CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH vực NGHIÊN cứu 1.1 Một số vấn đề cơ bản 1.1 Đất rừng Đất rừng được hiểu là toàn bộ bề mặt được bao phủ bởi cây, cỏ trong đó động, thực vật phát triển theo chiều hướng tự nhiên, mà không bị tác động bởi con người [3]. Rừng là bộ phận cấu thành quan trọng nhất của sinh quyển và có ý nghĩa lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội, sinh thái và môi trường [4], [5]. Rừng cũng là hệ sinh thái hỗn hợp bao gồm thực vật đệm cho trái đất và hỗ trợ cho các dạng sống [5].2 Chất lượng đất Chất lượng đất là thước đo tình trạng của đất so với yêu cầu của một hoặc nhiều loài sinh vật và hoặc với bất kỳ nhu cầu hoặc mục đích của con người [6]. Theo Dịch vụ Bảo tồn Tài nguyên Thiên nhiên của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, “Chất lượng đất là khả năng của một loại đất cụ thể để hoạt động, trong phạm vi hệ sinh thái tự nhiên hoặc được quản lý, để duy trì năng suất của cây trồng và động vật, duy trì hoặc tăng cường chất lượng nước và không khí, và hỗ trợ sức khỏe và môi trường sống của con người” [6], [7].
Trung tâm Nghiên cứu Chung của ủy ban châu Âu đưa ra định nghĩa rằng “Chất lượng đất là một báo cáo mô tả về khả năng của đất cung cấp các hệ sinh thái và dịch vụ xã hội thông qua khả năng của nó để thực hiện các chức năng của nó dưới sự thay đổi các điều kiện” [8].3 Điều kiện lập địa Lập địa được hiểu là những điều kiện của nơi sinh trưởng của thực vật. Các yếu tố hình thành lập địa quyết định nên những kiểu rừng khác nhau và ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng rừng. Điều tra lập địa là cơ sở để chọn loại cây trồng, đưa ra các giải pháp thích hợp và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất rừng trồng [9], [2]. 5 Dạng lập địa là đơn vị cuối cùng của hệ thống phân vị lập địa và được xác định trên một đơn vị nhỏ (xã, lâm trường, đơn vị sản xuất) với tỷ lệ bản đồ lớn 1/10.000 phục vụ cho công tác trồng rừng công nghiệp [9], Hình 1.1 Những yếu tố lập địa chính cần xem xét khi đánh giá ♦♦♦ Phân loại rừng theo điều kiện ỉập địa [2]: 1.
Rùng núi đất, bao gồm: rừng trên các đồi, núi đất. Rừng núi đá, bao gồm: rừng trên núi đá hoặc trên nhũng điện tích đả lộ đầu không có hoặc có rất ít đất trên bề mặt. Rừng ngập nước thường xuyên hoặc định kỳ, bao gồm: a. Rừng ngập mặn, bao gồm: rừng ven bờ biển và các cửa sông có nước triều mặn ngập thường xuyên hoặc định kỳ; b.
Rừng ngập phèn, bao gồm: diện tích rừng trên đất ngập nước phèn, nước lợ; c. Rừng ngập nước ngọt thường xuyên hoặc định kỳ. Rừng đất cát, bao gồm: rừng trên các cồn cát, bãi cát.4 Vùng đệm Khái niệm vùng đệm: Theo Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên Nhiên (IƯCN) (1999) "Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBTTN và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBTTN và chính vùng đệm, đông thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBTTN” [10] Vùng đệm được xem là một vùng nằm ở rìa khu bảo tồn, bao quanh toàn bộ các phần của khu bảo tồn, không thuộc khu bảo tồn và không chịu sự quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn [11]. Tuy nhiên, mọi hoạt động trong vùng đệm cần phải tuân thủ quy chế quản lý vùng đệm do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
Tại Điều 8 - Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên quy định ghi rõ: “Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và KBTTN; có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng [12]. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắn, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ. Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng vói dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng [11], [12]. Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài VQG, những lâm trường quốc doanh tiếp giáp với VQG nên đưa vào trong vùng đệm vì những hoạt động của các lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác bảo tồn của cả vùng đệm và VQG.
Đặc điểm vùng đệm: Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài 7 vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ [12], Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng; Dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng. Các doanh nghiệp đầu tư dự án vùng đệm phải có trách nhiệm kết hợp với các co sở ban ngành các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn vùng đệm, đặc biệt với Ban Quản lý khu rừng Đặc dụng để xây dựng các phưong án sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, định canh, định cư, trên co sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phưong, kết hợp vói các phưong pháp mới nhằm để ổn định và nâng cao đời sống của người dân. Chức năng vùng đệm: Tại Hội thảo tháng 3/2000 ở Hà Nội, các chuyên gia đã khái quát chức năng vùng đệm là thực hiện các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống kinh tế-xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm. Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phưong và các đon vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm [13].
Việc bảo vệ vùng đệm và nâng cao các giá trị bảo tồn cho vùng đệm csẽ tạo điều kiện cho những người dân sinh sống trong vùng đệm những lợi ích KT - XH từ vùng đệm và từ VQG, từ đó giúp việc quản lý VQG trở nên dễ dàng hon [13], [14]. Vai trò vùng đệm: Trong phạm vi đề tài, học viên chỉ ra một vài vai trò cụ thể của VQG Phú Quốc. Đầu tiên, có thể nói vùng đệm hỗ trợ cho rất tốt cho vấn đề bảo tồn ở vùng lõi nhằm tránh các tác động tiêu cực từ con người và môi trường. Vùng đệm có thể khai thác sinh kế cộng đồng thông qua phát triển du lịch sinh thái và khai thác một số lâm sản ở mức độ cho phép.
Nhờ có các chiến lược sinh kế phù hợp ở vùng đệm mà chất lượng cuộc sống của người dân ỏ đó được cải thiện và đồng thời sử dụng nguồn TNTN một cách bền vững hon [14].5 Phương pháp đánh giá chất lượng đất qua chỉ số SQI Hiện nay, phương pháp sử dụng chỉ số chất lượng đất - SQI đã được ứng dụng khá phổ biến trong phân tích, đánh giá đối với nhiều loại đất rừng trên thế giới, điển hình là trong các báo cáo của chương trình phân tích và kiểm kê rừng (FIA) [15]. Chỉ số chất lượng đất (SQI) được dùng để đánh giá sức khỏe của đất rừng được phát triển bởi nhóm tác giả Michael c.O’Neill và Charles H.Perry khi nghiên cứu về các loại đất rừng ở Mỹ và không lâu sau đó chỉ số SQI đã được giới thiệu trong báo cáo của USDA vào năm 2008 [15]. Kể từ đó, chỉ số SQI được sử dụng khá phổ biến trong việc đánh giá chất lượng đất rừng ở nhiều quốc gia khác trên thế giới như Pháp, úc, Canada,. Học viên tính toán SQI bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu đất FIA một phần và đưa ra các khuyến nghị về ứng dụng của nó vào dữ liệu FIA.
Vì chỉ một số thuộc tính được đo trên các mẫu, nên chúng không được sử dụng để tính SQIs. Chỉ số SQI được tính theo công thức: Tổng SQI = y các giá trị đơn lẻ Giá trị tối đa của tổng SQI là 26, đây là tổng giá trị của tất cả 19 chỉ tiêu vật lý và hóa học được phân tích, sau đó tổng SQI được biểu thị bằng phần trăm của giá trị lớn nhất có thể có của tổng SQI đối với các đặc tính của đất được đo: SQI% = (tổng SQI / tổng SQI tối đa có thể có cho các thuộc tính được đo) X 100 Các giá trị này sẽ được trình bày cụ thể tại phần Phục lục 1A: Giá trị chỉ số chất lượng đất và ngưỡng giá trị liên quan đến thành phần đất và giải thích [15] 1.2 Kinh nghiệm đánh gia đất đai và xác định các điều kiện lập địa Những thành tựu của ngành khoa học đất, công tác xác định các điều kiện lập địa và đánh giá chất lượng đất đai hiện đã được quan tâm nhiều ở cả ngoài nước và trong nước. Các phương pháp đánh giá đất đã dần phát triển thành lĩnh vực nghiên cứu liên ngành và mang tính hệ thống (tự nhiên - kinh tế - xã hội) nhằm tạo sự kết nối các khối kiến thức khác nhau phục vụ cho sử dụng đất bền vững. 9 Có thể giới thiệu tóm lược một số phương pháp đánh giá đất chính như sau: - Đánh giá đất theo định tính, chủ yếu dựa vào mô tả và xét đoán; - Đánh giá đất theo phương pháp thông số; - Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình, mô phỏng định hướng.1 Một so công trình nghiên cứu ngoài nước Năm 2016, tác giả Johan Rockstrốm và cộng sự [16] đã công bố công trình nghiên cứu “Thâm canh nông nghiệp bền vững vì sự thịnh vượng của con người và sự bền vững toàn cầu”.
Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã chỉ ra vấn đề bền vững trong nông nghiệp có liên quan đến chất lượng đất nên việc đánh giá nó là rất quan trọng.