CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm cơ bản về chính sách sách giảm nghèo bền vững 1. Nghèo Nghèo không chỉ tồn tại các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, mà còn tồn tại ở cả quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, tùy thuộc vào thể chế chính trị, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà quan niệm về nghèo của từng quốc gia có khác nhau.
Trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc với nhan đề “Khắc phục sự nghèo khổ của con người”, nghèo được hiểu trên các chiều cạnh: (i) Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, tham gia vào các quyết định cộng đồng và được nuôi dưỡng tạm đủ; (ii) Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu; (iii) Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu[16]. Tại hội nghị bàn về xóa đói, giảm nghèo trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương do Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9 năm 1993, đã đưa ra khái niệm về nghèo như sau: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương [16]. Đây là khái niệm nghèo được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, nghèo là khái niệm chỉ tình trạng một bộ phận dân cư không có hoặc ít được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện [16].
Đây là khái niệm mà luận văn lựa chọn làm chuẩn trong thực hiện nghiên cứu. Khái niệm nghèo đa chiều Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng 10 n trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”.
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản. Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không chỉ liên quan đến mức thu nhập mà còn bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội (DVXH) cơ bản.
Chỉ số nghèo đa chiều của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống. Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013.
Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Dựa trên tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ, từng khu vực Việt Nam thực hiện đánh giá đói nghèo theo các tiêu chí theo các giai đoạn, như: Tiêu chí xác định hộ nghèo giai đoạn 2011-2015 và Chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025 là nội dung trọng tâm được đề cập trong Nghị định 07/2021/NĐ-CP mà Chính phủ vừa mới ban hành gần đây. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2021.
Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025 được quy định như sau: 11 n Về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 - 2025, các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí thu nhập và tiêu chí mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản. Cụ thể, tiêu chí thu nhập với khu vực nông thôn 1,5 triệu đồng/người/tháng, khu vực thành thị 2 triệu đồng/người/tháng. Tiêu chí mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản gồm các DVXH cơ bản (sáu dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin. Cùng với đó là các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin.
DVXH cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản và ngưỡng thiếu hụt được quy định cụ thể tại Phụ lục ban hành kèm Nghị định này. Nghị định cũng quy định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 - 2025. Cụ thể, về chuẩn hộ nghèo, ở khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản trở lên. Ở khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản trở lên.
Về chuẩn hộ cận nghèo, ở khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản. Ở khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt dưới ba chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt DVXH cơ bản. Về chuẩn hộ có mức số trung bình, với khu vực nông thôn là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng hơn 1,5 triệu đồng đến 2,25 triệu đồng. Với khu vực thành thị, là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng hơn 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng.
Giảm nghèo bền vững “Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 12 n trước 2000. Nhưng đến năm 2008, cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam, đó là: Nghị quyết số 30a/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020 và một số văn bản hành chính của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thống về “giảm nghèo bền vững”. Do vậy, để tìm hiểu khái niệm về giảm nghèo bền vững, cần tìm hiểu một số thuật ngữ thường hay sử dụng như: Nghèo kinh niên: Là tình trạng người hay hộ nghèo được xác định là nghèo liên tục trong nhiều năm, thường là từ 3 năm trở lên [21].
Thoát nghèo: Là tình trạng một hộ trước thời điểm điều tra rà soát hộ nghèo là nghèo, nhưng tại thời điểm điều tra rà roát hộ nghèo đã có mức thu nhập bình quân cao hơn chuẩn nghèo quy định. Tái nghèo: Là tình trạng một hộ gia đình hay người nghèo đã thoát nghèo nhưng lại rơi vào nghèo sau một thời gian nhất định, thường là dưới 3 năm. Thoát nghèo bền vững: Một hộ được gọi là thoát nghèo bền vững nếu hộ đó đang là hộ nghèo đã có thu nhập ổn định trên mức chuẩn nghèo theo quy định, họ không bị tái nghèo và có đủ kỹ năng để ứng phó với những bất lợi, rủi ro xảy ra. Giảm nghèo: Trong một số tài liệu, văn bản hành chính của nhà nước ta, giảm nghèo được hiểu là làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trên một địa bàn; hay giảm nghèo cũng có thể được hiểu là kết quả của sự nỗ lực của nhà nước, cộng đồng và người dân làm cho hộ nghèo, người nghèo vươn lên đạt được mức thu nhập vượt trên mức chuẩn nghèo quy định, đồng thời đảm bảo mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm và tiếp cận thông tin.
Để đạt được yêu cầu tính bền vững của hoạt động giảm nghèo, cần phải kết hợp và thoả mãn cả hai yếu tố, đó là giảm nghèo và thoát nghèo bền vững (không tái nghèo). Điều đó thể hiện trên các khía cạnh tạo cơ hội cho người nghèo thoát nghèo, ổn định và không ngừng tăng thu nhập để không bị tái nghèo khi có các tác động bất lợi của tự nhiên và xã hội. Về nguyên tắc, giải quyết vấn đề giảm nghèo bền vững cần đảm bảo trên cả 2 phương diện số lượng và chất lượng. Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ 13 n nghèo giảm được trong một khoảng thời gian nhất định.