Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng hỗn giao cây lá kim và cây lá rộng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo tồn nguồn gen quý hiếm và cung cấp dịch vụ môi trường tại khu vực Đông Nam Á. Vườn Quốc gia Phousabot – Poungchoong thuộc huyện Khăm, tỉnh Xiêng Khoảng, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, được thành lập năm 2004 với tổng diện tích tự nhiên 217.195 ha. Khu vực này sở hữu độ cao trung bình 1.094 m so với mực nước biển, lượng mưa hàng năm đạt 1.580 mm và có tới 80% diện tích là rừng ẩm nhiệt đới nguyên sinh hoặc ít bị tác động.

Tuy nhiên, áp lực từ khai thác lâm sản quá mức và các hoạt động canh tác nương rẫy không kiểm soát đã làm suy giảm chất lượng lâm phần, phá vỡ cấu trúc tự nhiên và cản trở khả năng tự tái sinh của nhiều loài cây bản địa có giá trị cao. Vấn đề đặt ra là sự thiếu hụt các dữ liệu định lượng chuyên sâu về quy luật cấu trúc tầng cây cao, đặc điểm lớp cây tái sinh và thảm tươi cây bụi tại khu vực miền Bắc Lào.

Luận văn thạc sĩ lâm học của tác giả Somsack Chanthavong, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Đỗ Anh Tuân tại Trường Đại học Lâm nghiệp, tập trung giải quyết mục tiêu: định lượng hóa cấu trúc tầng cây cao, đánh giá đa dạng sinh thái học, phân tích đặc tính lớp cây tái sinh tự nhiên trên 3 trạng thái rừng (rừng giàu, rừng trung bình và rừng nghèo) tại Vườn Quốc gia Phousabot – Poungchoong vào năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp hệ thống chỉ số sinh lượng làm cơ sở xác lập các giải pháp lâm sinh chính xác, hướng tới mục tiêu phục hồi trữ lượng gỗ đạt trên 200 m³/ha và bảo tồn các loài thực vật nguy cấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết nền tảng về sinh thái học rừng nhiệt đới của Richards và Rollet, kết hợp với học thuyết tái sinh rừng và diễn thế sinh thái tự nhiên của Baur và Thái Văn Trừng. Theo các lý thuyết này, cấu trúc rừng là biểu hiện không gian phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa các loài thực vật và môi trường sống, trong đó độ tàn che tối ưu từ 0,6 đến 0,7 đóng vai trò quyết định đến mật độ sống sót của cây con tái sinh.

Hệ thống khái niệm chuyên ngành then chốt được vận dụng xuyên suốt gồm:

  • Tổ thành loài (Species Composition): Tỷ lệ tham gia của các loài cây trong lâm phần, xác định dựa trên số cá thể và tiết diện ngang.
  • Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Value Index - IV%): Đánh giá vai trò sinh thái của từng loài thông qua trung bình cộng của tỷ lệ mật độ tương đối (N%) và tỷ lệ tiết diện ngang tương đối (G%) theo phương pháp Daniel Marmillod. Loài có IV% từ 5% trở lên được xếp vào công thức tổ thành.
  • Chỉ số đa dạng sinh học Shannon-Wiener (H') và Chỉ số ưu thế Simpson (Cd): Đo lường mức độ phong phú và tính đồng đều trong phân bố cá thể của các loài thực vật tầng cây cao và tầng tái sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra điển hình tạm thời kết hợp phân tích thống kê sinh học hiện đại.

  • Quy mô và phương pháp chọn mẫu: Tổng cộng 12 ô tiêu chuẩn (OTC) định lượng diện tích 2.000 m² (kích thước 40 m x 50 m) được thiết lập đại diện trên 3 trạng thái rừng: 4 OTC rừng giàu (OTC 1 đến 4), 4 OTC rừng trung bình (OTC 5 đến 8) và 4 OTC rừng nghèo (OTC 9 đến 12), tạo nên tổng diện tích điều tra tầng cây cao là 24.000 m² (2,4 ha). Trong mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m) tại 4 góc và tâm ô để điều tra cây tái sinh và thảm tươi, nâng tổng số ô dạng bản lên 60 ODB với tổng diện tích 1.500 m². Độ tàn che được đo bằng máy đo góc KB-2 qua 100 điểm phân bố đều trên mỗi OTC.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm phân tích R với thuật toán phân cụm không đối xứng (Cluster Analysis) và hệ số tương đồng Sorensen (SI) trên 4 biến số thực nghiệm (số lượng loài, đường kính ngang ngực D1.3, chiều cao vút ngọn Hvn và phẩm chất cây). Lý do lựa chọn phân tích đa biến này là nhằm gộp nhóm các ô tiêu chuẩn một cách khách quan dựa trên cơ sở toán học sinh thái. Kết quả kiểm định hồi quy cho thấy mô hình đạt độ tương thích cao với R² hiệu chỉnh đạt 62,71% và kiểm định ANOVA đạt mức ý nghĩa thống kê p < 0,001.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Sự phân hóa rõ rệt về các chỉ tiêu sinh lượng tầng cây cao giữa các trạng thái: Tại trạng thái rừng giàu, đường kính bình quân D1.3 đạt 22,02 cm, chiều cao vút ngọn bình quân Hvn đạt 14,41 m, tổng tiết diện ngang G đạt 31,293 m²/ha và trữ lượng bình quân M đạt 217,923 m³/ha (dao động từ 208,087 đến 224,817 m³/ha). Trạng thái rừng trung bình ghi nhận D1.3 đạt 18,73 cm, Hvn đạt 14,15 m, G đạt 22,971 m²/ha và trữ lượng M đạt 158,100 m³/ha. Trạng thái rừng nghèo có các chỉ số giảm sút nghiêm trọng: D1.3 chỉ đạt 16,55 cm, Hvn đạt 11,02 m, G đạt 15,349 m²/ha và trữ lượng M chỉ đạt 81,890 m³/ha. Như vậy, trữ lượng rừng giàu cao hơn rừng trung bình 37,84% và cao hơn rừng nghèo tới 166,12%.

  2. Cấu trúc tổ thành và loài ưu thế có sự chuyển dịch đặc trưng: Toàn bộ khu vực nghiên cứu ghi nhận 49 loài cây gỗ thuộc 31 họ thực vật:

    • Rừng giàu (39 loài thuộc 14 họ): Có 5 loài ưu thế với IV ≥ 5%, trong đó Thông hai lá (Pinus merkusii) chiếm ưu thế cao nhất với IV = 12,5% (N% = 16,29%, G% = 17,51%), tiếp theo là Quế lợn (Cinnamomum iners) với IV = 9,55%, Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) với IV = 8,10%, Côm lá kèm (Elaeocarpus stipularis) với IV = 7,38% và Dẻ gai nhím (Castanopsis tribuloides) với IV = 5,27%.
    • Rừng trung bình (37 loài thuộc 22 họ): Có 6 loài tham gia công thức tổ thành, dẫn đầu bởi Thông ba lá (Pinus kesiya) với IV = 12,96%, Trâm mốc (Syzygium cumini) với IV = 10,63%, Vối thuốc răng cưa (Schima wallichii) với IV = 8,59% và Pơ mu (Fokienia hodginsii) với IV = 7,47%.
    • Rừng nghèo (47 loài thuộc 22 họ): Có 7 loài ưu thế, nổi bật là Dẻ gai (Castanopsis ceracantha) với IV = 11,45%, Hoàng đàn giả với IV = 11,25%, Thông hai lá với IV = 9,57% và Sồi (Quercus poilanei) với IV = 9,21%.
  3. Mức độ tương đồng và liên kết phân nhóm: Kết quả phân tích 12 OTC theo 4 chỉ tiêu đã phân lập các lâm phần thành 3 nhóm độc lập ở mức độ tương đồng 62,71%. Khi nâng ngưỡng tương đồng lên 96,34%, các ô tiêu chuẩn tách thành 12 nhóm riêng biệt, phản ánh tính đa dạng và sự dị biến cục bộ của điều kiện vi lập địa miền núi.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về trữ lượng và tiết diện ngang ở rừng giàu là minh chứng cho cấu trúc thành thục ổn định, nơi các loài lá kim bản địa cổ thụ như Thông hai lá và Hoàng đàn giả phát triển thành tầng vượt tán, tạo bóng che ổn định cho các loài cây lá rộng chịu bóng bên dưới. Ngược lại, việc trạng thái rừng nghèo có số lượng loài cao hơn (47 loài so với 39 loài ở rừng giàu) không phản ánh chất lượng lâm phần tốt hơn, mà bắt nguồn từ hiện tượng xáo trộn tán rừng sau tác động của con người. Ánh sáng lọt xuống tầng dưới kích thích các loài cây tiên phong ưa sáng, gỗ mềm tái sinh ồ ạt, làm giảm chỉ số đường kính và trữ lượng lâm phần xuống còn 81,890 m³/ha.

So sánh với các nghiên cứu lân cận tại Lào, số lượng 49 loài cây gỗ tại Vườn Quốc gia Phousabot – Poungchoong thấp hơn mức 56 đến 82 loài tại Vườn Quốc gia Năm Pui và 145 loài tại Vườn Quốc gia Phou Khao Khouay. Nguyên nhân chính là do khu vực nghiên cứu nằm ở độ cao trên 1.090 m tại vùng Bắc Lào với biên độ nhiệt độ khắc nghiệt (nhiệt độ mùa đông xuống dưới 10°C), tạo nên hệ sinh thái hỗn giao lá kim - lá rộng mang tính đặc thù cao.

Về mặt trình bày học thuật, dữ liệu so sánh trữ lượng và tiết diện ngang giữa 3 trạng thái rừng rất thích hợp để trực quan hóa bằng biểu đồ cột đôi (Clustered Column Chart), trong khi cơ cấu giá trị quan trọng (IV%) của các loài cây chủ chốt có thể biểu diễn qua biểu đồ radar (Radar Chart) nhằm làm nổi bật ưu thế sinh thái của các loài Thông và Pơ mu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại Vườn Quốc gia Phousabot – Poungchoong, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý cụ thể:

  1. Phân vùng bảo tồn nghiêm ngặt và kiểm soát khai thác: Thiết lập ranh giới bảo vệ tuyệt đối cho phân khu bảo tồn nghiêm ngặt thuộc vùng lõi 217.195 ha của vườn quốc gia. Đặt mục tiêu giảm 90% tình trạng khai thác gỗ lậu đối với các loài lá kim quý hiếm như Thông hai lá, Pơ mu và Hoàng đàn giả trong giai đoạn 2021-2025. Trách nhiệm thực hiện do Ban Quản lý Vườn Quốc gia phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Xiêng Khoảng chủ trì.

  2. Thực hiện các biện pháp lâm sinh xúc tiến tái sinh tự nhiên có hỗ trợ: Đối với trạng thái rừng nghèo và rừng trung bình, áp dụng kỹ thuật phát dọn dây leo, bụi rậm chèn ép quanh các gốc cây con triển vọng của loài Thông và Dẻ, giữ độ tàn che lâm phần ở mức tối ưu từ 0,6 đến 0,7. Mục tiêu nâng mật độ cây tái sinh mục tiêu đạt trên 2.500 cây/ha và tỷ lệ cây phẩm chất tốt đạt trên 60% vào năm 2026. Công tác này do Trạm Khuyến nông - Lâm nghiệp huyện Khăm phối hợp cùng các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tiến hành.

  3. Thúc đẩy mô hình đồng quản lý rừng và sinh kế cộng đồng: Huy động sự tham gia của 169 bản làng trong khu vực với cơ cấu dân số gồm 60% người Lào Lum, 30% người Lào Xúng và 10% người Lào Thơng. Xây dựng quy ước bảo vệ rừng cấp bản, giao khoán rừng gắn với quyền lợi thu hái lâm sản ngoài gỗ (sa nhân, hà thủ ô, sa nhân). Đặt chỉ tiêu 100% các bản vùng đệm ký cam kết bảo vệ rừng trong giai đoạn 2022-2025 dưới sự điều phối của chính quyền huyện Khăm.

  4. Xây dựng hệ thống ô giám sát định vị tài nguyên rừng lâu dài: Thiết lập mạng lưới ô định vị cố định (Permanent Sample Plots) dựa trên 12 OTC nghiên cứu sẵn có để theo dõi định kỳ 3 năm một lần về động thái tăng trưởng trữ lượng (hướng tới chỉ tiêu tăng trưởng bình quân đạt từ 3,0 đến 4,5 m³/ha/năm) và diễn thế tầng cây tái sinh trong giai đoạn 2025-2030, do Trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp Lào phụ trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban quản lý các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Cung cấp tài liệu quy chuẩn về phương pháp thiết lập ô tiêu chuẩn, đánh giá độ tàn che bằng máy đo KB-2 và quy trình tính toán chỉ số quan trọng IV% để áp dụng vào công tác kiểm kê tài nguyên thực vật định kỳ.
  • Các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Lâm học: Nguồn tư liệu tham khảo giá trị về cấu trúc hệ sinh thái rừng hỗn giao lá kim và lá rộng vùng núi cao Đông Nam Á, hỗ trợ xây dựng giáo trình và các công trình nghiên cứu về động thái rừng nhiệt đới.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp: Cục Lâm nghiệp Lào, Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Xiêng Khoảng có thêm căn cứ thực chứng để ban hành các quy chế khai thác chọn, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và phân hạng bảo tồn loài nguy cấp.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cẩm nang học thuật mẫu mực về quy trình xử lý số liệu điều tra lâm học, ứng dụng phần mềm R trong phân tích đa biến sinh thái và phương pháp viết luận văn chuẩn mực.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao rừng hỗn giao lá kim - lá rộng tại VQG Phousabot – Poungchoong lại có ý nghĩa sinh thái đặc biệt?
Trả lời: Kiểu rừng này phân bố ở độ cao trên 1.000 m với sự hiện diện đồng thời của các loài lá kim cổ bản địa (Pinus merkusii, Pinus kesiya, Fokienia hodginsii) và cây lá rộng họ Dẻ, họ Nguyệt quế. Đây là hệ sinh thái chuyển tiếp nhạy cảm, đóng vai trò giữ nước đầu nguồn và lưu giữ nguồn gen quý hiếm bậc nhất khu vực Bắc Lào.

Câu hỏi 2: Trữ lượng gỗ tầng cây cao giữa các trạng thái rừng biến động như thế nào?
Trả lời: Nghiên cứu định lượng trên 12 OTC cho thấy trữ lượng chênh lệch rất lớn: rừng giàu đạt trung bình 217,923 m³/ha, rừng trung bình đạt 158,100 m³/ha, trong khi rừng nghèo chỉ đạt 81,890 m³/ha. Trữ lượng rừng giàu gấp 2,66 lần so với rừng nghèo do mật độ cây gỗ lớn có đường kính trên 22 cm vượt trội.

Câu hỏi 3: Vì sao số lượng loài cây ở trạng thái rừng nghèo lại cao hơn rừng giàu?
Trả lời: Trạng thái rừng nghèo ghi nhận 47 loài so với 39 loài ở rừng giàu. Hiện tượng này xảy ra do tán rừng bị mở trống sau tác động chặt hạ, tạo điều kiện cho nhiều loài cây tiên phong ưa sáng và cây bụi xâm lấn nhanh chóng, làm tăng số lượng loài tổng thể nhưng lại làm suy giảm giá trị trữ lượng lâm phần.

Câu hỏi 4: Loài cây nào chiếm ưu thế sinh thái lớn nhất tại khu vực nghiên cứu?
Trả lời: Thông hai lá (Pinus merkusii) là loài ưu thế nhất ở rừng giàu với chỉ số IV = 12,5% và N% = 16,29%. Ở rừng trung bình, Thông ba lá (Pinus kesiya) chiếm ưu thế tuyệt đối với IV = 12,96%, trong khi Dẻ gai (Castanopsis ceracantha) dẫn đầu ở rừng nghèo với IV = 11,45%.

Câu hỏi 5: Phương pháp phân tích nào được sử dụng để phân chia các nhóm trạng thái rừng?
Trả lời: Đề tài sử dụng phân tích cụm không đối xứng (Cluster Analysis) trên phần mềm R phiên bản 2.1 kết hợp hệ số tương đồng Sorensen dựa trên 4 biến số: số loài, đường kính D1.3, chiều cao Hvn và phẩm chất cây. Mô hình đạt mức tương đồng gộp nhóm 62,71% và R² hiệu chỉnh đạt 62,71% với p < 0,001.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa thành công các quy luật cấu trúc tầng cây cao trên 24.000 m² ô tiêu chuẩn tại Vườn Quốc gia Phousabot – Poungchoong, xác định trữ lượng bình quân dao động từ 81,890 m³/ha (rừng nghèo) đến 217,923 m³/ha (rừng giàu).
  • Xác lập công thức tổ thành chi tiết cho 3 trạng thái rừng với 49 loài cây gỗ ghi nhận, khẳng định vai trò ưu thế sinh thái của các loài Thông hai lá, Thông ba lá, Hoàng đàn giả, Pơ mu và Dẻ gai.
  • Ứng dụng thành công mô hình phân tích hồi quy đa biến và hệ số tương đồng Sorensen trên phần mềm R, phân tách chính xác 12 ô tiêu chuẩn thành 3 nhóm trạng thái lâm phần ở độ tương đồng 62,71%.
  • Đóng góp hệ thống luận cứ khoa học thực chứng phục vụ công tác quy hoạch, xúc tiến tái sinh và bảo tồn nguồn gen thực vật nguy cấp tại tỉnh Xiêng Khoảng giai đoạn 2021-2030.
  • Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan lâm nghiệp cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn quản lý rừng đặc dụng để ngăn chặn đà suy thoái và nâng cao chất lượng rừng bền vững.