mở đầu cho nền nhân trắc học hiện đại là nghiên cứu của Le R. và cộng sự trên các binh sĩ Pháp trong những năm 1960-1970 cho thấy, tầm vóc của tân binh Pháp rất đa dạng và phù hợp với đặc điểm kinh tế-xã hội nơi họ sống [86]. Tại Mỹ, các nghiên cứu diễn ra muộn hơn, điển hình là một nghiên cứu vào cuối những năm 1970 trên các nô lệ. Đến những năm 1980, nhiều công trình nhân trắc học đã ra đời, phạm vi nghiên cứu mang tính quốc gia, thậm chí liên kết giữa nhiều quốc gia.
Ví dụ, nghiên cứu có quy mô lớn của Cục nghiên cứu Kinh tế (NBER) ở Mỹ và Châu Âu. Nghiên cứu này đã sử dụng thống kê nhân trắc học để phân tích sự tác động của công nghiệp hóa, cũng như các đặc điểm của chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ. Sau đó, từ năm 1980 đến năm 1990, phạm vi của các 8 nghiên cứu đã phát triển mạnh, di chuyển ra ngoài châu Âu và Bắc Mỹ để đến châu Á, châu Úc và châu Phi. Tại Anh, vào thế kỷ XIX sự phát hiện về tầm vóc thấp bé của trẻ em đã trở thành động lực cho các cuộc điều tra nhân trắc học có quy mô lớn, cũng như những nỗ lực phát triển các phong trào phúc lợi cho trẻ em.
Đến đầu thế kỷ XX việc nghiên cứu các chỉ số hình thái được diễn ra đồng loạt hầu hết ở các nước phát triển, như nghiên cứu theo chiều dọc ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Những nghiên cứu đó có thể được xem như là bước chuyển tiếp giữa nhân trắc đương đại và lịch sử. Từ những năm 1950, nhân trắc học đã được sử dụng cho nhiều mục đích trong các nước phát triển và nước kém phát triển. Kết quả nghiên cứu được sử dụng làm giá trị tham chiếu tại thời điểm nghiên cứu, giám sát tình trạng dinh dưỡng của cá thể, quần thể và để đánh giá hiệu quả của các chương trình phát triển kinh tế.
Nhìn chung, các chỉ số nhân trắc được mô tả trong các nghiên cứu sơ khai chỉ là các con số riêng lẻ, rời rạc, đơn độc. Sau này, việc nghiên cứu mang tính quy mô, với số lượng lớn hơn đã khiến các nhà khoa học phải đưa toán học, thống kê vào nghiên cứu để nhận định và phân tích, nhằm rút ra các kết luận có ý nghĩa hơn. (1796-1874) là một nhà toán học người Bỉ, nhà thiên văn học và thống kê đã là người đầu tiên áp dụng thuật toán thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu. Vào năm 1831-1832, Quetelet đã tiến hành đo các chỉ số chiều cao của trẻ sơ sinh và trẻ em, sau đó ông mở rộng việc nghiên cứu trên người lớn.
Chính việc áp dụng toán học đã giúp ông kết luận là từ sau khi sinh đến tuổi dậy thì tốc độ tăng trưởng ở mỗi giai đoạn không giống nhau. Ông kết luận "trọng lượng tăng theo bình phương của chiều cao” và tỷ số đó được gọi là chỉ số Quetelet. Sau này, đến năm 1972 Keys A. Việc ghép các chỉ số nhân trắc lại với nhau khiến giá trị của chúng trở nên có ý nghĩa vì nó không chỉ 9 mô tả về kích thước mà còn tính được mối tương quan giữa các phần của cơ thể [69].
Về mặt lý luận, nhân trắc học cho phép chúng ta tìm ra các quy luật về sự phát triển cơ thể, phân loại dạng người, các nhóm chủng tộc và tìm hiểu nguồn gốc loài người. Hiện nay, tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta chia ra các loại nhân trắc học chuyên nghiên cứu sự khác nhau về hình thái các chủng tộc loài người là cách nghiên cứu cơ bản, thu thập số đo cơ thể trong chu kỳ sống để xây dựng giá trị tiêu chuẩn về hình thái của con người thế kỷ XXI. Nhân trắc học đường nghiên cứu thể lực và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe học sinh, nhân trắc thể dục thể thao, nhân trắc nghề nghiệp, nhân trắc y học nghiên cứu sự phát triển của trẻ em qua các thời kỳ…[33], [66]. Thành tựu lớn của nghiên cứu nhân trắc học từ trước đến nay trên thế giới đã không chỉ xác định được xu hướng phát triển tầm vóc cơ thể của con người, mà còn tập trung vào phân tích các mối liên quan đến sự phát triển hình thái.
Sự hình thành tầm vóc trên trẻ em phụ thuộc vào sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố. Các yếu tố đó tác động không giống nhau, có yếu tố thúc đẩy và có yếu tố làm hạn chế sự phát triển. Về cơ bản, các yếu tố được phân thành yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh. Yếu tố nội sinh bao gồm hệ nội tiết, yếu tố di truyền, giới, chủng tộc, các bất thường bẩm sinh.
Yếu tố ngoại sinh gồm môi trường và khuynh hướng tăng trưởng, trong đó yếu tố môi trường bao gồm điều kiện kinh tế xã hội, dinh dưỡng, khí hậu, mùa, các stress tâm lý, hoạt động thể chất, bệnh tật. Các yếu tố này tương tác với nhau trong thời kỳ phát triển để đưa ra một kiểu hình đặc trưng cho từng trẻ [5], [15], [40], [44]. Các kết luận đã được công bố về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hình thái ở trẻ em rất nhiều. Trong đó, các yếu tố di truyền, chủng tộc được quan tâm đặc biệt.
Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực này đã xác định chiều cao là một đặc điểm di truyền do nhiều gen quy định [120], [127]. Yếu tố gia đình, chủng tộc tác động lên sự tăng trưởng của trẻ khá lớn [115]. Ước 10 tính mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền đến sự phát triển cơ thể được tác giả Rogol A. thống kê là từ 41% đến 71% [105].
Tầm vóc tối đa của trẻ liên quan đến tầm vóc của cả cha lẫn mẹ. Hình dáng của trẻ mập hay gầy cũng phụ thuộc vào thể trạng của cha mẹ và các thành viên trong gia đình. Nếu trẻ được sinh ra trong gia đình có các thành viên bị béo phì thì sẽ có khả năng bị béo phì (hệ số tương quan = 3,62) [121]. Do phụ thuộc vào yếu tố di truyền nên các chủng tộc khác nhau có hình thái khác nhau.
Một nghiên cứu trên người châu Á và người da trắng cho thấy, người châu Á có chỉ số BMI thấp hơn so với người da trắng, do cân nặng, chiều cao, và kích thước xương của người châu Á nhỏ hơn người da trắng. Tuy nhiên, người châu Á có lớp mỡ dưới da dày hơn so với người da trắng [126]. Nhóm yếu tố thứ hai là giới tính. Nghiên cứu của Ellis J.
đã tìm thấy mối liên quan giữa chiều cao với gen chiều cao nằm trên nhiễm sắc thể Y, điều này khiến cho chiều cao của nam giới lớn hơn so với của nữ giới [70]. Nhóm yếu tố thứ ba là môi trường sống. Bên cạnh yếu tố di truyền, yếu tố môi trường sống ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển chiều cao và cân nặng của trẻ. Yếu tố môi trường tương tác với yếu tố di truyền trong suốt thời kỳ tăng trưởng của trẻ.
Trẻ em có các kiểu gen tương tự nhau, được nuôi trong điều kiện tốt sẽ đạt được chiều cao trưởng thành lý tưởng hơn những trẻ có hoàn cảnh bất lợi. Các yếu tố môi trường quan trọng là điều kiện kinh tế xã hội, dinh dưỡng, khí hậu và stress tâm lý. Đa số các nghiên cứu đều cho thấy, tình trạng kinh tế của gia đình, đất nước và nền văn hóa ảnh hưởng đến các thông số tăng trưởng của trẻ em. Những trẻ được sống trong môi trường có điều kiện tốt về kinh tế sẽ có khả năng tăng trưởng nhanh hơn trẻ sống trong xã hội có nền kinh tế nghèo nàn, trẻ ở các nước phát triển có chiều cao lớn hơn so với trẻ sống ở các nước đang phát triển và kém phát triển.
Trẻ sống ở nông thôn nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, thiếu thốn có tỷ lệ bị suy dinh dưỡng cao hơn so với các trẻ sống ở vùng thành thị [51], [88]. 11 Điều kiện nuôi dưỡng như dinh dưỡng ở thời kỳ trong tử cung, dinh dưỡng sau sinh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tầm vóc và sự phát triển của trẻ sau này. Nếu trong quá trình mang thai, chế độ dinh dưỡng của người mẹ không đầy đủ hoặc do bị nhiễm độc thai nghén, thai sẽ bị chậm tăng trưởng, trẻ khi sinh ra sẽ nhẹ cân [40]. Còn nếu trẻ phải sống ở điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, môi trường thiếu vệ sinh, không đủ nước sạch, không đủ số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng cần thiết, cũng như chăm sóc không tốt sẽ bị suy dinh dưỡng thấp còi.
Các yếu tố khiến trẻ bị stress có thể là do sống ở môi trường quá chật hẹp đông đúc, bạo lực gia đình, áp lực học tập, thiếu thốn tình cảm…đều góp phần làm chậm tăng trưởng ở trẻ. Nguyên nhân gia đình quá đông sẽ khiến trẻ phải chia sẻ không gian chơi, đặc biệt là trẻ không có một chỗ ngủ riêng tư, dẫn đến rối loạn giấc ngủ thường xuyên do bị quấy rầy, do tiếng ồn quá mức. Rối loạn giấc ngủ khiến cho sự bài tiết hormon tăng trưởng (GH) có thể bị giảm, dẫn đến tăng trưởng của trẻ chậm lại [40], [57], [124]. Một nghiên cứu cho thấy, có 31,1% số trẻ em đã trải qua xung đột gia đình có tầm vóc thấp hơn 20,2% so với số trẻ được sống trong môi trường hòa thuận, và có 44,0% số trẻ em ở các hộ gia đình đông đúc có vóc người thấp bé hơn 16,4% so với số trẻ sống ở những gia đình ít con [96].
Nhìn chung, khi nghiên cứu trên trẻ em, các kết luận được rút ra là sự tăng trưởng của trẻ có xu hướng tốt lên theo thời gian. Ở thế kỷ XIX sự gia tăng về chiều cao đạt được ở tuổi trưởng thành là 1-3 cm/thập kỷ [64]. Tương tự, xu hướng tăng cân nặng cũng theo chiều hướng tích cực. Trẻ em ngày nay có chiều dài thân, vòng ngực, độ dày lớp mỡ dưới da, khối lượng cơ, đặc biệt là chiều dài của đùi, đã tăng lên rõ rệt ở cả hai giới [40].
Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu, hiện nay sự gia tăng về chiều cao tối đa ở trẻ em để đạt được chiều cao lớn nhất ở tuổi trưởng thành đã ngừng ở một số nước như Na Uy, Anh, Hà Lan [104], [110]. 12 Các nghiên cứu ở Châu Á ở thế kỷ XXI, Thái Lan (2012) đã công bố từ năm 1975 đến năm 2012 chiều cao trung bình của trẻ trai và trẻ gái đã tăng lên tương ứng là 1,32 cm và 0,86 cm ở mỗi thập kỷ [81].