Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi phí y tế 1. Khái niệm và phân loại chi phí Theo cách hiểu thông thường, chi phí là giá trị của các nguồn lực và thường quy ra giá trị là tiền được sử dụng để sản xuất một sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Trong kinh tế y tế, chi phí là toàn bộ nguồn lực quy ra tiền mà một cơ sở y tế phải chi ra để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ y tế[39].
- Có nhiều cách để phân loại chi phí khác nhau.Theo truyền thống, chi phí thường được đề cập đến là: Chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp, chi phí vô hình và tổng chi phí. - Dưới góc độ người sử dụng, chi phí y tế mang hàm y chi tiêu và liên quan đến giá nhiều hơn là chi phí và có thể phân chia thành: + Chi phí trực tiếp: chi phí trực tiếp cho y tế(như chi phí cho thăm khám, làm xét nghiệm, chi phí giường, chi phí thuốc….) và chi phí trực tiếp ngoài y tế (như chi phí do đi lại, ăn uống trong thời gian điều trị…. + Chi phí gián tiếp: chi phí mất đi do mất thu nhập vì tử vong sớm hoặc do giảm năng suất lao động do ốm đau, bệnh tật. + Ngoài ra, nhiều tác giả còn đề cập đến một loại chi phí nữa là chi phí vô hình, liên quan đến những đau khổ, lo lắng và những tác động đến chất lượng cuộc sống do ốm đau, bệnh tật hoặc trong quá trình điều trị.
Trong nghiên cứu này, nhóm chi phí được quan tâm đến là chi phí từ phía người sử dụng y tế. Do hạn chế về nguồn lực, thời gian và quy mô đề tài nên chỉ tìm hiểu các chi phí trực tiếp cho y tế( chi phí được thanh, quyết toán bảo hiểm y tế) 4 Sơ đồ 1. Phân loại chi phí 1. Cách tính chi phí cho người sử dụng dịch vụ y tế Chi phí trực tiếp Chi phí trực tiếp là tổng những chi phí giải quyết trực tiếp bệnh tật[39].
Tổng Chi phí điều trị = Chi phí khám bệnh + chi phí giường bệnh + chi phí thuốc + chi phí xét nghiệm + chi phí vật tư tiêu hao + chi phí chẩn đoán hình ảnh, thăm do chức năng. ∑ chi phí điều trị Chi phí trung bình trên đợt điều trị = ∑ số lượt điều trị Bệnh Rối loạn tâm thần là bệnh mãn tính nên chi phí điều trị thường được đánh giá trong một giai đoạn nhất định, thời gian đánh giá có thể là từng năm, từng tháng, từng đợt điều trị. Phương pháp phân tích chi phí bệnh tật 1. Khái quát về phân tích chi phí bệnh tật Phương pháp phân tích chi phí bệnh tật - Cost of illness (COI) đánh giá nguồn lực đã sử dụng cho phòng ngừa, điều trị, mất mát do bệnh tật và tử vong, từ đó sẽ xác định tổng chi phí gây ra bởi bệnh tật hay tử vong.
Các chi phí của phương pháp này thường được tóm lược trong 2 loại là chi phí trực tiếp (hay chi phí liên quan đến phòng ngừa, khám chữa bệnh…) và chi phí gián tiếp (hay chi phí giảm năng suất lao động do mắc bệnh). Nghiên cứu chi phí bệnh có thể chỉ ra tầm quan trọng của các nguồn lực dành cho một bệnh cụ thể, và có thể sử dụng để so sánh tác động kinh tế của bệnh này với bệnh khác hoặc tác động kinh tế của cùng một bệnh ở các quốc gia khác nhau. Ước tính chi phí bệnh tật có thể cung cấp chỉ số cho thấy gánh nặng kinh tế của các bệnh cụ thể, từ đó đưa ra định hướng quan trọng trong hoạch định chính sách, xác định thứ tự ưu tiên của các chương trình, dịch vụ y tế và nâng cao hiệu quả quản lý sức khỏe cộng đồng. Ở cấp độ vi mô, các nhà nghiên cứu sử dụng dữ liệu chi phí bệnh để làm cơ sở đánh giá chi phí - hiệu quả.
Với kinh tế vĩ mô, phân tích chi phí bệnh là cơ sở hoạch định chính sách làm thế nào để sử dụng các nguồn lực có hạn một cách hiệu quả nhất[33],[39], [50]. Các bước trong phân tích chi phí điều trị Tính toán chi phí gồm 3 bước cơ bản: xác định nguồn lực đầu vào, đo lường các nguồn lực đầu vào, định giá các nguồn lực đầu vào [33],[39],[50]. - Xác định nguồn lực đầu vào: quan điểm từ nhà cung cấp dịch vụquan tâm chi phí của các cơ sở y tế; quan điểm cá nhân/ hộ gia đình (những khoản chi phí trực tiếp từ túi người bệnh và gia đình cùng những chi phí gián tiếp như đau đớn, mất mát về tinh thần…); quan điểm xã hội (bao gồm tất cả các nguồn lực mà xã hội sử dụng để điều trị bệnh). - Đo lường các nguồn lực đầu vào: Dựa vào hóa đơn thanh toán và phiếu phỏng vấn, các thông tin về ngày giường điều trị; thuốc; vật tư y tế; phẫu thuật - 6 thủ thuật; cận lâm sàng; chi phí khám được thống kê theo số lượng sử dụng của mỗi bệnh nhân.
Những thông tin về chi phí ăn uống, đi lại và chi phí trông người bệnh được thống kê theo khả năng chi trả của người bệnh. Chi phí đơn vị của từng loại chi cho y tế được áp dụng theo danh mục giá của bệnh viện. - Định giá các nguồn lực đầu vào: sau khi thu thập đầy đủ các thông tin về số lượng và chi phí đơn vị cho từng loại nguồn lực đầu vào, bước cuối cùng là tiến hành tính toán và phân tích các chỉ số về chi phí cần quan tâm. Tổng quan về bệnh Rối loạn tâm thần 1.
Dịch tễ học Rối loạn tâm thần 1. Thế giới Rối loạn tâm thần là một nhóm bệnh không lây nhiễm có tỷ lệ mắc cao trong dân số chung, tỷ lệ bệnh có khác nhau theo nhóm tuổi, theo nghề nghiệp, theo chủng tộc và theo mỗi quốc gia. Theo công bố năm 2011, tỷ lệ mắc các chứng tâm thần trong dân số chung của 11 nước trong một nghiên cứu có tỉ lệ cao nhất là nước Mỹ 58%, thấp nhất là Trung Quốc 17.4%, được thể hiện cụ thể tỉ lệ mắc bệnh Tâm thần tại Mỹ 58%, Newzealand 47%, Ukraina 43,1%, Australia 40,4%, Colombia 37,4%, Cebanon 36%, Iran 28,8%, Canada 21,9%, Bắc Kinh 17,4%[4], [47]. Việt Nam Theo thống kê sơ bộ của nước ta cũng như trên Thế Giới tỷ lệ người mắc các loại bệnh Tâm thần có đến 20% dân số.
Theo số liệu thống kê từ các bệnh viện từ 1976 đến 2012, trong số bệnh nhân nhập viện hằng năm, tỷ lệ của các bệnh không lây nhiễm tăng tương ứng từ 42,6% lên 66,3%. Gánh nặng do các bệnh không lây nhiễm đã tăng từ 60,1% năm 2010 lên 66,2% năm 2012. Chăm sóc sức khỏe Tâm thần cộng đồng và trẻ em tính đến năm 2015 đã đạt tỷ lệ bao phủ 63,6%. Mô hình này được nhân rộng dần [8].
7 Trong một khảo sát các Rối loạn tâm thần tại Bệnh viện Tâm thần Bến Tre ghi nhận 20% rối loạn trầm cảm, 35,7% rối loạn lo âu, 1,5% chậm phát triển tâm thần, 5,1% rối lọan tâm thần cấp, 6,5% rối loạn tâm thần thực tổn, 4,6% rối loạn tâm thần do nghiện chất, 31,4% có bệnh lý nội khoa kèm theo[15]. Các phương pháp điều trị rối loạn tâm thần 1. Hóa dược Tầm quan trọng của liệu pháp hoá dược:Việc điều trị bằng thuốc đóng vai trò quan trọng nhất cho điều trị bệnh tâm thần.Thuốc giảm hoặc khỏi các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác, hưng cảm, tăng động, trầm cảm lo âu và chống tái phát rối loạn cảm xúc lưỡng cực[8]. Phân loại thuốc hướng tâm thần thành 4 nhóm chính: - Thuốc chống loạn thần: Điều trị các rối loạn tâm thần, chẳng hạn như tâm thần phân liệt, rối loạn lưỡng cực, trầm cảm.
- Thuốc bình thần: Điều trị rối loạn lo âu, chẳng hạn như rối loạn lo âu tổng quát hoặc rối loạn hoảng sợ tác dụng giảm kích động và mất ngủ. Thuốc chống lo âu tác dụng nhanh giúp giảm đau trong thời gian ngắn, đôi khi cũng có khả năng gây ra sự phụ thuộc, vì vậy nên sử dụng trong thời gian ngắn. - Thuốc chống trầm cảm: Điều trị trầm cảm, lo lắng và một số các bệnh lý khác tác dụng cải thiện các triệu chứng như buồn bã, tuyệt vọng, thiếu năng lượng, khó tập trung và thiếu hứng thú với các hoạt động. Thuốc chống trầm cảm không gây nghiện và không gây phụ thuộc.
- Thuốc chỉnh khí sắc: Thuốc ổn định tâm trạng được sử dụng phổ biến nhất để điều trị rối loạn lưỡng cực, bao gồm các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm đan xen. Đôi khi thuốc ổn định tâm trạng được sử dụng cùng với thuốc chống trầm cảm để điều trị chứng trầm cảm. 8 Nguyên tắc sử dụng các thuốc hướng tâm thần: Dùng càng sớm càng tốt. Điều trị kéo dài.
Điều chỉnh các tác dụng phụ của thuốc. Kết hợp với liệu pháp tâm lý - xã hội. Tâm lý trị liệu 1. Phục hồi chức năng 1.
Phương pháp khác 1. Gánh nặng về chi phí điều trị rối loạn tâm thần Theo tác giả Fran Lowry, kết quả phân tích số liệu công bố 2019 tại Mỹ. Chi phí chăm sóc điều trị các loại bệnh Tâm thần đứng đầu danh sách chi phí chữa bệnh cao nhất, lên tới 200 tỷ đô la, cao hơn điều trị các nhóm tim mạch, đột quỵ, kể cả bệnh ung thư. Các nhà nghiên cứu cho biết chi phí điều trí nội trú chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ chi phí danh sách chăm sóc sức khoẻ[48].
Các chi phí điều trị phụ thuộc rất nhiều vào công tác chẩn đoán và kê đơn, phương pháp điều trị và thời gian điều trị.Tổng quan về khám chữa bệnh bảo hiểm y tế 1. Khái niệm BHYT Căn cứ Điều 2, Luật BHYT số 01/VBHN-VPQH quy định chi tiết về khái niệm Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Mức thanh toán Bảo hiểm y tế Theo quy định luật Bảo hiểm y tế (BHYT) từ 2021, người có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh trái tuyến tại bệnh viện tuyến tỉnh được quỹ BHYT thanh toán theo mức hưởng quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2008 (mức hưởng khi đi khám đúng tuyến) theo tỷ lệ là 100% chi phí điều trị nội trú trong phạm vi cả nước (hiện hành là 60%)[17],[19], [28],[31]. 9 - Đối với trường hợp thẻ BHYT có mức hưởng 80% chi phí KCB: Từ 01/01/2021, đi KCB trái tuyến tỉnh được chi trả theo tỷ lệ là 100% của 80% chi phí điều trị nội trú (tức 80% chi phí điều trị nội trú).