Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề chính trị trên thực nghiệp dân báo và hà thành ngọ báo những năm 1920 1930

Luận văn thạc sĩ USSH phân tích vấn đề chính trị qua báo chí dân báo và Hà Thành Ngọ báo những năm 1920-1930, cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

113
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

0.4. Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: SỰ RA ĐỜI CỦA THỰC NGHIỆP DÂN BÁO VÀ HÀ THÀNH NGỌ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1. Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX

1.1.1. Bối cảnh chính trị

1.1.2. Bối cảnh kinh tế

1.1.3. Bối cảnh xã hội, văn hóa, giáo dục, tư tưởng

1.2. Hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX

1.3. Sự ra đời của Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo

1.3.1. Thực nghiệp dân báo

1.3.2. Hà thành Ngọ báo

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ TRÊN THỰC NGHIỆP DÂN BÁO TRONG THỜI KỲ 1920-1925

2.1. Vấn đề chính trị trên báo chí tiếng Việt đầu thế kỷ XX

2.2. Thực nghiệp dân báo với mối quan hệ giữa tư sản Việt Nam và tư sản Hoa kiều

2.3. Thực nghiệp dân báo và phong trào cải lương hương thôn

2.4. Thực nghiệp dân báo với cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ TRÊN THỰC NGHIỆP DÂN BÁO VÀ HÀ THÀNH NGỌ BÁO TRONG GIAI ĐOẠN 1926-1930

3.1. Những chuyển biến trong đời sống báo chí

3.2. Thực nghiệp dân báo và đám tang Phan Châu Trinh

3.3. Hà thành ngọ báo với Việt Nam quốc dân Đảng

3.4. Hà thành ngọ báo và phong trào cộng sản ở Việt Nam

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo

Nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo trong giai đoạn 1920-1930 là một chủ đề quan trọng trong lịch sử báo chí Việt Nam. Hai tờ báo này không chỉ phản ánh những vấn đề chính trị lớn mà còn thể hiện sự phát triển của tư tưởng dân tộc trong bối cảnh thực dân Pháp. Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo đã đóng góp vào việc hình thành nhận thức chính trị của người dân Việt Nam trong thời kỳ này.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị giai đoạn 1920 1930

Giai đoạn 1920-1930 chứng kiến nhiều biến động trong lịch sử Việt Nam. Thực dân Pháp áp dụng nhiều chính sách cai trị khắc nghiệt, dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ từ phía người dân. Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo ra đời trong bối cảnh này, phản ánh những vấn đề chính trị nóng bỏng của thời đại.

1.2. Vai trò của báo chí trong việc hình thành tư tưởng chính trị

Báo chí không chỉ là công cụ truyền tải thông tin mà còn là phương tiện để hình thành tư tưởng chính trị. Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức chính trị của người dân, khuyến khích họ tham gia vào các phong trào yêu nước.

II. Những thách thức trong nghiên cứu chính trị qua báo chí giai đoạn 1920 1930

Nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo không chỉ đơn thuần là việc phân tích nội dung mà còn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các tài liệu lưu trữ không đầy đủ, sự kiểm duyệt của thực dân Pháp và sự thiếu thốn thông tin là những khó khăn lớn.

2.1. Khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu

Nhiều số báo của Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo đã bị thất lạc hoặc hư hỏng, gây khó khăn trong việc nghiên cứu. Việc tìm kiếm tài liệu từ các thư viện và kho lưu trữ cũng gặp nhiều trở ngại.

2.2. Sự kiểm duyệt và ảnh hưởng đến nội dung báo chí

Thực dân Pháp đã áp dụng nhiều biện pháp kiểm duyệt nghiêm ngặt đối với báo chí. Điều này đã ảnh hưởng đến nội dung và cách thức trình bày thông tin trên Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo, làm cho việc phân tích trở nên phức tạp.

III. Phương pháp nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo

Để nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và phân tích nội dung. Việc so sánh giữa hai tờ báo cũng giúp làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách phản ánh chính trị.

3.1. Phương pháp lịch sử trong nghiên cứu báo chí

Phương pháp lịch sử giúp đặt các sự kiện trong bối cảnh thời gian và không gian cụ thể. Điều này rất quan trọng để hiểu rõ hơn về những vấn đề chính trị được phản ánh trên Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo.

3.2. Phân tích nội dung và so sánh giữa các tờ báo

Phân tích nội dung giúp xác định các chủ đề chính và cách thức trình bày thông tin. So sánh giữa Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo sẽ làm nổi bật những điểm khác biệt trong quan điểm chính trị của hai tờ báo.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu từ Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo

Nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo không chỉ mang lại hiểu biết về lịch sử báo chí mà còn có giá trị thực tiễn trong việc nghiên cứu các phong trào chính trị hiện nay. Những kết quả từ nghiên cứu này có thể được áp dụng để phân tích các hiện tượng chính trị đương đại.

4.1. Giá trị lịch sử của Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo

Hai tờ báo này không chỉ là tài liệu quý giá cho nghiên cứu lịch sử mà còn là minh chứng cho sự phát triển của tư tưởng chính trị trong xã hội Việt Nam. Chúng phản ánh những khát vọng và nguyện vọng của người dân trong thời kỳ khó khăn.

4.2. Ảnh hưởng của báo chí đến phong trào chính trị hiện nay

Nghiên cứu về Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo có thể giúp hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong việc định hình chính trị hiện đại. Những bài học từ quá khứ có thể được áp dụng để phát triển báo chí và tư tưởng chính trị trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu chính trị qua báo chí

Nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong lịch sử chính trị Việt Nam sẽ giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của báo chí trong xã hội hiện đại.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu báo chí trong lịch sử

Nghiên cứu báo chí không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử mà còn góp phần vào việc xây dựng nền tảng cho các nghiên cứu xã hội và chính trị hiện nay. Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo là những ví dụ điển hình cho sự phát triển của báo chí Việt Nam.

5.2. Hướng đi tương lai cho nghiên cứu chính trị qua báo chí

Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng ra nhiều tờ báo khác và các giai đoạn lịch sử khác nhau. Việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại sẽ giúp làm phong phú thêm nội dung và giá trị của các nghiên cứu này.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vấn đề chính trị trên thực nghiệp dân báo và hà thành ngọ báo những năm 1920 1930

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 SỰ RA ĐỜI CỦA THỰC NGHIỆP DÂN BÁO VÀ HÀ THÀNH NGỌ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX 1. Bối cảnh chính trị Để hiều sâu về bối cảnh chính trị, trước hết, chúng ta nhìn khái quát về quá trình khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương. Toàn quyền Paul Doumer được coi là “một trong những viên Toàn quyền nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử chế độ thuộc địa Pháp tại Đông Dương” [30, 138].

Sự xuất hiện của vị toàn quyền này cùng Chương trình khai thác thuộc địa của ông từ năm 1897, Đông Dương bắt đầu bước vào thời kỳ có những biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Các vị toàn quyền về sau như Paul Beau (1902-1908), Klobukowski (1908-1911), Albert Saraut (1911-1914) có bổ sung hoặc điều chỉnh chế độ do Doumer đặt cơ sở, nhưng không thay đổi những đường lối chủ yếu. Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer bắt đầu trong điều kiện chính trị thuận lợi. Công cuộc bình định Đông Dương được coi là đã hoàn thành.

Phong trào đấu tranh chính thống cuối cùng mang danh nhà vua- phong trào Cần Vương dù được ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân cũng đã bị dập tắt năm 1896. Phong trào đấu tranh của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám ở miền rừng núi Yên Thế gây được tiếng vang lớn khiến chính phủ bảo hộ phải thương lượng. Mặc dù đã để Đề Thám cai quản một lãnh thổ gồm 22 làng trong vùng Yên Thế nhưng cái giá hời nhất của cuộc thương lượng đánh dấu việc hoàn thành thắng lợi thời kỳ bình định là việc “Đề Thám chịu đặt khí giới” [1, 107]. Ai cũng hiểu cái cam kết đặt khí giới của Đề Thám chỉ là một động tác giả.

Năm 1913 mới thực sự chấm dứt “giai 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đoạn chống Pháp bằng khí giới”[1, 108] khi chính phủ bảo hộ tiến hành bao vây vùng chiếm đóng và Hoàng Hoa Thám bị bắt sát hại. Dù thế nào, ngay từ năm 1897 chính quyền bảo hộ đã hoàn toàn có quyền loan báo về thành công của công cuộc bình định. Với cương vị là một viên Toàn quyền, Paul Doumer được thừa hưởng di sản chính trị quý báu từ thời các Toàn quyền trước để lại trong việc cai quản một Đông Dương “gần như” thống nhất. Chế độ cai trị được thiết lập với quy mô toàn Đông Dương được đánh dấu bằng sự ra đời của Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 17-10-1887.

Hoà nhập toàn bộ những cơ cấu chính trị ở Đông Dương vào hệ thống Nhà nước mới tức là vô hiệu hóa những cơ cấu nhà nước cũ. Lúc mới thành lập, Liên bang Đông Dương chỉ bao gồm Việt Nam và Căm-pu-chia. Trong nhiệm kỳ của Doumer, Lào cũng trở thành thành viên của Liên Bang Đông Dương vào năm 1899. Đối với Việt Nam, thực dân Pháp đã áp dụng chế độ “chia để trị” bằng việc chia Việt Nam làm ba xứ theo ba chế độ cai trị khác nhau: Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Trung Kỳ là xứ bảo hộ và Bắc Kỳ là xứ bán bảo hộ.

Căm-pu-chia và Lào cũng bị đặt dưới chế độ bảo hộ. Chịu trách nhiệm cai quản Bắc Kỳ là một Thống sứ, Trung Kỳ là một Khâm sứ và Nam Kỳ thuộc quyền của một thống đốc. Tuy nhiên, tất cả quyền hành của các vị đều thuộc quyền giám sát và điều khiển của quan toàn quyền. Hà Nội - trung tâm của xứ Bắc Kỳ - trở thành thủ phủ của toàn xứ Đông Dương, nơi đóng trụ sở của Phủ toàn quyền Đông Dương và các cơ quan đầu não khác của thực dân Pháp.

Về sau người ta hiểu rõ thực chất chẳng có những khác biệt đáng kể giữa chế độ bảo hộ, bán bảo hộ hay thuộc địa nữa vì Paul Doumer đã tiến hành một chính sách cai trị độc tài [19, 125]. Nhà vua bắt đầu mất dần những liên hệ cuối cùng đối với hai vùng đất Bắc và Trung Kỳ của mình khi 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức Kinh lược sứ Bắc Kỳ (đại diện cho Triều đình, mang sứ mệnh duy trì “ảo tưởng” về mối liên hệ giữa triều đình với Bắc Kỳ”) bị xóa bỏ để chuyển quyền cho viên Thống sứ và Cơ viện mật bị đổi thành một hội đồng với quyền hạn thuộc về một Khâm sứ người Pháp vào năm 1897. Những vết tích độc lập cuối cùng của nhà nước cũ đã bị xóa bỏ. Từ đó, chẳng cần phải quan tâm tới công cuộc bình định, chẳng cần phải do dự bởi ảnh hưởng của nhà vua, các vị toàn quyền được “toàn quyền” quyết định số phận của thuộc địa Đông Dương.

Trong khoảng 1897 và 1902, Paul Doumer đã thành lập hệ thống những ban ngành chung, tạo sự thuận tiện trong công cuộc cai trị. Đó là sự ra đời của những Sở Tài chính, Sở Hải quan (1897), Sở Công chính (1898), Sở Nông nghiệp và Thương nghiệp (1899), Sở Bưu chính, điện báo, điện thoại (PTT) (1901), Ban Tổng thư ký (1902), đến năm 1929 có thêm Sở An ninh. Tổng ngân sách cũng được thành lập ngay từ năm 1898. Song song với quá trình kiện toàn bộ máy quản lý, thực dân Pháp còn thiết lập bộ máy cảnh sát, quân đội, nhà tù, tòa án để trấn áp các hoạt động chống Pháp của nhân dân.

Việc người Pháp không xóa bỏ hoàn toàn vương triều Nguyễn đồng nghĩa với việc hệ thống pháp luật của vương triều vẫn còn được sử dụng. Bên cạnh đó, người Pháp cũng dần dần đưa vào áp dụng luật lệ của họ. Tính cách nhị hợp của chế độ pháp luật do vậy cũng đưa tới tính cách nhị hợp của chế độ tài phán [1, 135]. Đó là sự tồn tại song song hai loại hình tòa án Tây và tòa án Nam.

Tòa án Tây đặt tại Nam Kỳ và các nhượng địa. Người Pháp đặt tại Hà Nội và Sài Gòn [1,136] một tòa thượng thẩm do hai viên quan người Việt phụ trách xét xử. Tuy nhiên, thật nực cười khi hai viên quan này được Chính phủ Nam triều chỉ định “theo sự lựa chọn của Toàn quyền Đông Dương”[33, 244]. Năm 1898, tòa thượng thẩm Đông Dương được thành 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập trên cơ sở xóa bỏ tòa thượng thẩm Hà Nội, mở rộng đối tượng xét xử tù phạm ra toàn cõi Đông Dương.

Bên cạnh đó là sự tồn tại của một kiểu tòa án đặc biệt gọi là Hội đồng đề hình với chức năng đàn áp phong trào yêu nước. Tòa án Nam vẫn được duy trì ở Bắc và Trung Kỳ nhưng về thực chất thì chịu sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa. Thực dân Pháp đã sử dụng lực lượng cảnh sát cũng như quân đội và mật thám để theo dõi, bắt bớ người yêu nước Việt Nam, kết tội họ thông qua hệ thống tòa án và đày đọa bằng hệ thống nhà tù. Tại mỗi tỉnh, từ cấp huyện trở lên đều có trại giam.

Bộ máy cảnh sát chính là nhằm mục đích “bảo vệ nền an ninh trật tự của bọn xâm lược thống trị và làm công cụ đắc lực cho chúng trong việc đàn áp bóc lột nhân dân. Hoạt động của bộ máy cảnh sát được sự hỗ trợ tích cực của tổ chức mật thám (1917), nhất là trong việc khủng bố và đàn áp cách mạng. Sự lợi hại của Sở mật thám làm cho cuộc sống của nhân dân hồi đầu thế kỷ XX không lấy gì làm dễ thở. Nó biến xứ sở này thành một nơi mà “nhà trường dạy cho trẻ con Tuyên ngôn nhân quyền và sở mật thám bắt bỏ tù những ai đã học kỹ bài học đó”[26, 132] Nhà nghiên cứu Dương Kinh Quốc đã mô tả cái thiết chế chính trị-xã hội của Đông Dương thời kỳ này mang bóng dáng kiểu nhà nước Nga trước cách mạng tháng Mười.

“Không có một nước tư bản nào lại còn duy trì nhiều như ở đây những thiết chế của thời xưa không thích hợp với chủ nghĩa tư bản; những thiết chế ấy kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và làm vô cùng trầm trọng thêm tình cảnh của những người sản xuất “đã khổ vì sự phát triển của tư bản chủ nghĩa lại còn khổ vì sự phát triển ấy chưa được đầy đủ”[33, 205]. Bối cảnh kinh tế 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cùng với những cải tổ trong lĩnh vực chính trị, chính quyền thuộc địa cũng bắt tay vào tiến hành cái tổ trong lĩnh vực kinh tế-tài chính, đầu tiên là chú trọng cải cách chế độ thuế. Chính quyền tiến hành phương thức đánh thuế theo đầu người với hai loại thuế: thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu bao gồm thuế thân, thuế nhân lực, thuế ruộng đất, thuế thuyền trên sông và thuế tài nguyên, thuế môn bài và thuế xe.

Thuế gián thu gồm thuế xuất nhập khẩu và các sắc thuế quan khác như thuế quá cảnh, thuế thống kê, thuế thông thuyền, thuế tiêu thu rượu Âu và rượu bản xứ, thuế lưu hành thuốc lá, thuế tiêu thụ dầu hỏa, thuế tiêu thụ diêm, thuế khai thác mỏ, thuế xuất khẩu gạo, thuế tiêu thụ thuôc nổ, tiền bán thuốc phiện, tiền bán rượu bản xứ, tiền bán muối”[7, 101]. Nhà nước độc quyền đánh thuế, tiêu thụ và quản lý ba mặt hàng rượu, muối, thuốc phiện. Việc đánh thuế gián thu đem lại một nguồn thu đáng kể, cung cấp trung bình trên dưới 70% tổng số thu của ngân sách Đông Dương; và cốt lõi của chế độ thuế khóa “sự nghiệp thuế khóa của ông Đu-me là sự nghiệp tăng thuế, tăng từ 150% đến 400%”[7, 101]. Nhìn vào đó, người ta tự hỏi thuộc địa Đông Dương với một “nền tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền nông nghiệp phát triển nhanh chóng… thuộc địa Đông Dương… đã làm rạng rỡ văn minh nước Pháp”[25, 112] thực tế có đem lại cho nhân dân thuộc địa những giá trị cần thiết hay chỉ là những khoản sưu thuế-những khoản nợ chính phủ đáng sợ- luôn thường trực trong đời sống của họ? Thực tế người ta cũng đã thấy những hệ thống kỹ thuật và tri thức khoa học của xã hội đã công nghiệp hoá được đưa vào đây.

Đông Dương thay đổi chân trời lịch sử, đi từ văn minh ngựa thồ, xe kéo bước vào kỷ nguyên đường sắt, ô tô, máy bay… Những đầu máy, những dây chuyền sản 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất, những đèn điện… hẳn nhiên làm sửng sốt đại bộ phận cư dân nhưng phần lớn những thành tựu hiện đại này đều nhằm phục vụ đời sống cũng như phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa được thuận lợi hơn. Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer tạo ra một cột mốc mới cho nền kinh tế ở Đông Dương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu chính trị qua Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo (1920-1930)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của báo chí trong bối cảnh chính trị Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20. Tác phẩm phân tích cách mà các tờ báo như Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo đã góp phần vào việc hình thành tư tưởng chính trị và xã hội, đồng thời phản ánh những biến động trong xã hội đương thời. Độc giả sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của báo chí như một công cụ truyền thông và đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực báo chí và đạo đức nghề nghiệp, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ vấn đề đạo đức nghề nghiệp của người làm báo trong thời kỳ đổi mới của cách mạng việt nam, nơi bàn luận về những thách thức và trách nhiệm của nhà báo trong thời kỳ hiện đại. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ sự vận động và phát triển của tiểu phẩm trong báo chí việt nam hiện đại sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển của các thể loại báo chí hiện nay. Cuối cùng, tài liệu Hoạt động của trí thức việt nam trong lĩnh vực báo chí 1930 1945 sẽ cung cấp cái nhìn lịch sử về sự đóng góp của trí thức trong ngành báo chí trong giai đoạn quan trọng này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về vai trò của báo chí trong xã hội Việt Nam.