LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cracking xúc tác tầng sôi (Fluid Catalytic Cracking – FCC) là một quá trình quan trọng trong nhà máy lọc dầu nhằm chuyển hóa phân đoạn c n n ng, nhiệt độ sôi cao (>360 oC) thành các sản ph m có giá trị kinh tế nhƣ xăng động cơ và olefin nh , chủ yếu là propylen làm nguyên liệu cho tổng hợp hóa dầu. Xúc tác cracking công nghiệp (xúc tác FCC) đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của phân xƣởng FCC. Trƣớc đây, xúc tác FCC chủ yếu d ng alumo-silicat vô định hình.
Nhƣng từ 1964 trở lại đây, hầu hết công nghệ FCC đều sử dụng xúc tác chứa zeolite. Xúc tác zeolite tạo sự thay đổi lớn về hiệu suất, chất lƣợng sản ph m và cả công nghệ FCC. Xúc tác FCC ngày nay bao gồm hai hợp phần chính là pha hoạt tính zeolite và pha nền. Zeolite là thành phần quan trọng nhất của xúc tác FCC, chiếm từ 10-50% khối lƣợng xúc tác và quyết định chính đến khả năng cracking của xúc tác cũng nhƣ hiệu suất sản ph m xăng và khí.
Zeolite sử dụng để chế tạo xúc tác FCC phổ biến là zeolite tổng hợp mao quản lớn Y (0,74 nm) ở dạng siêu bền (khử nhôm) USY ho c trao đổi với đất hiếm nhƣ REY, REUSY. Thành phần quan trọng thứ 2 của xúc tác FCC là pha nền (matrix), chiếm từ 50-90% khối lƣợng. Các nhà sản xuất xúc tác chia pha nền thành 2 phần: phần hoạt động là các alumino-silicat vô định hình, oxit nhôm; phần không hoạt động là các chất trơ nhƣ oxit silic, cao lanh. Pha hoạt động có tính axit thấp hơn so với zeolite, đƣợc sử dụng để tiền cracking các phân tử lớn của nguyên liệu trƣớc khi đƣợc chuyển hóa trên zeolite.
Ngoài chức năng tiền cracking, pha nền có chức năng vật lý hết sức quan trọng nhƣ: giúp kết dính các thành phần của xúc tác và tải nhiệt, là môi trƣờng pha loãng (giúp giảm tác động của tạp chất kim loại nhƣ Ni, V. trong nguyên liệu) và hỗ trợ khuếch tán, pha nền còn giúp tối thiểu sản ph m cốc và phần n ng (bottom) so với xúc tác thông thƣờng. Nhiệm vụ của quá trình chế tạo xúc tác FCC là tạo ra một hỗn hợp zeolite và matrix phối hợp “nhịp nhàng” để cracking nguyên liệu và tạo ra sản ph m tùy theo mong muốn của các nhà lọc hóa dầu.[1, 2] Ở Việt Nam, m c d ngành công nghiệp lọc hóa dầu đã hình thành và phát triển với nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động từ năm 2009 và nhà máy lọc dầu Nghi Sơn từ năm 2018, song cho tới thời điểm hiện tại chƣa có công trình nào tập trung vào xvii nghiên cứu, chế tạo xúc tác cracking công nghiệp định hƣớng ứng dụng cho quá trình FCC. Phần lớn các nghiên cứu về zeolite mới chỉ d ng lại ở tổng hợp và đánh giá hiệu quả xúc tác, hấp phụ nhƣ là pha hoạt tính độc lập.
Với mục tiêu từng bƣớc nắm bắt và làm chủ công nghệ chế tạo xúc tác cracking công nghiệp FCC, Viện Dầu khí Việt Nam đã đƣợc Bộ Khoa học Công nghệ giao nghiệm vụ nghiên cứu chế tạo xúc tác công nghiệp ứng dụng cho phân xƣởng RFCC của NMLD Dung Quất. Nhiệm vụ này đƣợc thực hiện với sự phối hợp của các đơn vị trong và ngoài nƣớc nhƣ Công ty CP Lọc hóa dầu Bình Sơn, Đại Học kỹ thuật Dresden và công ty AIOTEC (CHLB Đức). Do đó, đề tài luận văn Thạc sĩ này đƣợc thực hiện với mục tiêu nghiên cứu sơ bộ quy trình tạo hạt xúc tác cracking dạng công nghiệp phục vụ nghiên cứu chế tạo xúc tác cracking công nghiệp ứng dụng cho phân xƣởng RFCC của NMLD Dung Quất. Mục tiêu đề tài Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu, xây dựng quy trình tạo hạt xúc tác cracking dạng công nghiệp bằng kỹ thuật sấy phun.
Theo đó, các yếu tố ảnh hƣởng chính đến quá trình tạo hạt vi cầu nhƣ nhiệt độ dòng khí sấy, ảnh hƣởng của tính chất nguyên liệu… đƣợc nghiên cứu chi tiết. Sản ph m xúc tác cracking dạng công nghiệp đƣợc đ c trƣng và đánh giá sơ bộ hoạt tính trên mẫu nguyên liệu FCC từ nhà máy lọc dầu Dung Quất sử dụng hệ thiết bị chuyên dụng SCT-MAT tại Phòng thí nghiệm đánh giá xúc tác, Trung Tâm nghiên cứu và Phát triển Chế biến Dầu khí, Viện Dầu khí Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng: Xúc tác cracking dạng công nghiệp - Phạm vi nghiên cứu: + Xây dựng quy trình tạo hạt vi cầu của xúc tác FCC dạng công nghiệp bằng công nghệ sấy phun. + Nghiên cứu đ c trƣng hóa lý và đánh giá hoạt tính của xúc tác cracking dạng công nghiệp chế tạo đƣợc trên mẫu nguyên liệu FCC từ NMLD Dung Quất.
xviii - Phƣơng pháp nghiên cứu Tìm hiểu và thu thập tài liệu từ các công bố trong nƣớc và trên thế giới về các phƣơng pháp tạo hạt xúc tác, từ đó xây dựng phƣơng pháp tạo hạt xúc tác dạng vi cầu ph hợp với yêu cầu của xúc tác. Nghiên cứu chế tạo xúc tác: sử dụng công nghệ sấy phun, thiết bị sấy phun mini trong phòng thí nghiệm (Buchi B290). Đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến quy trình tổng hợp. Phân tích đ c trƣng xúc tác: Các kỹ thuật đ c trƣng xúc tác rắn chuyên dụng s đƣợc áp dụng bao gồm Hấp phụ vật lý N2 (BET), XRD, XRF, SEM, sàng rây, NH3-TPD.
Đánh giá hiệu quả xúc tác: sử dụng hệ thiết bị đánh giá xúc tác công nghiệp chuyên dụng (SCT-MAT) của Grace Davison. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu quy trình tạo hạt xúc tác FCC dạng công nghiệp bằng kỹ thuật sấy phun: Khảo sát, đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng chính gồm pH, hàm lƣợng rắn, thời gian già hóa và nhiệt độ dòng không khí sấy. - Nghiên cứu chế tạo thử nghiệm một số hệ xúc tác cracking dạng công nghiệp với các chất nền khác nhau: alumina, alumina-silica và silica. - Đánh giá hoạt tính của xúc tác cracking dạng công nghiệp chế tạo đƣợc trên mẫu nguyên liệu FCC từ NMLD Dung Quất.
So sánh xúc tác tối ƣu tổng hợp đƣợc với xúc tác công nghiệp đang sử dụng ở nhà máy lọc dầu Dung Quất. Ý nghĩa đề tài Bƣớc đầu xây dựng qui trình tạo hạt xúc tác FCC dạng vi cầu, đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau lên đ c tính xúc tác ở qui mô phòng thí nghiệm. Kết quả của đề tài là tiền đề để xây dựng quy trình chế tạo xúc tác FCC công nghiệp ứng dụng cho phân xƣởng RFCC của NMLD Dung Quất. xix CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu về phân xƣởng RFCC của nhà máy lọc dầu Dung Quất 1. Giới thiệu chung Nhà máy lọc dầu Dung Quất, thuộc Khu kinh tế Dung Quất, là nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, xây dựng thuộc địa phận xã Bình Thuận và Bình Trị, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một trong những dự án kinh tế lớn, trọng điểm quốc gia của Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21. Công suất chế biến: 6,5 triệu tấn dầu thô/năm, tƣơng đƣơng 148.000 th ng/ngày.
Sau khi hoàn thành nâng cấp mở rộng: 8,5 triệu tấn dầu thô/năm, tƣơng đƣơng 192.000 th ng/ngày. 1 Sơ đồ công nghệ của NMLD Dung Quất Nhà máy đƣợc vận hành nâng công suất dần dần từ ngày 25 tháng 2 năm 2009 và đến tháng 8 năm 2009 đạt 100% công suất để sản xuất ra các sản ph m khí hóa lỏng (gas) LPG (900-1.000 tấn/ngày), xăng A90 (2.100 tấn/ngày) và A92-95 (2.700 tấn/ngày), dầu Diesel (7.000 tấn/ngày), LPG và các sản ph m khác 1 nhƣ Propylene (320-460 tấn/ngày), xăng máy bay Jet-A1 (650-1.250 tấn/ngày) và dầu đốt lò FO (1. [3] Phân xƣởng FCC của nhà máy lọc dầu Dung Quất đƣợc thiết kế để chế biến phần c n n ng từ tháp chƣng cất khí quyển RFCC, sử dụng công nghệ R.R, bản quyền của IFP/AXENS. Công nghệ có thể hoạt động theo hai chế độ tối đa xăng ho c tối đa phân đoạn trung bình.
Hệ thống công nghệ RFCC bao gồm các bộ phận chính: ống phản ứng, cyclon, bộ phận tách (stripper), van điều chỉnh lƣợng xúc tác đã phản ứng, hệ thống tái sinh xúc tác 2 cấp có tên “R.R” (One Reactor Two Regenerator), hệ thống khí nâng, hệ thống ổn định xúc tác hoàn lƣu (Hình 1. Công suất thiết kế 69.700 BPSD sử dụng nguyên liệu Bạch Hổ ho c dầu trộn Bạch Hổ+Dubai. Lƣợng xúc tác đƣa vào ban đầu 600 tấn. Lƣợng xúc tác bổ sung (tấn/ngày): 15,2 (đối với dầu trộn)/5,5(đối với dầu Bạch Hổ).
2 Sơ đồ công nghệ phân xƣởng RFCC của NMLD Dung Quất. Các thông số vận hành chính của phân xƣởng RFCC theo hai chế độ tối đa xăng ho c tối đa phân đoạn trung bình đối với nguyên liệu dầu Bạch Hổ. Xúc tác cho phân xƣởng RFCC Từ khi NMLD Dung Quất đƣa vào vận hành đến 08/2013, Công ty CP Lọc Hóa dầu Bình Sơn đã sử dụng nhiều chủng loại xúc tác RFCC khác nhau do Grace cung cấp, cụ thể: 2 Trong giai đoạn chạy thử: sử dụng xúc tác GDC-1825 do nhà thầu TPC lựa chọn. Sau khi nhận bàn giao nhà máy, để cải tiến chất lƣợng sản ph m, giảm hàm lƣợng olefin trong xăng, giảm lƣợng torch oil… BSR đã chuyển sang sử dụng xúc tác Midas từ tháng 9/2010; Để tăng sản lƣợng Propylen, giảm lƣợng xúc tác cuốn theo trong slurry oil… BSR đã chuyển sang sử dụng xúc tác GDC-L02BSR từ tháng 5/2011; Do thay đổi tính chất dầu thô, cụ thể là hàm lƣợng kim loại (sắt, canxi…) tăng cao, BSR chuyển sang sử dụng xúc tác BR-368 từ tháng 01/2012; Từ khi đƣa Nhà máy vào vận hành năm 2010 đến 2013, BSR đã mua khoảng 9,7 ngàn tấn xúc tác mới (fresh catalyst) và 7,6 ngàn tấn E-cat của Grace, khối lƣợng tăng dần theo các năm do chất lƣợng dầu thô xấu đi.
Hiện nay, BSR đang sử dụng xúc tác Upgrader R+BSR do Almemarle cung cấp. Ngoài ra, Nhà máy còn d ng một số loại xúc tác FCC đã qua sử dụng (Encore cat) để phối trộn với các xúc tác mới nói trên nhằm tạo ra hỗn hợp xúc tác cân bằng cung cấp phân xƣởng RFCC hoạt động. 1 Khối lƣợng xúc tác FCC sử dụng tại NMLD Dung Quất giai đoạn 2010-2015 Nhu cầu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Xúc tác FCC 2. Nguyên liệu và sản phẩm của phân xƣởng RFCC Nguyên liệu cho phân xƣởng RFCC là c n chƣng cất ở áp suất khí quyển đã đƣợc xử lý lƣu huỳnh từ phân xƣởng RHDS.