Chương 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm hình thái cơ bản và phân loại nấm linh chi Các loại nấm thuộc chi Ganoderma (đặc biệt là G. lucidum) đã được sử dụng trong y học cổ truyền phương Đông để điều trị và phòng ngừa một số bệnh như ung thư, cao huyết áp, viêm phế quản mãn tính, bệnh hen suyễn, thuốc bổ và thuốc an thần [78]. Gần đây, đã có các chế phẩm thực phẩm chức năng làm từ sợi nấm, quả thể và bào tử của G.
lucidum đã có trên thị trường nhằm bổ sung vào chế độ ăn uống hỗ trợ điều trị kháng u, tăng khả năng miễn dịch và khả năng chống oxi hóa [91, 132, 137]. Thị trường thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ G. lucidum ước tính doanh thu khoảng 5-6 tỷ USD/năm, trong đó thị trường Hoa Kỳ tiêu thụ khoảng 1,6 tỷ USD [154]. Một số loài khác như G.
pfeifferi… cũng có tác dụng hỗ trợ điều trị và chăm sóc sức khỏe con người [47, 52, 71, 78, 91, 96, 154]. Điểm đặc biệt có ở nhóm nấm này là màng bào tử đảm 2 lớp - một dấu hiệu di truyền nổi bật, cho nên nhiều nhà khoa học đề nghị xếp chúng thành một họ độc lập là họ Linh chi (Ganodermataceae Donk). Nấm linh chi (Ganoderma) mọc trên cây gỗ sống hay đã chết, thích hợp ở nhiệt độ thấp từ 21- 260C, ở các vùng đồi núi cao trên 1000m so với mực nước biển, như các vùng ở Tam Đảo, Pù Mát, Thừa Thiên Huế, Trường Sơn. gặp nhiều vào mùa mưa (từ tháng 5 -11) [3, 8, 10, 11, 14].
Các loài nấm Linh chi được phát hiện ở Việt Nam khá sớm. Dựa theo màu sắc mũ nấm, y học phương Đông phân biệt 6 loại linh chi với tên gọi tương ứng: linh chi trắng (bạch chi hay ngọc chi), linh chi vàng (hoàng chi hay kim chi), linh chi xanh (thanh chi hay long chi), linh chi đỏ (xích chi hay hồng chi), linh chi tím (tử chi), Linh chi đen (Hắc chi hay huyền chi). Ngoài ra, còn có nhiều cách phân loại khác [10, 11, 12, 14, 16]. Ganoderma là chi nấm dược liệu.
Trong hơn 40 năm, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành phần hóa học của các loài nấm thuộc chi này, đã phân lập được 431 các hợp chất chuyển đổi bậc hai. Cấu trúc của các hợp chất chuyển đổi bậc hai phân lập được bao gồm: (a) các hợp chất lanostan chứa 30 nguyên tử cacbon (axit ganoderic), (b) các hợp chất lanostan chứa 30 nguyên tử cacbon (andehyt, ancol, este, glycosit, lacton, 6 xeton), (c) các hợp chất lanostan chứa 27 nguyên tử cacbon (axit lucidenic), (d) các hợp chất lanostan chứa 27 nguyên tử cacbon (ancol, lacton, este), (e) các hợp chất lanostan chứa 24, 25 cacbon (f) các hợp chất triterpen pentacyclic chứa 30 cacbon (g) meroterpenoit, (h) farnesyl hydroquinon (meroterpenoit), (i) C15 các sesquiterpenoit, (j) các steroit, (k) các alkaloit, (l) prenyl hydroquinon, (m) các benzofuran, (n) các dẫn xuất của benzopyran-4-on và (o) dẫn xuất của benzenoit. lucidum là loài được nghiên cứu sâu và rộng về thành phần các hợp chất chuyển hóa bậc hai và hoạt tính sinh học. Ngoài ra, một số loài đã được nghiên cứu như G.
Các hợp chất có hoạt tính sinh học đuợc phân lập từ nấm linh chi (Ganoderma lucidum) Nấm linh chi (Ganoderma lucidum) là loài được nghiên cứu nhiều nhất của họ Ganodermataceae Donk. Loài nấm này được đặt tên linh chi Nhật Bản hay ling-zhi ở Trung Quốc, đã được biết đến từ thời cổ đại và đã được đề cập trong cuốn sách y khoa nổi tiếng Thần nông bản thảo (viết trong thời Đông Hán) và Bản thảo cương mục (viết vào khoảng năm 1590 AC). Nấm linh chi (G. lucidum) được dùng để điều trị nhiều loại bệnh như: viêm gan, tăng cholesterol máu, tiểu đường, ung thư, suy giảm miễn dịch, giảm bạch cầu, xơ vữa động mạch, bệnh trĩ, mệt mỏi mãn tính, mất ngủ và chóng mặt do suy nhược thần kinh, viêm phế quản và cao huyết áp [24, 45, 49, 56, 89, 115, 147].
Nấm linh chi (G. lucidum) là chứa một lượng lớn các hợp chất đa dạng về cấu trúc và hoạt tính sinh học. Hầu hết các chất chuyển hóa bậc hai có hoạt tính sinh học được phân lập từ G. lucidum bao gồm hai nhóm chính: lanosterol (axit ganoderic và các dẫn xuất của chúng) và các polysaccarit [35, 103].
Ngoài ra, loài nấm này còn chứa các peptit có khối lượng phân tử thấp và các protein có hoạt tính sinh học đa dạng [118, 121, 134]. Dịch chiết nước của G. lucidum đặc biệt hiệu quả trong việc ức chế sự phát triển của ung thư ác tính có nguồn gốc từ mô mềm. Còn các dịch chiết không phân cực là không có khả năng này, chúng có hoạt tính mạnh chống sự oxi hóa lipit, cũng như thu gom hydroxyl và các gốc tự do [67, 89].
Lanostanoit tritecpenoit Các hợp chất triterpenoit được phân lập từ nấm linh chi (Ganoderma) có kiểu khung lanosterol. Cho đến nay, có hơn 431 triterpenoit khác nhau được phân lập từ các phân đoạn không phân cực của dịch chiết nấm linh chi (Ganoderma). Hầu hết đều là dẫn xuất lanosterol với mức độ oxy hoá cao có dược tính như axit ganoderic, ganoderiol, axit ganolucidic, lucidon và axit lucidenic [35]. R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 R8 1 α-OAc α-OAc -H -H Δ24-25 -CH3 -COOH 2 β-OAc α-OAc -H -H Δ24-25 -CH3 -COOH 8 α-OH α-OAc -H -H Δ24-25 -CH3 -COOH 9 β-OH -H -H -H Δ24-25 -CH3 -COOH 11 β-OAc α-OAc β-OAc -H Δ24-25 -CH3 -COOH 12 α-OH α-OAc -H =O Δ24-25 -CH3 -COOH 13 α-OAc α-OAc -H =O Δ24-25 -CH3 -COOH 14 α-OAc α-OH -H =O Δ24-25 -CH3 -COOH 15 α-OAc α-OH β-OAc -H Δ24-25 -CH3 -COOH 19 β-OH -H -H -H α-OH -OH -CH2OH -CH3 20 =O α-OH -H -H Δ24-25 -OH -CH2OH -CH2OH 21 =O -H -H -H Δ24-25 -CH2OH -CH2OH 22 =O -H -H -H α-OH -CH2OH -CH3 31 β-OH -H -H -H Δ24-25 -CH3 -CH2OH 32 =O -H -H -H Δ24-25 -CH3 -CH2OH 47 β-OH -H -H -H Δ24-25 -CH3 -CHO 51 β-OH -H -H -H α-OH -OH -CH3 -CH3 52 β-OH -H -H -H Δ24-25 -CH2OH -CH2OH 60 =O -H -H -H Δ24-25 -CH3 -CHO 8 61 =O α-OH -H -H Δ24-25 -CH3 -COOH 67 =O -H -H -H Δ24-25 COOH -CH3 70 =O OH -H -H Δ24-25 -CHO -COOH 71 =O α-OH -H -H Δ24-25 -CH3 -CH3 72 -OH -H -H -OH Δ24-25 COOH -CH3 R1 R2 R3 R4 R5 R6 44 β-OH β-OH -H =O -H -COOH 45 =O =O -H =O -H -COOCH3 53 =O β-OH -H =O Δ20-11 -COOH 54 =O β-OH -H =O Δ20-11 -COOCH3 55 =O =O β-OAc =O -OH -COOH 56 =O =O -H =O -OH -COOH 57 β-OH =O β-OAc =O -OH -COOH 58 β-OH β-OH -H =O -OH -COOH 59 β-OH β-OH β-OAc =O -OH -COOH 69 =O β-OH -H α-OH -H -COOH 78 β-OH β-OH -H =O -H -COOBu 79 =O β-OH -H =O -H -COOBu R1 R2 R3 R4 R5 R6 R7 R8 23 β-OH -H Δ5-6 -H Δ7-4 -H -H Δ22-23 25 β-OH -H α-OH β-OH Δ7-4 -H -H Δ22-23 26 β-OH -H α-OH β-OMe Δ7-4 -H -H Δ22-23 9 27 =O -H -H -H Δ7-4 -H -H Δ22-23 28 β-OH -H Δ5-6 -H Δ7-4 -H -H -H 29 β-OH -H -H -H Δ7-4 -H -H -H 30 =O Δ4-5 Δ6-7 Δ8-14 -H Δ22-23 74 =O Δ4-5 Δ6-7 Δ8-14 α-OH Δ22-23 75 =O Δ4-5 Δ6-7 Δ8-14 β-OH Δ22-23 Theo Shiao M.
và cộng sự phân lập được axit ganoderic A (3) và B (4) từ dịch chiết cloroform của quả thể nấm G. Kể từ đó, các chất dẫn xuất lanosterol mới từ nấm được phát hiện liên tục cho đến ngày hôm nay. và cộng sự (1983) [126] phân lập được 6 lanostanoit: axit ganoderic T (5), V (6), W (7), X (8), Y (9) và Z (10) từ quả thể của G. và cộng sự [113] tách 5 hợp chất từ quả thể G.
lucidum bao gồm axit lanosta-7,9(11),24-trien- 3α,15α,22β-triaxetoxy-26-oic (11), axit lanosta-7,9(11), 24-trien-15α-axetoxy-3α- hydroxy-23-oxo-26-oic (12), axit lanosta-7,9(11),24-trien-3α, 15α-diacetoxy-23-oxo- 26-oic (13), axit lanosta-7,9(11),24-trien-3α-axetoxy-15α-hydroxi-23-oxo-26-oic (14) và axit lanosta-7,9(11)24-trien-3α-axetoxy-15α,22β-dihydroxy-26-oic (15). và cộng sự đã phân lập 13 hợp chất chuyển hóa bậc 2 từ quả thể nấm G. lucidum là axit ganoderic α (16), A (3), B (4), C1 (17) và H (18); ganoderiol A (19), B (20) và F (21); ganodermanontriol (22), ergosterol (23), ergosterol peroxit (24), cerevisterol (25) và 3β-5α-dihydroxy-6β-metoxyergosta-7,22-dien (26). Nhóm nghiên cứu này cũng tìm thấy ganoderiol F, ganodermanontriol, axit ganoderic B, C, α và H, ganoderiol A và B, cũng như 3β-5α-dihydroxy-6β-metoxyergosta-7,22- dien có hoạt tính kháng virus chống lại HIV-1 [40].
và các cộng sự phân lập được ergosta-7,22-dien-3-on (27), ergosta-5,7-dien-3β-ol (28) fungisterol (29), ergosterol (23), ergosterol peroxit (24), ergosta-4,6,8 (14),22-tetraen-3-on (30), ganodermadiol (31), ganodermenonol (32); axit ganoderic DM (33), lucidadiol (34) và lucidal (35) cũng từ quả thể nấm này [51]. 10 Nhóm nghiên cứu Min B. và các cộng sự (2000) đã phân lập các axit ganoderic γ (36), δ (37), ε (38), ζ (39), η (40) và θ (41), ngoài ra còn có axit ganolucidic D (42) và C2 (43) từ các bào tử nấm G. lucidum, cũng như hoạt tính gây độc tế bào đối với các dòng tế bào khối u Meth-A và LLC [94].
và các cộng sự (2001) đã phân lập axit lucidenic A, C, N (44), lucidolacton, metyl lucidenat F (45) và axit ganoderic E (46) từ quả thể nấm linh chi G. Axit lucidenic A, N và axit ganoderic E cho thấy hoạt tính gây độc tế bào đối với các dòng tế bào ung thư Hep-G2, Hep-G2. và cộng sự (2002) cũng đã phân lập được 3 dẫn xuất lanosterol là luciandehyd A (47), B (48) và C [49]. Nhóm nghiên cứu này cũng tìm thấy ganodermanonol (32), ganodermadiol (31), ganodermanondiol (49), ganodermanontriol (22), axit ganoderic A (3), axit ganoderic B8 (50) và axit ganoderic C1 (17).
Các nhà nghiên cứu cũng công bố lucidimol B (51) và ganodermatriol (52) cho thấy hoạt tính gây độc tế bào in vitro đối các dòng tế bào ung thư phổi Lewis [48].