chương 1 Cơ sở khoa học về thuế Thu nhập cá nhân và tổng quan về các nghiên cứu trước đây Từ tháng 6.2020 đến tháng 8.2020, nhóm tác giả tiến hành các nghiên cứu, thực hiện điều tra và hoàn thiện kết quả điều tra, thực hiện hoàn thiện chương 2 Từ tháng 9.2020 đến tháng 10.2020, trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã có, nhóm tác giả tiến hành thảo luận và hoàn thiện nội dung của chương 3 Tháng 10.2020, nhóm tác giả có kế hoạch xuất bản bài báo khoa học liên quan đến đề tài Tháng 11.2020 và tháng 12.2020, nhóm tác giả thực hiện việc hoàn thiện các vấn đề liên quan đến đề tài và hoàn thành Báo cáo tổng kết cũng như Báo cáo tóm tắt 3 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về thuế Thu nhập cá nhân 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới Thuế TNCN có vai trò quan trọng trong việc huy động nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối và phân phối lại sản phẩm, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vào năm 1797, thuế TNCN được áp dụng đầu tiên tại Hà Lan và nhân rộng ra các nước tư bản chủ nghĩa khác như Anh (năm 1799), Nhật (năm 1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914). Đến nay, đã có khoảng 180 nước áp dụng, thuế TNCN trở thành một sắc thuế quan trọng trong hệ thống chính sách pháp luật thuế của nhiều nước trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về sự tuân thủ thuế, sự không tuân thủ thuế của người nộp thuế được thực hiện khá nhiều, trong sự hiểu biết của tác giả, một số công trình nghiên cứu trên thế giới về tuân thủ thuế, về thuế TNCN như sau: 1.
Ann Dryden Witte (Wellesley University), Helen Tauchen (University of North Carolina) (1987): Tax compliance research: Model, Data and Methods [1]. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi đưa ra các thông tin trên báo cáo thuế, NNT thường tìm các tối đa hóa lợi ích của mình, cụ thể làm khai giảm và không khai thuế, nghiên cứu đã đưa mô hình về tính tuân thủ thuế, đánh giá mối quan hệ giữa tần suất kiểm tra, mối quan hệ giữa CQT và NNT, lựa chọn đối tượng kiểm tra với mức độ tuân thủ thuế. Nghiên cứu này đã chỉ ra một cách đầy đủ về tuân thủ thuế từ mối quan hệ giữa CQT với cộng đồng; nghiên cứu này đã đưa ra tháp tuân thủ, trong đó, số lượng NNT được chia thành 4 nhóm tương ứng với mức độ tuân thủ pháp luật của họ và cơ quan thuế có biện pháp tương ứng với từng nhóm NNT này để đảm bảo sự tuân thủ tốt nhất 3, “Fundamental reform of personal income tax in OECD countries: trends and recent experiences” (Cải cách cơ bản thuế thu nhập cá nhân ở các nước OECD: những xu hướng và kinh nghiệm mới nhất) năm 2006 của tác giả Bert Brys và Christopher Heady thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế OECD [4]. Nghiên cứu xem xét các xu thế hiện nay trong hệ thống thuế thu nhập cá nhân của các nước thành viên tổ chức OECD.
Đồng thời, nghiên cứu đã nêu lên kinh nghiệm về thuế cân bằng và hệ thống thuế thu nhập cá nhân, đồng thời cung cấp những hiểu biết đối với quá trình cải cách hệ thống thuế thu nhập cá nhân. “Full Paying taxes 2011, 2012” (Nộp thuế 2011, 2012: Bức tranh toàn cảnh) [15], ấn phẩm đánh giá hệ thống thuế toàn thuế giới của các nhà nghiên cứu của ngân 4 hàng thế giới, tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và Price Waterhouse và Cooper PWC Nghiên cứu này xem xét tác động của thuế tới doanh nghiệp trên cả khía cạnh số thuế phải nộp và gánh nặng tuân thủ, đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra cách thức chính phủ đang phấn đấu để cải thiện hệ thống thuế nước mình như thế nào, một số cách thức để đạt được kết quả đó với xu hướng tập trung vào việc cải thiện công tác hành chính của hệ thống thuế bao gồm: ứng dụng hệ thống kê khai, nộp thuế điện tử, giảm số lượng các sắc thuế đánh trên một cơ sở tính thuế và sử dụng quy trình tự kê khai, tự nộp thuế 5. Báo cáo “Việt Nam thực hiện thuế thu nhập cá nhân” năm 2008 của nhóm tác giả John Tomaso, Kyoshi Nakayama, Frank Bosch, Allan Foubister và Judy Tomaso thuộc Quỹ tiền tệ quốc tế IMF[10]. Báo cáo này đã mô tả các đặc điểm cơ bản của thuế TNCN mới ở Việt Nam, những ảnh hưởng của nó đối với việc quản lý thuế, rà soát cách tiếp cận hiện hành của cơ quan thuế Việt Nam đối với việc quản lý thuế TNCN.
Ernst and Young (2016), Worldwide Personal Tax and Immigration Guide [6]. Nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân nhập cư và thuế thu nhập cá nhân toàn cầu 7. Xu, H and Cui, H (2009), Personal Income Tax Policy in China and the United State [17]: A Comparative Analysis, Public Administration Review, Special Issue. Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phải cải cách thuế thu nhập cá nhân công bằng ở Trung Quốc.
Sử dụng bài học từ Hoa Kỳ, một chương trình nghị sự cho nghiên cứu trong tương lai về chính sách thuế được vạch ra đối với chính phủ Trung Quốc 8. Ern Chen Loo et al (2009) Margaret mckerchar và Hansford. Understanding the compliance behaviour of malaysian individual taxpayers using a mixed method approach, Journal of the Australasian Tax Teachers Association, 4: 1-11 [7]. Nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế cá nhân tại Malaysia bằng phương pháp tiếp cận hỗn hợp 9.
Theo Merima Ali et al (2013), Factors affecting tax compliant attitude in Africa: Evidence from Kenya, Tanzania, Uganda and South Africa, Paper prepared for Centre for the Study of African Economies 2013 Conference Oxford, 17–19 March: 1-13 [13]. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ tuân thủ thuế ở Châu Phi, tác giả đã khẳng định rằng: sự hiểu biết về thuế có tính chất tương quan thuận đối với hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế.2 Các nghiên cứu trong nước Thứ nhất, theo hướng quản lý thuế TNCN, nhiều nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu với các nội dung liên quan đến chính sách, cơ chế quản lý từ khi Luật thuế TNCN có hiệu lực; đánh giá tác động của chính sách thuế TNCN 5 trong các giai đoạn nhất định. Cụ thể, như là: 1. “Vietnamese Personal Income tax Reform” (cải cách thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam của Shigeki Kunieda (Đại học Hitosubashi) và Đỗ Ngọc Huỳnh (Bộ Tài chính) [26].
Nghiên cứu đã đánh giá tình hình cải cách thuế TNCN ở Việt Nam trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó đề xuất chính sách thuế TNCN hiện đại áp dụng vào Việt Nam trong giai đoạn trung và dài hạn. Luận án tiến sĩ “Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2010 của tác giả Lý Phương Duyên [20]. Tác giả đã đưa ra khái niệm quản lý thuế, khẳng định khái niệm quản lý thuế TNCN cũng không nằm ngoài khái niệm chung về quản lý thuế. Tác giả đã đưa ra những đặc điểm của quản lý thuế TNCN, đó là: quản lý thuế TNCN là hoạt động rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng từ phía người nộp thuế; hoạt động quản lý thuế TNCN là hoạt động phức tạp đòi hỏi có trình độ quản lý cao và luôn gắng với chủ trương, chính sách phát huy vai trò quản lý thuế TNCN của Nhà nước 3.
Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân” năm 2013 của tác giả Nguyễn Hoàng [23]. Nghiên cứu này đã làm rõ những nội dung lý luận về vai trò của nhà nước trong việc xây dựng chính sách thuế thu nhập cá nhân, hoàn thiện vai trò quản lý nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. Nghiên cứu chú trọng đến những tác động đến ý thức tự giác tuân thủ thuế của người nộp thuế. Cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhận của Việt Nam hướng tới mục tiêu tái cấu trúc ngân sách nhà nước, Trương Bá Tuấn, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính – Bộ Tài chính, 2017 [37] đã đưa ra các giải pháp: tiếp tục mở rộng cơ sở thuế; Việt Nam cần điều chỉnh chính sách thuế TNCN đối với các khoản đóng góp an sinh xã hội; Thực hiện đơn giản hóa, giảm số bậc thuế trong biểu thuế, tạo thuận lợi cho công tác kê khai, nộp thuế; Điều chỉnh mức thuế suất và phương thức thu đối với thu nhập từ chuyển nhượng, đầu tư vốn; Tiếp tục duy trì mức giảm trừ gia cảnh như hiện hành để không làm giảm đối tượng chịu thuế, ảnh hưởng đến mức độ động viên từ sắc thuế này, ít nhất là cho đến năm 2020; Thực hiện đơn giản công tác kê khai, quyết toán thuế TNCN.
Cùng với các điều chỉnh về cơ sở tính thuế, cơ cấu biểu thuế và thuế suất, cải cách chính sách thuế TNCN phải hướng tới việc đảm bảo sự đơn giản và minh bạch, hiệu quả trong hành thu trên cơ sở hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế TNCN theo các các định hướng chung trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 Thứ hai, về nội dung nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế, nội dung này cũng thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học. Cụ thể: 6 Năm 2011, Học viện tài chính đã tổ chức Hội thảo khoa học chuyên đề về tuân thủ thuế tại Hà Nội, hội thảo đã thu hút nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong cả nước. Một số công trình tiêu biểu đó là: - Thúc đẩy tính tuân thủ thuế - từ quan điểm cổ điển đến hiện đại và thực tiễn Việt Nam, PGS. Lê Xuân Trường [36]; - Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế và tính hiệu lực trong quản lý thuế, TS.
Lý Phương Duyên [21]; - Tính tuân thủ của người nộp thuế và hiện đại hóa quản lý thuế, PGS. Nguyễn Thị Liên [29]; - Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế hướng tới quản lý tuân thủ, Ths.