chương I “Ia hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng dong nhằm bảo tôn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” (Phạm Xuân Hậu, 2013). Du lịch văn hóa là loại hình du lịch nhằm nâng cao hiểu biết cho khách du lịch về lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lỗi sống và phong tục tập quán ở nơi họ đến thăm. Địa điểm đến thăm của du khách có thể là các di tích văn hóa — lịch sử, bao tang, lễ hội địa phương, liên hoan nghệ thuật, thể thao. Theo Nguyễn Đính (2009), du lịch văn hóa có thể được phân làm hai loại: - Du lịch văn hóa với mục đích cụ thé: khách du lịch thuộc thể loại này thường đi với mục đích đã định sẵn.
Thường họ là các cán bộ khoa học, sinh viên và các chuyên gia. - Du lịch văn hóa với mục đích tổng hợp: gồm đông đảo những người ham thích mở mang kiến thức về văn hóa thế giới, và nhằm thỏa mãn những tò mò của mình. 12 Theo Nguyễn Thị Thu (2014), du lịch văn hoá đôi khi được xem như một ngành trong ngành kinh tế văn hóa, tức ngành kinh doanh có sử dụng yếu tố văn hóa. Tuy nhiên, bản thân nó là một loại hình du lịch nằm trong ngành du lịch, được gọi là ngành công nghiệp không khói, thực chất là ngành kinh doanh.
Khi nói đến du lịch văn hóa tức tiếp cận văn hóa từ du lịch, thông qua du lịch, thực chat là việc khai thác và biến sản phâm văn hóa thành sản phẩm du lịch, thuộc sản phẩm du lịch. Là một sản phẩm kinh doanh nên đó là sản phẩm hàng hóa hay gọi đúng hơn là sản phẩm hàng hóa văn hóa, một loại sản phâm hàng hóa đặc biệt, qua tiêu thụ không hề mắt đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường khác mà còn được nhân lên về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội. Thông thường, khi nói đến du lịch văn hóa chúng ta hay chú trọng đến thế mạnh tiềm năng văn hóa, xem đó là mục tiêu khai thác. Thế nhưng chỉ có tiềm năng không thôi thì vẫn chưa đủ điều kiện dé khai thác du lịch văn hóa hiệu quả.
Khi tiến hành qui hoạch, đầu tư xây dựng điểm du lịch văn hóa theo mô hình lấy văn hóa làm hạt nhân thì chung quanh nó phải là một hệ thống đồng bộ được thiết lập theo phương châm “truyền thống - hiện đại” về mặt văn hóa đồng thời đáp ứng mọi tiện ích tốt nhất cho du khách. Đó là hệ thống đường sá, phương tiện vận chuyền, hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng với đội ngũ nhân viên phục vụ được đảo tạo chuyên nghiệp và có những kiến thức nhất định về văn hóa địa phương cũng như sản phẩm du lịch của mình (Nguyễn Thị Thu, 2014). - Du lịch di sản văn hóa Theo Lord (1999), du lịch di sản văn hóa được định nghĩa là “sự viếng thăm của một người ở bên ngoài một nước chủ nhà, được thúc day một phần hoặc toàn bộ bởi niềm đam mê của người đó với kiến trúc lịch sử, công trình nghệ thuật, đi sản khoa học hoặc lối sống của một cộng đồng, một vùng, hoặc một nhóm người tại quốc gia đó”. 13 Theo Bruce và các cộng sự (2014), du lịch văn hóa và di sản là loại hình du lịch mà ở đó các công trình nghệ thuật, văn hóa, và di sản là chìa khóa để hấp dan du khách, và là nơi dé mọi sự tập trung, hoạt động của du khách sẽ hướng vào.
Có một vài ý kiến tranh luận rằng, mọi loại hình du lịch đều là du lịch văn hóa và di sản, vi tất ca các loại hình du lịch đều liên quan đến con người (văn hóa) trong một điều kiện về tự nhiên, văn hóa (đi sản) có sẵn (Bruce và các cộng sự, 2014). Tai sao ngày nay, du lịch văn hóa và di sản lai trở nên phô biến đến vậy? Câu trả lời có lẽ nằm ở nhu cầu rất lớn cho loại hình du lịch này và cũng vì bởi những lợi ích mà thị trường du lịch này mang lại. Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra rằng các du khách có đam mê vào du lịch văn hóa và du lịch thường có nhiều tiền và rất sẵn sàng chỉ tiêu (Bruce và các cộng sự, 2014). Điều này đem lại một ảnh hưởng tích cực lên hoạt động du lịch văn hóa vốn chưa thực sự sôi nổi trong quá khứ.
Thêm vào đó, du lịch văn hóa di sản tạo ra rất nhiều giá trị giá tăng cho những người làm dịch vụ du lịch nói riêng và những quốc gia làm du lịch nói chung — những thứ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống ở các quốc gia đó. Du lịch di sản văn hóa hiện nay đang ngày càng được phát triển trên cả hai phương diện là những mục tiêu cơ bản và những mục tiêu dài hạn đi cùng với những hoạt động của những chủ thé lớn như là những dự án phát triển kinh tế, các bảo tảng, các nhóm tôn giáo, các đại sứ du lịch, các nhà giáo dục, các doanh nghiệp du lịch quốc tế cũng như địa phương (Lee và các cộng sự, 2001). Các nhân tổ ảnh hưởng đến du lich di sản văn hóa a. Các nhân tô liên quan tới cầu Các nhân tố liên quan tới cầu là những nhân tố xuất phat từ phía du khách.
Đây là những nhân tố thuộc về đời tư hay nơi cư trú thường xuyên của khách du lịch (KDL) có tác dụng thúc đây hay cản trở quyết định đi du lịch của khách du lịch. Nhiều nghiên cứu trước đây như của Kosnan và Ismail (2012); Ibrahim (2011); hay 14 Bashagi và Muchapondwa (2009) đều đã xác định ý nghĩa của những nhân tố này đối với địa phương nghiên cứu. Đây là những nhân tố khách quan mà địa phương nơi có KDL quốc tế không thé tác động được: Y Dan số của nơi cư trú thường xuyên của du khách (Kosnan và Ismail, 2012) Y Thu nhập bình quân đầu người (Bashagi, 2009 và Chumni, 2001) Y Thoi gian rỗi của người dân (Nguyễn Hồng Giáp, 2002) Y Trinh độ văn hóa (Nguyễn Văn Dinh và Trần Thị Minh Hòa, 2009) b. Các nhân tô liên quan tới cung Các nhân tố liên quan tới cung là những nhân tố liên quan trực tiếp đến địa phương có tác dụng kéo, thu hút nhu cầu đi du lịch của KDL quốc tế về với địa phương mình.
Các nhân tô này được chia làm ba (03) nhóm chính: * Nhóm các nhân tố về tai nguyên con người, văn hóa, thiên nhiên bao gồm: o Nguồn nhân lực cho du lịch (Yang, Ye, và Yan, 2011) o Nguồn tài nguyên của du lich địa phương (Pháp lệnh du lịch Việt Nam, 1999) * Nhóm các nhân tố về môi trường kinh doanh và cơ sở hạ tầng cho du lịch (giao thông vận tải, viễn thông, du lịch, .) *_ Nhóm các nhân tô về khung chính sách và qui định hoạt động: o Các qui định và chính sách o Môi trường (tình hình an ninh, vệ sinh và y tế,. Các nhân tô can trở khác Ngoài các nhân tố liên quan đến cầu và cung, còn có một số nguyên nhân khác cản trở việc đi du lịch ở một nơi khác của con người. Đây là các nhân tố can trở việc thu hút khách du lịch quốc tế, như: - Khoảng cách địa lý giữa nơi cư trú thường xuyên và điểm đến du lich (Salleh và Othman, 2008) hay (Small và Sweetman, 2009). - Giá cả của hang hóa thay thé (các điểm du lịch khác).
- Cac thảm họa thiên nhiên hoặc nhân tạo, theo Bashagi và Muchapondwa (2009). Du lịch di sản văn hóa Hà Nội 1. Tổng quan về du lịch Việt Nam Theo tổng cục du lịch Việt Nam (CINET), trong những năm qua, tình hình du lịch thế giới và khu vực có sự tăng trưởng liên tục nhưng khác nhau ở từng giai đoạn. Số lượng khách du lịch quốc tế đạt 940 triệu lượt (năm 2010), 983 triệu lượt (năm 2011) và chạm mốc 1 tỷ lượt (năm 2012).
Trong đó, tính đến năm 2011, châu Âu vẫn là thị trường thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất (504 triệu lượt), tiếp theo là châu Á và Thái Bình Dương (217 triệu lượt). Tổng thu du lịch quốc tế ước đạt 928 tỷ USD (năm 2010) và 1. Việt Nam hiện nằm trong top 5 điểm đến hàng đầu khu vực ASEAN và top 100 điểm đến hấp dẫn của du lịch thế giới. Mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2010 (34,8%) và năm 2011 (19,1%) nhưng mức tăng tuyệt đối của Việt Nam vẫn chưa bằng Thái Lan và Singapore.
Thị trường nguồn của du lịch Việt Nam (năm 2012) theo khu vực là: Đông Bắc Á (46%), ASEAN (20%), Châu Âu (13%), Bắc Mỹ (8%), Thái Bình Dương (5%) và thị trường khác (8%). Mục đích chuyến đi của khách quốc tế đến Việt Nam (năm 2012) là: du lịch, nghỉ ngơi (61%), công việc (17%), thăm thân nhân (17%) và các mục đích khác (5%). LƯỢNG KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA 6,664,700 7,000,000 5,921,925 7 6,000,000 4.2: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam 16 Thực trạng và xu hướng du lịch thế giới tạo cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội dé phát triển như: nhu cầu du lich thế giới và khu vực ngày càng tăng; xu thé hợp tác khu vực ngày càng được đây mạnh; nguồn khách du lịch nội vùng châu A- Thái Binh Dương va khách du lịch cao cấp từ chau Âu, châu Mỹ rat lớn. Tuy nhiên, thách thức không nhỏ đối với du lịch Việt Nam đó là sự cạnh tranh với các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực, xây dung sản phẩm đặc thù nỗi bật đáp ứng nhu cầu của từng phân đoạn khách du lịch, marketing và khả năng tiếp cận từ bên ngoài.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2014 I1thang Uée tính Thang Thang nam 2014 thang 11/2014 so | 11/2014 so so với cùng 11/2014 với thang với thang kỳ năm (người) trước (%) | 11/2013 (%) trước (%) 608.008 Chia theo phương tiện đến Đường không 492.975 Du lịch, nghỉ ngơi 368.928 Thăm thân nhân 103.187 Các mục đích khác 34.423 (Nguôn: Tổng cục du lịch, 2014) Theo số liệu do Tổng cục Thống kê cung cấp, trong tháng 11/2014, lượng khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 608.617 lượt khách, tăng 8,9% so với tháng 10/2014 và giảm 16,7% so với 11/2013.
Tính chung I1 tháng năm 2014 ước đạt 7.008 lượt, tăng 5,4 % so với cùng kỳ năm 2013. 17 Bên cạnh đó, việc chú trọng đây mạnh phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế cũng được nhà nước và toàn ngành du lịch quan tâm.