nấm, thuốc khử trùng hoặc tác nhân kháng khuẩn. Sản phẩm từ tinh dầu tràm gồm dầu gội, dầu dưỡng tóc, xà phòng, nước súc miệng, kem đánh răng, chất khử mùi, kem dưỡng ẩm, sữa rửa mặt và sữa tắm, sản phẩm cạo râu, son dưỡng môi, kem trị mụn, kem và bột chữa nấm da, kem bôi chữa viêm âm đạo và các sản phẩm y tế khác (Brophy và cs., 2013; Colton và cs., 2000; Rirdc và Attia, 2007; Southwell và Lowe, 1999; Wrigley và Fagg, 1993)[39, 47, 79, 85, 97].

Tinh dầu tràm giàu 1,8-cineole chủ yếu ở Tràm năm gân và Tràm cajuput có tác dụng diệt khuẩn, kháng virus (Harris, 2007; Vokovic và cs., 2010)[64, 94], được sử dụng trong ngành công nghiệp dược như thuốc chống xung huyết, chống ho, tác dụng giảm đau và chống viêm. Ngoài ra, 1,8-cineole còn dùng trong hương liệu, chữa bệnh hen suyễn, viêm xoang và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Juergens và cs., 2003, 2004; Santos và Rao, 2000; Santos và cs., 2004) [59, 60, 81, 82], thậm chí có người cho rằng 1,8-cineole có thể góp phần kiểm soát viêm tụy cấp tính (Bae và cs. 1,8-cineole là chất thơm tự nhiên có trong tinh dầu một số loài thực vật (Tschiggerl và Bucar, 2010)[90], đặc biệt ở nhiều loài bạch đàn do đó còn có tên là eucalyptol, cũng vì thế eucalyptol và 1,8-cineole được coi là synonym của nhau, đôi khi được viết là 1,8-cineole (eucalyptol) (Santos, 2004)[82]. 6 Ngoài ra, 1,8-cineole cũng có trong Tràm trà với hàm lượng và tỷ lệ 1,8-cineole rất cao, song tỷ lệ limonene (chất làm hại da) cũng cao (hơn 6%), nên ít được sử dụng (Lê Đình Khả, 2012)[21].

1,8-cineole cũng có trong một số loài cây thảo dược như Húng quế (Ocimum basilic), Hương thảo (Rosmarinus officinalis), cây Xô thơm (Salvia officinalis), Bạch đậu khấu (Amomum cardamomu), Gừng (Zingber zerumbe ), và Bạc hà (Mentha piperita) được sử dụng trong nấu ăn và trong các loại thực phẩm (Opdyke và cs., 1975; SCF, 2002; Vincenzi và cs. Tinh dầu giàu 1,8- cineole ở Tràm năm gân (ở Papua New Guinea được gọi là tinh dầu Niaouli oil) có tác dụng chữa ho, cảm lạnh, thấp khớp, đau dây thần kinh và sử dụng làm hương liệu (Elliot và Jones, 1993)[54] hoặc dùng như một chất thơm trong thực phẩm (bánh ngọt, kẹo, đồ gia vị, món ăn ngọt tráng miệng, sản phẩm từ thịt, đồ uống không cồn) và mỹ phẩm (mỹ phẩm bôi da, nước hoa, chất súc miệng và xà phòng). Tinh dầu Tràm năm gân được dùng như một loại thuốc truyền thống và đôi khi được thay cho tinh dầu Tràm cajuput hoặc tinh dầu bạch đàn để chữa ho, chữa thấp khớp, đau dây thần kinh viêm màng nhầy mạn tính, vv. Niaouli oil được coi như một loại tinh dầu không độc có mùi thơm mạnh được dùng làm thuốc thông mũi, diệt khuẩn và những thuốc có tính kích thích (http://www.com//all/niaouli_rst.

Một công bố khác về cajeput oil (được ghi là Tràm năm gân) từ nghiên cứu cho động vật đã thấy có tác dụng làm tăng huyết áp, chữa mụt nhọt, ức chế vi khuẩn Helicobacter pylori (loại vi khuẩn gây đau dạ dày) (www.Natural Standard Botton, 2008)[99]. Tinh dầu giàu 1,8-cineole ở Tràm cajuput là loại không độc hại, có tác dụng trị ho, cảm lạnh, giảm đau, thường ở dạng thuốc mỡ hoặc dầu xoa bóp. Ngoài ra còn có tác dụng tốt trong việc điều trị giun tròn và nhiễm trùng 7 đường tiết niệu. Tinh dầu Tràm cajuput còn được sử dụng trong xà phòng, chất tẩy rửa, mỹ phẩm và nước hoa (Brophy và cs.

Trong y học cổ truyền ở Việt Nam tinh dầu Tràm cajuput thường được dùng nguyên chất để xoa bóp chữa đau nhức, tê thấp, ho, cũng như chữa đau bụng, co thắt dạ dày, làm thuốc bôi chống viêm, chữa vết bỏng, xoa bóp trị đau nhức khớp xương và đau dây thần kinh. Dung dịch 5 - 10% hay 20% còn được dùng để nhỏ mũi, chống cúm, ngạt mũi hoặc pha với nước ở nồng độ 0,2% để rửa vết thương (Võ Văn Chi, 1997; Đỗ Tất Lợi, 1995)[3, 22]. Hiện nay, tinh dầu Tràm năm gân là một mặt hàng có giá trị trên thị trường. Theo hãng Nature’s Gift Aromatherapy Products (2009)[99] tinh dầu Tràm năm gân (Niaouli oil) giàu cineole sản xuất ở Madagasca có giá 75,79 USD/kg, trong khi tinh dầu Tràm cajuput ở Asutralia giá 30,84 USD/kg.

Bảng chào giá của Hãng Wholesale Aromatherapy năm 2014 cũng ghi tinh dầu Niaouli cineole của Madagasca giá 66,83 USD/kg; trong khi tinh dầu Tràm cajuput của Việt Nam là 39,42 USD/kg, của Australia là 60,68 USD/kg (Wholesale Aromatherapy Itd, 2014)[100]. Một số loài tràm giàu 1,8-cineole 1. Tiêu chuẩn chất lượng tinh dầu giàu 1,8-cineole Tiêu chuẩn chất lượng tinh dầu Tràm cajuput được quy định tại Dược điển Việt Nam là tỷ lệ 1,8-cineol hơn 60% mà không cần tinh chế (Bộ Y tế Việt Nam, 2002)[2]. Theo các chuyên gia EU dùng phương pháp tinh chế để nâng cao tỷ lệ 1,8-cineole sẽ làm mất đi sự phối hợp các chất như vốn có trong tự nhiên (trích dẫn từ Bùi Thị Bằng, 2007)[1].

Vì thế việc chọn giống cần phải theo hướng nâng cao tỷ lệ 1,8-cineole tự nhiên. Một số giống Tràm năm gân loại giàu 1,8-cineole được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật và giống Quốc gia đều có tỷ lệ 1,8-cineole > 65%, tỷ lệ limonene < 5% (Lê Đình Khả, 2012)[21]. 8 Tinh dầu Tràm cajuput ở Indonesia có tỷ lệ 1,8-cineole từ 62,8 - 66,5% với tỷ lệ limonene từ 5,2 - 5,6% được coi là tinh dầu loại một (Brophy và Doran, 1996)[38]. Tuy vậy, đến nay vẫn chưa có một tiêu chuẩn quốc tế nào về loại tinh dầu tràm giàu 1,8-cineole, mặc dù theo "Từ điển bách khoa các hợp chất thiên nhiên thông thường" thì tinh dầu tràm cajeput (tên chung cho các loại tinh dầu giàu 1,8-cinole) có tỷ lệ 1,8-cineole từ 3 - 60%, tỷ lệ limonene dưới 5% (Khan và Abourashed, 2010)[63], song tinh dầu Tràm năm gân (còn gọi là niaouli oil) của Madagascar (loại có giá cao) cũng có tỷ lệ limonene trung bình 7,5%, biến động trong khoảng 0,0% - 11,72%, 1,8-cineole 34,9 - 71,1% (trung bình là 55,4%) (Ramanoelina và cs.

Vì thế, giống tràm giàu 1,8-cineole được chọn cần có tỷ lệ 1,8-cineole ≥ 65 %, tỷ lệ limonene <5%, đồng thời sinh trưởng tốt. Tràm năm gân Tràm năm gân là loài cây thân gỗ có kích thước từ nhỏ đến trung bình, thường cao 8 - 12 m nhưng khoảng biến động là 4 - 25 m tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, khí hậu và lập địa của từng địa phương. Lá màu xanh thẫm có năm gân khá rõ nên có tên tiếng Anh là “Five - veined Paperbark” và cũng là tên khoa học của loài cây này (Boland và cs., 2006; Doran và Turnbull, 1997)[36, 49]. Tràm năm gân có phân bố tự nhiên ở vùng duyên hải miền Đông Australia, Papua New Guinea, Irian Jaya (Indonesia) và New Caledonia.

Ở Australia và Papua New Guinea loài này chỉ xuất hiện ở những vùng đất thấp có độ cao so với mực nước biển dưới 100 m, vĩ độ 8 - 34o Nam (hình 1. Nhiệt độ trung bình tối cao của tháng nóng nhất là 26 oC ở phía Nam và 34oC ở phía Bắc, khu vực duyên hải có một số ngày nhiệt độ lên tới trên 38oC. Nhiệt độ trung bình tối thấp của tháng lạnh nhất là 4 - 20oC. Lượng mưa hàng năm 900 - 1250 mm Tràm năm gân có thể sống ở nơi có lượng mưa 400 - 650 9 mm/năm.

Ở Papua New Guinea Tràm năm gân thường xuất hiện trên đất sét phù sa giàu hữu cơ và nghèo dinh dưỡng. Vào mùa ẩm những đồng bằng này thường bị ngập lũ sâu hơn 1m. Ở New Caledonia Tràm năm gân thường xuất hiện trên những đồi dốc và các mỏm núi ở vùng cao. Loài tràm này phát triển ở hầu hết các loại đất nhưng ít khi xuất hiện trên những loại đất hình thành từ đá bazơ (Boland và cs.

Phân bố tự nhiên của Tràm năm gân ở Australia và PNG (Boland và cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về chọn giống và nhân giống tràm với hàm lượng tinh dầu và tỷ lệ 1,8 cineole cao" do GS.TS Lê Đình Khả hướng dẫn tại Trường Đại học Lâm nghiệp, năm 2015, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển các giống tràm có hàm lượng tinh dầu cao, đặc biệt là tỷ lệ 1,8 cineole. Bài viết không chỉ cung cấp những kiến thức chuyên sâu về phương pháp chọn giống và nhân giống tràm mà còn chỉ ra những lợi ích kinh tế và môi trường từ việc phát triển các giống tràm chất lượng cao. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức tối ưu hóa sản xuất tinh dầu tràm, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn sản xuất.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp và thủy sản, hãy tham khảo thêm bài viết So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ, nơi phân tích hiệu quả của các mô hình nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về kỹ thuật sản xuất giống trong lĩnh vực thủy sản. Cuối cùng, bài viết Luận văn về phát triển nông lâm kết hợp ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp trong phát triển bền vững. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp và kỹ thuật trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản.