CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU XÚC TÁC AXIT 1.1 Giới thiệu về vật liệu vô cơ mao quản Vật liệu vô cơ mao quản là một họ vật liệu rắn có thành phần hóa học vô cơ, có cấu trúc tinh thể hay bán tinh thể, bên trong chứa các hệ kênh mao quản tương đối đồng nhất về kiến trúc và kích thước.1: Phân loại vật liệu mao quản theo IUPAC Kích thước Vật liệu Ví dụ mao quản (Å) Mao quản lớn >500 Thuỷ tinh (Macropore) Mao quản trung bình 20-500 M41S (Mesopore) Vi mao quản <20 Zeolit (Micropore) Có thể nói trong mấy thập kỷ qua zeolit đã được sử dụng hết sức rộng rãi trong công nghiệp. Với cấu trúc tinh thể vi mao quản chúng đã được sử dụng rất thành công dưới dạng xúc tác cho công nghiệp lọc hoá dầu và tổng hợp hữu cơ đặc biệt là đối với những phân tử có đường kính nhỏ hơn 10Å. Sự thành công đó có liên quan đến tính chất bề mặt của các zeolit - Chúng có bề mặt riêng lớn và khả năng hấp phụ cao. - Tính hấp phụ có thể được thay đổi để trở thành loại ưu nước hoặc kỵ nước tuỳ thuộc vào nhóm chức bề mặt.
- Các tâm hoạt động xúc tác (như tâm axit) có thể được hình thành trong mạng tinh thể. Cường độ cũng như mật độ của chúng có thể biến đổi để đáp ứng cho các phản ứng khác nhau. Trịnh Tuấn Khanh Công nghệ hữu cơ-hóa dầu & khí Luận văn thạc sỹ -5/75- Đại học Bách Khoa Hà Nội - Các kênh mao quản và các hốc bên trong vật liệu có kích thước từ 5-12Å thích hợp cho nhiều loại phân tử tham gia phản ứng. Với điện trường mạnh trong vi mao quản và với tính chất điện tử của các phân tử trong cùng một không gian hạn chế, zeolit có khả năng hoạt hoá các phân tử tham gia phản ứng.
- Nhờ có cấu trúc mao quản đồng nhất và có giới hạn nên zeolit có các tính chất chọn lọc hình học khác nhau đối với sản phẩm, chất tham gia phản ứng và các hợp chất trung gian. - Ngoài ra,zeolit có độ bền nhiệt, thuỷ nhiệt và hoá học rất cao. Tuy nhiên ngoài những ưu điểm không thể phủ nhận trên, zeolit, do kích thước mao quản nhỏ, nên chúng vẫn còn nhiều hạn chế. - Các phân tử có kích thước lớn không khuếch tán được vào bên trong.
- Không thể đưa các nhóm chức lớn lên thành mao quản nhằm tạo ra tính chất bề mặt mong muốn như quang học, xúc tác, hấp phụ. Vì vậy để tăng cường hơn nữa khả năng ứng dụng của vật liệu mao quản, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tăng kích thước mao quản. Những nghiên cứu đầu tiên là thay đổi cấu trúc vi mao quản thành mao quản trung bình (ví dụ như phương pháp dựng khung của bentonit, vật liệu này được trao đổi cation Na + bằng cation Al3+ có kích thước lớn hơn do đó khi thay thế nó sẽ làm tăng khoảng cách giữa các lớp của vật liệu) tuy nhiên các phương pháp này rất khó khăn và đạt được thành công hạn chế. Tổng hợp trực tiếp các vật liệu mao quản trung bình được mô tả trong một phát minh năm 1969.
Tuy nhiên, do thiếu các phương pháp phân tích thích hợp nên những đặc điểm đáng chú ý của vật liệu này không được nhận ra [23,47]. Đầu những năm 1990 [32], các nhà khoa học hãng Mobil Oil đã tổng hợp thành công một họ vật liệu mao quản trung bình mới. Họ vật liệu này được kí hiệu là M41S, có hệ mao quản trung bình từ 2nm đến hàng chục nm, có cấu trúc “bán tinh thể” (quan hệ cấu trúc xa là tinh thể, quan hệ cấu trúc gần là vô định hình) [42]. Việc tìm ra vật liệu MQTB có mao quản rộng, diện tích bề mặt lớn, cấu trúc vật liệu trật tự là một thành công lớn trong lĩnh vực xúc tác.
Trịnh Tuấn Khanh Công nghệ hữu cơ-hóa dầu & khí Luận văn thạc sỹ -6/75- Đại học Bách Khoa Hà Nội Tuy nhiên như đã nói ở trên, các đơn vị cấu trúc cơ sở của vật liệu này liên kết với nhau theo cách vô định hình nghĩa là không theo một qui luật sắp xếp chặt chẽ như trong tinh thể của zeolit nên đối với công nghệ lọc hóa dầu, hoạt tính xúc tác và độ bền nhiệt, bền thủy nhiệt của các vật liệu mao quản trung bình vẫn chưa đạt yêu cầu. Xuất phát từ vấn đề trên, ý tưởng tinh thể hóa thành mao quản của vật liệu mao quản trung bình đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành một hướng nghiên cứu vô cùng mới mẻ, hứa hẹn nhiều thành công trong lĩnh vực nghiên cứu xúc tác. Vật liệu vi mao quản (zeolit) 1. Khái niệm về zeolit Stilbite là zeolit tự nhiên đầu tiên được nhà khoáng vật học Cronsted (Thụy Điển) tìm ra từ năm 1756 [17].
Cronsted gọi khoáng vật đó là “zeolit” do dựa trên hai từ cổ Hy Lạp, “zeo” và “lithos” nghĩa là “đá sôi” bởi vì khi đun nóng người ta thấy khoáng vật bị “sôi” do khí thoát ra. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về zeolit nhưng một cách chung nhất zeolit có thể được định nghĩa như sau: “ Zeolit là các aluminosilicat có cấu trúc mạng tinh thể chứa đựng bên trong nó một hệ thống mao quản rất đồng đều”. Thành phần hóa học của zeolit có thể được biểu diễn bằng công thức hóa học như sau [48]: Mx/n [(AlO2)x (SiO2)y]zH2 O Trong đó: M: là cation kim loại có hoá trị n y/x: là tỷ số nguyên tử Si/Al ( thay đổi tuỳ theo từng loại zeolit) z: là số phân tử H2O kết tinh trong zeolit Kí hiệu trong [ ] là thành phần cơ bản của một ô mạng cơ sở tinh thể. Phân loại zeolit Zeolit được phân loại theo các tiêu chí sau: - Theo nguồn gốc, zeolit được chia làm hai loại chính là zeolit tự nhiên và zeolit tổng hợp: + Trong tự nhiên có hơn 40 loại zeolit.
Một số loại zeolit tự nhiên phổ biến là: lerynit, chabazit, stibit, analcime. Các zeolit tự nhiên có độ tinh khiết không cao nên việc ứng dụng trong thực tế còn nhiều hạn chế. Trịnh Tuấn Khanh Công nghệ hữu cơ-hóa dầu & khí Luận văn thạc sỹ -7/75- Đại học Bách Khoa Hà Nội + Người ta đã nghiên cứu tổng hợp được nhiều loại zeolit có cấu trúc giống với zeolit tự nhiên và cũng có nhiều cấu trúc không tồn tại trong tự nhiên. Zeolit tổng hợp có nhiều ưu việt hơn so với zeolit tự nhiên như: đồng nhất về thành phần, độ tinh khiết cao, độ bền cơ, nhiệt bền hoá học cao.
Cho đến nay người ta đã tổng hợp được hơn 200 loại zeolit với 85 kiểu cấu trúc khác nhau [37], trong đó các loại zeolit thường được sử dụng là zeolit A, faujasit (X,Y), zeolit họ MFI, MEL, ZSM-23. - Theo tỷ lệ Si/Al, zeolit được phân chia thành ba loại: + Zeolit nghèo Si: tỷ lệ Si/Al = 1 (zeolit A, X) + Zeolit có hàm lượng Si trung bình: tỷ lệ Si/Al = 2,5 - 3 (zeolit họ faujasit, mordenit.) + Zeolit giàu Si: tỷ lệ Si/Al = 20 - 8000 (zeolit ZSM-5) Tỷ lệ Si/Al là một đặc trưng quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc, tính chất vật lý, hoá học của zeolit. Khi tỷ lệ si/Al tăng thì tính chất bền nhiệt tăng từ 700 - 13000C, lực axit trên từng tâm axit tăng, dung lượng trao đổi ion giảm. - Phân loại theo đường kính mao quản: theo phân loại của IUPAC, zeolit thuộc vật liệu vi mao quản.
Tuy nhiên, theo kích thước mao quản vật liệu này được phân chia thành: + Zeolit có mao quản nhỏ: kích thước mao quản nhỏ hơn 0,5nm (zeolit 3A, 4A, 5A.) + Zeolit có mao quản trung bình: kích thước mao quản từ 0,5-0,6nm (zeolit ZSM-5, ZSM-11, ZSM-35.) + Zeolit có mao quản rộng: kích thước mao quản từ 0,7-1,5nm (zeolit X,Y, mordenit, Beta. Sự hình thành cấu trúc zeolit Đơn vị cơ bản của zeolit là tứ diện TO4 bao gồm một cation T (T là cation Si 4+ hoặc Al3+) được bao quanh bởi 4 ion O2- (hình 1. Khác với tứ diện SiO4 trung hoà về điện, mỗi một nguyên tử Al phối trí tứ diện trong AlO 4 còn dư một điện tích âm do Al có hoá trị 3. Điện tích âm này được bù trừ bởi các cation kim loại M n+ [6] (M thường là kim loại kiềm hoặc kiềm thổ).
Trịnh Tuấn Khanh Công nghệ hữu cơ-hóa dầu & khí Luận văn thạc sỹ -8/75- Đại học Bách Khoa Hà Nội _ _ _ 2 2 O O _ _ _ _ 2 o 2 o 2 O O2 O O 3+ Al Si4+ _ _ 2 O O2 Hình 1.1: Đơn vị cấu trúc cơ bản của zeolit Các đơn vị cấu trúc cơ bản kết hợp với nhau tao ra các đơn vị cấu trúc thứ cấp SBU (Secondary Building Unit) (hình 1.2: Các SBU tạo ra cấu trúc zeolit SBU là các vòng đơn gồm 4,6,8,10 và 12 tứ diện hoặc hình thành các vòng kép 4x2 và 6x2 tứ diện…[35]. Các SBU tiếp tục gắn kết với nhau theo những trật tự khác nhau mà hình thành nên các loại zeolit có cấu trúc khác nhau [24]. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa các tứ diện TO 4 hoặc các SBU phải tuân theo quy tắc Lowenstein: trong cấu trúc zeolit không tồn tại các liên kết Al-O-Al, mà chỉ tồn tại các liên kết Si-O-Si và Si-O-Al, do đó tỷ số SiO2/Al2O3 ≥ 2 [6]. Trịnh Tuấn Khanh Công nghệ hữu cơ-hóa dầu & khí Luận văn thạc sỹ -9/75- Đại học Bách Khoa Hà Nội Hình 1.3: Sơ đồ minh họa sự hình thành cấu trúc zeolit Hình 1.3 là sơ đồ minh họa sự hình thành các liên kết SBU, cách ghép nối các SBU để tạo ra bát diện cụt (sodalit) và cách ghép nối các bát diện cụt với nhau để tạo thành các kiểu cấu trúc zeolit A hoặc Y.
Cho đến nay người ta đã tổng hợp được hơn 200 loại zeolit với 85 kiểu cấu trúc khác nhau [43]. Tuy nhiên, nội dung đồ án này chỉ liên quan đến các cấu trúc của zeolit Y, nên cấu trúc của zeolit này được trình bày chi tiết hơn. Cấu trúc của zeolit Y Zeolit Y được Breck phát minh vào năm 1964 [13]. Công thức hoá học tiêu biểu của zeolit Y dạng NaY có dạng [13]: Na 56 .250H 2O Zeolit Y có cấu trúc tinh thể kiểu Faujasit, mã cấu trúc quốc tế là FAU [6].