Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng phát thải từ các nhà máy nhiệt điện đốt than tại Việt Nam đang tạo ra áp lực môi trường vô cùng nặng nề. Tính đến đầu năm 2019, các nhà máy nhiệt điện trên toàn quốc thải ra khoảng 14,4 triệu tấn tro xỉ mỗi năm và con số này dự kiến vượt mức 29 triệu tấn vào năm 2022 khi 43 nhà máy đi vào vận hành. Lượng tro xỉ tích lũy tại các bãi chứa hiện đã vượt 22 triệu tấn, trong khi tỷ lệ tiêu thụ hàng năm chỉ đạt khoảng 3 đến 4 triệu tấn (tương đương 25% đến 30% lượng phát sinh). Trở ngại lớn nhất trong việc tái chế tro xỉ tại Việt Nam là công nghệ đốt than phun khiến hàm lượng than chưa cháy hết (mất khi nung - LoI) dao động ở mức rất cao từ 7% đến 27%, vượt xa ngưỡng tiêu chuẩn 5% phục vụ sản xuất xi măng truyền thống.
Nhằm giải quyết triệt để bài toán này, đề tài tập trung vào mục tiêu nghiên cứu chế tạo chất kết dính vô cơ từ khoáng trường thạch hoạt hóa kiềm để đóng rắn trực tiếp tro bay và tro xỉ nhiệt điện Phả Lại thành vật liệu geopolyme cường độ cao. Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi phòng thí nghiệm tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn 2018 - 2019, sử dụng nguồn tro xỉ từ Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 2 và quặng trường thạch tỉnh Phú Thọ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc tận dụng nguồn tài nguyên trường thạch dồi dào trong nước với tổng trữ lượng khảo sát đạt 83,86 triệu tấn, đồng thời mở ra giải pháp giảm phát thải khí nhà kính vượt bậc, giúp cắt giảm khoảng 1 tấn CO2 trên mỗi tấn xi măng Portland được thay thế trong ngành vật liệu xây dựng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết polyme hóa vô cơ (Geopolymerization) do Joseph Davidovits đề xuất từ năm 1978. Về bản chất, geopolyme là vật liệu liên kết vô cơ hình thành từ phản ứng giữa nguồn khoáng aluminosilicat và dung dịch kiềm hoạt hóa ở nhiệt độ thường hoặc gia nhiệt nhẹ. Cấu trúc mạng không gian ba chiều của geopolyme được tạo thành từ các tứ diện SiO4 và AlO4 liên kết xen kẽ qua nguyên tử oxy chung (chuỗi poly-sialate: Si-O-Al-O), trong đó các cation kiềm như Na+, K+ hoặc Ca2+ phân bố trong các hốc rỗng để trung hòa điện tích âm của ion Al3+.
Bên cạnh đó, đề tài tích hợp cơ chế polyme hóa trực tiếp của Giáo sư Plattfort và mô hình phản ứng 3 giai đoạn của D. Hardjito: quá trình hòa tan các liên kết Si-O và Al-O dưới tác dụng của ion OH-, quá trình định hướng tạo thành các tiền chất monome dạng oligomer, và quá trình trùng ngưng tạo khối gel không gian đóng rắn. Các khái niệm cốt lõi được ứng dụng bao gồm: chất kết dính kiềm hoạt hóa, phản ứng Pozzolanic, tro bay loại F (chứa tổng hàm lượng SiO2, Al2O3, Fe2O3 lớn hơn 70% theo chuẩn ASTM C618) và khoáng vật trường thạch kiềm (aluminosilicat tự nhiên).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ nguồn tro bay và tro xỉ đáy lò thực tế tại Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 2 (Hải Dương) kết hợp với quặng trường thạch thu gom tại Phú Thọ. Chất kích hoạt sử dụng gồm NaOH công nghiệp (nồng độ khảo sát 2,5M; 5,0M; 7,5M), bột vôi sống Ca(OH)2 và dung dịch natri silicat (thủy tinh lỏng 38%). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 37 công thức phối liệu khác nhau, được phân nhóm theo 4 hệ kích hoạt: hệ NaOH, hệ vôi bột, hệ hỗn hợp xút - vôi (tỷ lệ khối lượng 1:1) và hệ hỗn hợp xút - thủy tinh lỏng (tỷ lệ 1:1, 1:2, 2:1).
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo dải hàm lượng trường thạch 20%, 30% và 40% so với tổng khối lượng tro xỉ nhằm đánh giá tối ưu hóa cấu trúc pha. Mẫu phối liệu được trộn đồng nhất trong 30 phút, ép định hình dạng viên trụ (đường kính 46 mm, chiều cao 30 mm) dưới áp lực ép tĩnh 100 kg/cm2, sau đó tiến hành dưỡng hộ trong phòng thí nghiệm ở các mốc thời gian 1, 4, 7, 14, 21 và 28 ngày.
Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích:
- Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD trên máy Bruker D8 Advance, anot Cu bước sóng 1,5406 Å) và huỳnh quang tia X (XRF trên máy Shimadzu 1800) được chọn để xác định chính xác thành phần pha khoáng vô định hình cũng như hàm lượng oxit kim loại.
- Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis được áp dụng để xác định chính xác động học hòa tan ion Al3+ ở bước sóng 535 nm (phức màu Eriochrome cyanine R, hệ số tương quan đường chuẩn R2 = 0,9991) và ion Si4+ ở bước sóng 815 nm (phức khử molybdosilicic, hệ số tương quan R2 = 0,9975).
- Các chỉ tiêu cơ lý và môi trường gồm cường độ chịu nén phá hủy (MPa), độ hút nước sau ngâm 24 giờ (theo TCVN 6355-4:2009), độ kiềm dư (mM qua chuẩn độ HCl 0,1M) và giá trị pH ngâm chiết liên tục trong 8 ngày.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích XRF cho thấy tro bay Phả Lại 2 chứa 51,98% SiO2, 19,92% Al2O3, 4,47% Fe2O3 và lượng than dư (LoI) lên tới 14,6%. Tro xỉ đáy lò chứa 44,11% SiO2, 18,83% Al2O3 và than dư đạt 22,6%. Cả hai nguồn thải đều thuộc nhóm tro bay loại F với giản đồ XRD thể hiện nền vô định hình cao kết hợp các đỉnh tinh thể quartz và sillimanite. Đối với trường thạch Phú Thọ, phân tích cho thấy hàm lượng SiO2 đạt 70,9%, Al2O3 đạt 17,0%, tổng oxit kiềm tự nhiên Na2O + K2O đạt 10,18% và độ mất khi nung cực thấp chỉ 0,75%.
Nghiên cứu động học hòa tan chứng minh dung dịch NaOH ở nồng độ 7,5M có khả năng phân cắt mạnh mẽ khung mạng silicat của trường thạch, giải phóng lượng lớn ion Al3+ và Si4+ vào dung dịch sau 7 ngày ngâm chiết, cao hơn rõ rệt so với nồng độ 2,5M và 5,0M. Nồng độ Al3+ đạt mức tối đa ở tỷ lệ rắn/lỏng 1:1, tạo tiền chất hòa tan lý tưởng cho phản ứng tổng hợp geopolyme.
Về khả năng đóng rắn cơ học, các mẫu ép định hình từ tro bay, xỉ và trường thạch đạt độ ổn định cấu trúc vượt trội sau 28 ngày dưỡng hộ. Cường độ chịu nén tăng từ 15% đến 35% khi tăng tỷ lệ trường thạch từ 20% lên 40% trong phối liệu. Hệ xút kết hợp thủy tinh lỏng (mẫu XT06) và hệ xút kết hợp vôi (mẫu XV06) mang lại cường độ nén cao nhất, vượt xa mẫu chỉ sử dụng NaOH hoặc vôi đơn lẻ.
Kiểm tra độ bền sau khi ngâm nước 24 giờ cho thấy các mẫu vật liệu duy trì độ hút nước thấp, đạt yêu cầu kỹ thuật của gạch xây dựng không nung. Cường độ nén sau ngâm của hệ xút - vôi và xút - thủy tinh lỏng vẫn bảo toàn trên 85% so với trước ngâm. Độ kiềm dư trong nước ngâm của các mẫu giảm mạnh từ ngày thứ nhất đến ngày thứ 8 (nồng độ kiềm dư giảm hơn 60%), trong khi giá trị pH dung dịch duy trì ổn định quanh mức 9,5 đến 10,5, chứng minh các ion kiềm đã được khóa chặt bền vững trong mạng lưới polymer vô cơ.
Thảo luận kết quả
Khác với cơ chế đóng rắn thủy hóa của xi măng Portland truyền thống thường bị ức chế nghiêm trọng khi tro xỉ có than dư trên 5%, phản ứng geopolyme hóa diễn ra thông qua quá trình hòa tan và tái tổ hợp cấu trúc phân tử. Dung dịch kiềm phá vỡ cấu trúc tinh thể của trường thạch và pha thủy tinh trong tro bay, giải phóng các tứ diện [SiO4]4- và [AlO4]5-, sau đó liên kết với ion Ca2+ từ vôi và Na+ từ xút/thủy tinh lỏng để hình thành mạng lưới gel vô cơ bền vững. Lượng than chưa cháy (14,6% - 22,6%) đóng vai trò như các hạt độn trơ phân tán đồng đều trong nền matrix mà không làm suy giảm cấu trúc liên kết nội tại.
So sánh với các công bố quốc tế sử dụng metakaolin nung ở 700°C, việc sử dụng trực tiếp khoáng trường thạch tự nhiên không qua nung giúp tiết kiệm đáng kể năng lượng nhiệt và giảm giá thành sản xuất nguyên liệu kết dính. Sự kết hợp giữa NaOH và Na2SiO3 bổ sung nhanh nguồn silic hoạt tính hòa tan ban đầu, rút ngắn thời gian đông kết và gia tăng mật độ đặc chắc của cấu trúc vi mô.
Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu được hệ thống hóa rõ nét thông qua đồ thị biến thiên nồng độ Al3+/Si4+ theo nồng độ kiềm, biểu đồ cột so sánh cường độ nén 28 ngày giữa các tỷ lệ phối liệu và bảng ma trận thể hiện tương quan giữa độ hút nước và độ kiềm dư theo thời gian ngâm chiết.
Đề xuất và khuyến nghị
- Chuẩn hóa quy trình sản xuất chất kết dính geopolyme từ trường thạch hoạt hóa bằng hệ xút 5M - 7,5M kết hợp phụ gia vôi hoặc natri silicat với tỷ lệ trường thạch tối ưu 30% - 40%, hướng tới mục tiêu đạt cường độ nén ổn định trên 15 MPa cho gạch không nung trong vòng 12 tháng, do các viện nghiên cứu chuyên ngành vật liệu chủ trì.
- Triển khai mô hình dây chuyền sản xuất thử nghiệm gạch block và tấm panen không nung trực tiếp tại bãi thải của Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại, đặt mục tiêu tiêu thụ tối thiểu 50.000 tấn tro xỉ nhiệt điện than phun mỗi năm trong giai đoạn 2024 - 2026, do Tập đoàn Điện lực Việt Nam phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thực hiện.
- Quy hoạch và khai thác hiệu quả nguồn quặng trường thạch chất lượng cao tại các mỏ lớn thuộc tỉnh Phú Thọ (trữ lượng 16,52 triệu tấn) và Lào Cai (trữ lượng 9,55 triệu tấn) nhằm cung ứng nguồn nguyên liệu aluminosilicat ổn định với giá thành thấp hơn xi măng truyền thống khoảng 30% đến 40%, giao Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân các tỉnh liên quan phê duyệt kế hoạch cấp phép trước năm 2025.
- Ban hành bộ tiêu chuẩn cơ sở và hướng dẫn kỹ thuật áp dụng công nghệ đóng rắn geopolyme cho các loại tro xỉ có hàm lượng mất khi nung cao (LoI từ 10% đến 25%) làm vật liệu san lấp hạ tầng giao thông và kè đê biển, do Bộ Xây dựng phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định ban hành vào giai đoạn 2025 - 2027.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Hóa học, Hóa môi trường, Kỹ thuật Vật liệu: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về động học hòa tan Si-Al từ khoáng silicat tự nhiên và cơ chế đóng rắn geopolyme không nung.
- Kỹ sư vận hành và ban quản lý môi trường tại các nhà máy nhiệt điện than: Nắm bắt giải pháp công nghệ khả thi để xử lý triệt để các bãi tro xỉ tồn đọng có hàm lượng than dư cao (trên 10%) mà không phải tốn chi phí tuyển than phức tạp.
- Doanh nghiệp sản xuất gạch không nung và vật liệu xây dựng xanh: Sử dụng các công thức cấp phối thực nghiệm (hệ tro bay - xỉ - trường thạch - xút - vôi) để thay thế hoàn toàn xi măng Portland, giảm chi phí nguyên liệu thô và hạ giá thành sản phẩm.
- Cơ quan hoạch định chính sách và quản lý tài nguyên khoáng sản: Tham khảo số liệu trữ lượng 83,86 triệu tấn trường thạch và tiềm năng tiêu thụ tro xỉ để xây dựng chính sách thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển vật liệu giảm phát thải carbon.
Câu hỏi thường gặp
Hàm lượng than chưa cháy trong tro xỉ Phả Lại lên tới 14,6% - 22,6% có làm nứt vỡ hoặc giảm độ bền của khối geopolyme không?
Không. Trong phản ứng geopolyme hóa, các hạt than dư đóng vai trò hạt độn trơ nằm phân tán trong khối gel aluminosilicat. Khác với xi măng truyền thống bị ức chế quá trình thủy hóa, chất kết dính trường thạch hoạt hóa kiềm bao bọc kín các hạt than, duy trì cường độ nén và cấu trúc đặc chắc sau 28 ngày.
Tại sao trường thạch lại được chọn làm chất kết dính thay vì các nguồn nguyên liệu phổ biến như cao lanh hay metakaolin?
Trường thạch là khoáng tự nhiên dồi dào tại Việt Nam với trữ lượng đạt 83,86 triệu tấn, chứa tới 70,9% SiO2 và 17,0% Al2O3. Việc sử dụng trường thạch không đòi hỏi nung hoạt hóa ở 700°C như metakaolin, giúp tiết kiệm chi phí năng lượng và giảm giá thành nguyên liệu kết dính.
Hệ hoạt hóa nào mang lại hiệu quả đóng rắn tối ưu nhất giữa xút, vôi và thủy tinh lỏng?
Hệ kết hợp xút - vôi và xút - thủy tinh lỏng mang lại hiệu quả cao nhất. Sự kết hợp này thúc đẩy cả quá trình hòa tan Si-Al từ trường thạch và cung cấp tức thời ion Ca2+, Na+ để tạo mạng lưới liên kết đôi, giúp tăng cường độ nén sau 28 ngày lên hơn 30% so với dùng xút đơn lẻ.
Sản phẩm đóng rắn bằng kiềm có nguy cơ rò rỉ hóa chất gây kiềm hóa đất và nguồn nước xung quanh không?
Kết quả ngâm chiết thực nghiệm trong 8 ngày liên tục cho thấy độ kiềm dư giảm hơn 60% và pH nước ngâm duy trì ổn định quanh mức 9,5 đến 10,5. Cấu trúc mạng poly-sialate đã giữ chặt các cation kim loại trong các hốc vi mô, bảo đảm độ an toàn môi trường theo quy chuẩn.
Công nghệ chế tạo geopolyme từ trường thạch và tro xỉ đóng góp như thế nào vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính?
Sản xuất 1 tấn xi măng Portland phát thải trung bình khoảng 0,8 đến 1 tấn CO2 ra khí quyển. Việc thay thế hoàn toàn xi măng bằng chất kết dính trường thạch đóng rắn ở nhiệt độ thường giúp cắt giảm gần như toàn bộ lượng phát thải này, thúc đẩy phát triển công trình xanh.
Kết luận
- Luận văn đã giải quyết thành công bài toán xử lý triệt để tro bay và xỉ đáy lò có hàm lượng than dư cao (14,6% - 22,6%) từ Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại 2 mà không cần qua khâu tuyển than tốn kém.
- Chế tạo thành công hệ chất kết dính vô cơ geopolyme từ quặng trường thạch Phú Thọ giàu Si và Al (70,9% SiO2 và 17,0% Al2O3) thông qua quá trình hoạt hóa bằng dung dịch kiềm NaOH và phụ gia.
- Xác định được nồng độ hòa tan tối ưu của kiềm và chứng minh các hệ phối liệu xút - vôi, xút - thủy tinh lỏng giúp vật liệu đạt cường độ chịu nén cao và độ bền nước vượt trội sau 28 ngày dưỡng hộ.
- Kiểm chứng tính an toàn môi trường của vật liệu đóng rắn thông qua độ hút nước đạt chuẩn TCVN 6355-4:2009 cùng độ kiềm dư và pH ngâm chiết ổn định sau 8 ngày.
- Đóng góp giải pháp khoa học mang tính đột phá cho định hướng kinh tế tuần hoàn, kết nối hiệu quả nguồn phát thải 14,4 triệu tấn tro xỉ nhiệt điện với nguồn tài nguyên 83,86 triệu tấn khoáng trường thạch tại Việt Nam.
Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2024 - 2026 cần tập trung vào việc thử nghiệm chế tạo sản phẩm gạch block quy mô pilot tại hiện trường nhà máy nhiệt điện và hoàn thiện hồ sơ tiêu chuẩn kỹ thuật thương mại. Các đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất vật liệu và nhà máy nhiệt điện hãy chủ động liên kết chuyển giao công nghệ để sớm đưa vật liệu geopolyme trường thạch vào ứng dụng thực tiễn rộng rãi.