Chương 1: Cơ sở lý luận về Cấu trúc vốn. Chương 2: Đánh giá thực trạng cấu trúc vốn tại Công ty Cổ phần sữa Việt Nam. Chương 3: Nghiên cứu đề xuất cấu trúc vốn thích hợp nhằm giảm chi phí sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk). ___________________________________________________________________________ HVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 19 GVHD: T.S Nguyễn Xuân Hoàn _____________________________________________________________________________ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Vốn là một điều kiện tiên quyết để cho một doanh nghiệp có thể ra đời và hoạt động, đồng thời nó cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào. Mỗi doanh nghiệp đều có những đặc thù riêng, song quá trình sản xuất kinh doanh đều có đặc điểm chung là bắt đầu bằng yếu tố đầu vào và kết thúc là yếu tố đầu ra. Để tạo ra các yếu tố đầu ra thì trước hết doanh nghiệp phải có các yếu tố đầu vào có giá trị nhất định, các yếu tố đó được gọi là vốn của doanh nghiệp. Như vậy, vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi.
Hay nói cách khác vốn là năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn được chia ra làm hai loại là Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu, trong đó: - Nợ phải trả là các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác. - Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn do doanh nghiệp sở hữu được quyền sử dụng theo nhu cầu mục đích kinh doanh của mình. Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ ___________________________________________________________________________ HVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 20 GVHD: T.S Nguyễn Xuân Hoàn _____________________________________________________________________________ sở hữu đóng góp nên nó không phải là một khoản nợ, do đó doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp. Chủ sở hữu vốn của doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia góp vốn, các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn bao gồm các thành phần quan trọng khác như các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn mệnh giá; các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ; vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của hội đồng quản trị.
Cấu trúc vốn. Cấu trúc vốn là sự kết hợp số vốn chủ sở hữu, nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn được dùng để tài trợ quyết định đầu tư của một doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra ở đây là liệu một Công ty nào đó có thể tác động đến giá trị và chi phí sử dụng vốn của nó bằng cách thay đổi cấu trúc vốn hay không? Và quyết định đầu tư hay không đầu tư vào một dự án nào đó có thay đổi không và thu nhập của cổ đông thay đổi hay không? Mục tiêu của bài này là xem xét và phân tích sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên chi phí sử dụng vốn nhằm giảm thấp chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp. Một Công ty có thể có một cấu trúc vốn tối ưu bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính phù hợp.
Như vậy, Công ty có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn thông qua việc gia tăng sử dụng nợ (vì khi sử dụng nợ Công ty sẽ được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế). Tuy nhiên, khi tỷ lệ nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng do đó nhà đầu tư sẽ gia tăng tỷ lệ lợi nhuận đòi hỏi (rE ). Mặc dù sự gia tăng rE lúc đầu cũng không hoàn toàn xóa sạch lợi ích của việc sử dụng nợ như là một nguồn vốn rẻ hơn cho đến khi ___________________________________________________________________________ HVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 21 GVHD: T.S Nguyễn Xuân Hoàn _____________________________________________________________________________ nào nhà đầu tư tiếp tục gia tăng lợi nhuận đòi hỏi khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa. Lý luận về cấu trúc vốn.
Mục tiêu chung của việc quản lý công tác tài chính doanh nghiệp là thực hiện tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp được quy nạp thành lý luận về cấu trúc vốn. Đối với người quản lý tài chính doanh nghiệp mà nói thì việc tìm hiểu những lý luận về cấu trúc vốn sẽ có lợi cho việc nắm vững thực chất của cấu trúc vốn từ đó có thể có cách nhìn rộng hơn trong việc huy động vốn cho doanh nghiệp. - Lý luận về lãi ròng.
Đặc trưng của lý luận về lãi ròng là xác định giá trị của doanh nghiệp theo lãi ròng của tiền vốn. Lý luận này cho rằng tỉ lệ vay càng cao thì chi phí sử dụng vốn càng hạ. Giả thiết rằng khi tỉ lệ vay nợ trong cấu trúc vốn tăng cao thì chi phí sử dụng vốn vay và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là không thay đổi. Hơn nữa, do chi phí sử dụng vốn vay ít hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu, nên khi tỉ lệ chi phí sử dụng vốn vay tăng lên thì chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu giảm xuống do đó chi phí sử dụng vốn bình quân sẽ giảm xuống.
Vì vậy, vay nợ càng nhiều thì chi phí sử dụng vốn bình quân càng thấp, giá trị doanh nghiệp càng lớn. Khi tỉ lệ vay nợ đạt tới 100% thì giá trị doanh nghiệp là lớn nhất. Theo lý luận này thì cấu trúc vốn lý tưởng nhất của doanh nghiệp là vay nợ 100%. Điều này rõ ràng thiếu cơ sở hiện thực, khó thể thuyết phục được ai.
- Lý luận về doanh thu thuần túy. Lý luận này cũng giống như lý luận lãi ròng đều do nhà lý luận tài chính nổi tiếng Dawid Ponlande nêu ra. Lý luận này cho rằng, dù cho đòn bẩy tài chính có thay đổi như thế nào thì chi phí sử dụng vốn bình quân và giá trị doanh nghiệp vẫn không thay đổi. Giả thiết rằng khi vốn vay có chi phí sử dụng vốn thấp tăng lên, thì ___________________________________________________________________________ HVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 22 GVHD: T.S Nguyễn Xuân Hoàn _____________________________________________________________________________ sẽ làm tăng rủi ro cho vốn chủ sở hữu và làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân tăng lên.
Vì thế cấu trúc vốn, chi phí sử dụng vốn và giá trị doanh nghiệp không có quan hệ gì với nhau. Theo lý luận này thì không tồn tại cấu trúc vốn tốt nhất và không liên quan đến các quyết định đầu tư. Có thể thấy lý luận này trái ngược với lý luận lãi ròng. - Lý luận truyền thống.
Vào thập kỷ 50 của thế kỷ 20 các chuyên gia quản lý tài chính hầu như đều theo lý luận truyền thống ở khoảng giữa 2 lý luận lãi ròng và doanh thu thuần túy. Lý luận truyền thống cho rằng mỗi doanh nghiệp đều có một cấu trúc vốn tốt nhất, vì rằng tỉ lệ vốn vay tăng lên thì chi phí sử dụng vốn vay không thể giữ nguyên không đổi. Sau khi tỉ lệ vốn vay tăng cao thì rủi ro tài chính cũng lớn từ đó làm chi phí vốn vay và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu đều tăng làm chi phí sử dụng vốn bình quân cũng tăng cao. Cho nên chi phí sử dụng vốn không thể độc lập với cấu trúc vốn.
Cấu trúc vốn tốt nhất khi chi phí sử dụng vốn biên tế của vốn vay bằng chi phí sử dụng vốn biên tế thực tế của vốn chủ sở hữu. Lý thuyết MM do hai độc giả người Mỹ là Franco Modigliami và Mertor Miller đề ra vào năm 1958. Lúc đầu, do lý luận của MM dựa theo những giả thiết không hoàn toàn sát với thực tế cho nên lý thuyết không hoàn toàn phù hợp với hiện thực. Về sau lý thuyết MM đã được phát triển và đề ra lý thuyết cân bằng giữa lãi chịu thuế - chi phí phá sản.
Mô hình lý thuyết cân bằng như hình 1.1 Trong hình: Vl: Giá trị doanh nghiệp khi doanh nghiệp có sử dụng nợ, không có chi phí phá sản. Vu: Giá trị doanh nghiệp khi doanh nghiệp không sử dụng nợ. ___________________________________________________________________________ HVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 23 GVHD: T.S Nguyễn Xuân Hoàn _____________________________________________________________________________ V’l: Giá trị doanh nghiệp khi doanh nghiệp có sử dụng nợ và có chi phí phá sản. TB: Tấm chắn thuế.
FA: Chi phí phá sản. D1: Mức vay nợ khi chi phí phá sản đã rất cao. D2: Cấu trúc vốn tốt nhất.1 : Mô hình lý thuyết cân bằng. Doanh nghiệp sử dụng nợ vay thì khi hoạt động có lợi nhuận doanh nghiệp sẽ hưởng được tấm chắn thuế.
Tấm chắn thuế là khoản tiền mà doanh nghiệp được hưởng khi sử dụng nợ thay vì sử dụng vốn cổ phần hoặc lợi nhuận giữ lại. Lý do là khi sử dụng nợ, lãi từ việc vay nợ mà công ty chi trả là một khoản chi phí được khấu trừ thuế. Cổ tức và lợi nhuận giữ lại thì không được khấu trừ thuế. Chi phí sử dụng vốn vay tăng theo mức vay nợ.
Khi tỉ lệ nợ đạt đến mức nào đó thu nhập trước thuế giảm xuống, đồng thời chi phí phá sản của doanh nghiệp cũng tăng lên. Khi tỉ lệ nợ vay chưa vượt qua điểm D1, chi phí phá sản chưa xuất hiện. Khi tỉ lệ nợ đạt đến điểm D1, thì chi phí phá sản bắt đầu xuất hiện nhiều làm triệt ___________________________________________________________________________ HVTH: Đỗ Thị Thu Thủy 24 GVHD: T.S Nguyễn Xuân Hoàn _____________________________________________________________________________ tiêu lợi ích từ tấm chắn thuế của nợ vay. Khi tỉ lệ nợ vay đạt đến điểm D2, lợi ích từ tấm chắn thuế vừa bằng với chi phí phá sản, lúc này giá trị doanh nghiệp đạt lớn nhất.
Khi tỉ lệ nợ vay vượt qua điểm D2, chi phí phá sản lớn hơn lợi ích từ tấm chắn thuế làm cho giá trị doanh nghiệp giảm xuống. - Lý thuyết thông tin không đối xứng. Đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20 Gorodon Donaldson giáo sư của trường đại học Harvero đã nghiên cứu vấn đề huy động vốn của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã tìm ra nhiều chỗ không thống nhất với lý luận cân bằng.