CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nấm Thượng hoàng và giá trị dinh dưỡng của nấm Thượng hoàng. Nấm Thượng hoàng (tên khoa học là Phellinus linteus) là một loại nấm dùng làm thuốc được sử dụng ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc trong nhiều thế kỷ để ngăn ngừa bệnh rối loạn chức năng dạ dày ruột, tiêu chảy, xuất huyết và ung thư [49]. Phân loại khoa học Giới: Fungi Ngành: Basidiomycota Lớp: Basidiomytetes Bộ: Hymenochaetales Họ: Hymenochaetaceae Chi: Phellinus Loài: P.
linteus Nấm Thượng hoàng hay còn gọi là Hoàng linh chi có tên khoa học Phellinus Linteus là một loại nấm thuộc họ Hymenochaetaceae. Giống như các thành viên khác của chi Phellinus, nấm Thượng hoàng sống hoại sinh trên thực vật, trong đó lignin và cellulose của cây chủ là giảm. Đây cũng là một nguyên nhân gây ra mục trắng. Quả thể nấm thường mọc trên gốc cây đã chết hoặc phần thân, vỏ cây bị khô có hình móng ngựa hoặc hình đĩa, có màu vàng đến vàng sẫm.
Ngoài tự nhiên các cây hay có nấm Thượng hoàng mọc là các cây lá rộng, nhiều nhất là liễu và bạch dương. Nấm Thượng hoàng giống như các họ hàng gần của nó thuộc họ Linh chi có một quả thể rất cứng và có thể tồn tại trong nhiều năm, tạo ra một lớp bề mặt mới mỗi năm. Ở Alaska, người dân địa phương đốt nấm Thượng hoàng và trộn với thuốc lá nhai để tăng cường tác dụng của nicotine trong thuốc lá. Nấm Thượng hoàng là một loài đa bội, với các lỗ ở mặt dưới mang các bào tử đáy.
Nấm Phellinus linteus trong tự nhiên [55] Quả nấm thường có đường kính 5 - 20 cm, một số trường hợp đặc biệt có thể lên tới 40 cm. Độ dày của quả nấm thay đổi từ 2 - 12 cm, thậm chí dày 20 cm. Nấm có các lỗ nhỏ, màu nâu xám. Các ống của nó có chiều dài khoảng 2 - 7 mm.
Quả nấm trở nên cứng hơn theo tuổi và khô, với độ ẩm, nấm sẽ mềm đi. Mỗi năm, nấm tạo thành một lớp ống mới chồng lên các lớp cũ. Các bào tử già chưa được giải phóng thường bị bịt kín bởi sự phát triển sau đó làm tắc nghẽn các ống và chúng xuất hiện trên mặt cắt ngang dưới dạng các đốm màu nâu. Mùi của quả nấm có đặc tính nấm rõ rệt, có vị đắng.
Khi tiếp xúc với kali hydroxide, nấm sẽ bị nhuộm đen. Bào tử của nấm Thượng hoàng tạo thành một đám màu trắng. Chiết xuất của nấm này đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ trong y học Phương Đông và nấm Thượng hoàng được coi là loài nấm thần dược, có sức mạnh trẻ hóa và kéo dài tuổi thọ. Ở Trung Quốc, nấm được gọi là Song-gen; ở Hàn Quốc, nấm được gọi là Sang-hwang và ở Nhật Bản nấm được gọi là Meshimakobu.
Loại nấm này có màu vàng cam, sinh trưởng trên các cây họ dâu tằm, là một loại nấm rất nổi tiếng trong chi Phellinus thuộc họ Hymenochaetaceae. Chi Phellinus gồm một số loài đã được sử dụng trong điều trị ung thư, tiểu đường, nhiễm khuẩn, virus và loét như P. Phellinus linteus là các loài nấm mọc nhiều năm, lớp thụ tầng năm sau chồng lên lớp thụ tầng năm trước (Hình 1. Nấm Thượng hoàng mọc ở những 4 vùng rừng sâu, núi cao hiểm trở, các khu rừng nguyên sinh, tuổi nấm có khi đến vài chục năm.
Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu chú trọng đến các chất có hoạt tính sinh học [18], [35] và xác định cũng như phân lập các thành phần có hoạt tính sinh học, chức năng kháng u và các cơ chế dược lý của nấm Thượng hoàng [15], [32], [49]. Ngoài ra, nấm Thượng hoàng còn được chứng minh có các hoạt tính như: chống thoái hóa thần kinh, chống tiểu đường, kháng viêm, kháng u, chống dị ứng, điều hòa miễn dịch, bảo vệ gan và các hoạt tính dược lý khác. Thành phần hoá học và hoạt tính của nấm Thượng hoàng Trong nhiều thập kỷ qua một số lượng lớn các thành phần hóa học đã được phân lập từ nấm Thượng hoàng. Trong đó, polysaccharide là thành phần hóa học chính và cũng là thành phần mang hoạt tính sinh học chính trong việc phòng chống ung thư của PL.
Ngoài ra, còn có một số nhóm chất khác bao gồm flavone, coumarin, ergosterol, axit agaricic, axit béo, triterpen, axit thơm, axit amin, xyloza oxyase, urease, catalase, este, sucse, enzyme cellulase [12], [33]. PL ký sinh ở các cây khác nhau thì sẽ cho thành phần và nồng độ của các hợp chất khác nhau. Mặt khác thành phần hóa học trong thể quả và sợi nấm cũng có sự khác biệt [7]. Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Phellinus linteus thường được dùng kết hợp với các loại nấm thuốc khác (như Linh chi và nấm Maitake).
Trong nấm Thượng hoàn chứa một số hợp chất được cho là rất tốt đến sức khỏe, bao gồm axit ellagic và axit caffeic - hai loại hợp chất tự nhiên có tác dụng chống oxy hóa. Nấm Thượng hoàng có chứa nhiều dưỡng chất quý, giúp hỗ trợ sức khỏe cho cơ thể như: Giúp bảo vệ tốt các cơ quan cơ thể trong quá trình điều trị xạ trị hóa học khi điều trị ung thư, có tác dụng tốt trong hoạt động chống ung thư vú, kích thích chức năng nội tiết và miễn dịch, ngăn ngừa các phản ứng phụ nhờ ức chế sự tăng trưởng khối u và di căn, rất tốt với bệnh tim, huyết áp cao, tiểu đường… Ngoài ra, nấm Thượng hoàng được cho là có tác dụng giảm viêm và giảm đau. Thành phần cụ thể như sau: 5 Terpenes được xem là thành phần chủ yếu của nấm giúp kiểm soát huyết áp và cholesterol, đồng thời giúp đẩy mạnh sự hấp thụ oxy và làm tăng sự hoạt động của gan. Theo một số báo cáo gần đây, một số terpen bao gồm Sesquiterpenes, ditepenes và triterpenes là tách khỏi thể quả của PL.
Trong năm 2009, bốn loại lanostane-triterpenoids gilvsins A-D cùng với hai hợp chất đã biết 24-methylenelanost-8-ene-3β, 22-diol và 5α-ergosta-7, 22-diene-3-one đã được tìm thấy trong thể quả của Phellinus gilvus [44]. Ngoài ra, ba Sesquiterpenes mới bao gồm phellilins A - C được phân lập từ chiết xuất ethanol của sợi nấm nuôi cấy PL [37]… Polysaccharide đại diện cho một trong những thành phần phong phú nhất trong loại nấm này. Một nhóm chính các thành phần hoạt tính sinh học đã được chiết xuất và phân lập từ quả thể, sợi nấm nuôi cấy và dịch lên men của P. linteus, là những phân tử sinh học đa dạng về cấu trúc với các hoạt tính sinh học tuyệt vời và đáng chú ý, bao gồm điều hòa miễn dịch bao gồm tăng cường miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch trung gian dịch thể và tế bào.
Hoạt động kích thích quan trọng trong việc ức chế khối u, kháng u, chống viêm, chống dị ứng, kháng sinh và chống oxy hóa Polysaccharicdes có tác dụng: Giúp ức chế sự di chuyển và di căn của khối u, tăng cường chống ung thư [40]. Ngoài ra Polysaccharicde còn có tác dụng chống cao huyết áp. Protein liên kết với polysaccharide từ nấm ức chế sự phát triển khối u, và sự hình thành mạch và làm thay đổi Wnt/β-catenin trong SW480 tế bào ung thư ruột kết. Theo một báo cáo được công bố năm 2008, Sliva D.
và cs đã nghiên cứu khả năng kháng ung thư của nấm Thượng hoàng [39]. Tác giả đã chứng minh rằng nấm Thượng hoàng ức chế sự tăng sinh, sự di căn cũng như sự hình thành khối u của các tế bào ung thư vú ở người. Trong thể quả, polysaccharide là thành phần chính và hầu hết trong số chúng là heteropolysaccharide. Mannose, galactose, glucose, fructose, xylose là các monosaccharide chính có trong thể quả [8].
Song và cs [41] chiết xuất sợi nấm bằng nước nóng và sau đó phân lập polysacaride, dịch chiết này có thể 6 kích thích tế bào lympho B. Trong dịch chiết chứa 82,5% polysacarit và 13,2% polypeptide. Phân tích sâu hơn cho thấy proteoglycan bao gồm 72,2% polysacaride và 22,3% protein và phần polysacaride chủ yếu bao gồm mannose, galactose, glucose, arabinose cũng như xylose và phần protein chứa nhiều axit glutamic, axit aspartic glycine và serine. Hợp chất Phenolic có hoạt tính sinh học mang lại các đặc tính y học và chất lượng của nấm.
Phenolic có liên quan đến việc ức chế xơ vữa động mạch, ung thư và được coi như hợp chất loại bỏ các chất cặn bã trong cơ thể. Ngoài ra phenolic có thể ngăn ngừa ảnh hưởng của các gốc oxy hoá như superoxide dismutase (-SOD là enzyme quan trọng giúp bảo vệ, chống lại các tác hại của superoxide, là một trong những gốc tự do phổ biến trong cơ thể). Tuy nhiên, các hợp chất phenol và hoạt tính giống SOD của nấm Thượng hoàng vẫn chưa rõ ràng. Có tổng cộng có 35 flavones, pyranones và furan đã được tách ra từ nấm Thượng hoàng.
Trong số đó, bốn flavones (phellectrins A và B cũng như meshimakobnol A và B), 15 pyranones (phellectridimer A, phellectridin A - J, baumin, phellinin C cũng như phellinin B1 và B2 ) và 5 furan (phellinusfrans A và B, phellifuropyranone A, phellinstatin cũng như phelliusin A) được phân lập từ nấm Thượng hoàng. Bên cạnh đó nấm Thượng hoàng còn Adenosine cấu tạo gồm nucleoside và purine. Giúp tăng cường sự trao đổi chất và năng lượng, ngăn ngừa sự phân mảnh của tiểu cầu có thể gây ra tắc nghẽn trong hệ tuần hoàn. Acid ganoderic giúp kiểm soát chất béo và duy trì cân nặng, là một trong những thành phần chủ yếu có hoạt tính dược lý mạnh, có tác dụng duy trì sự trẻ trung và góp phần cải thiện sức sống.
Ganoderma có tác dụng điều hòa huyết áp, làm loãng máu, cải thiện chức năng của não và dây thần kinh. Hispidin b điều tpidin b điều hòa huyết áp, oxy hóa do hydrogen peroxide gây ra. 7 Cũng như nấm Linh chi, nấm Thượng hoàng có tác dụng hố trợ với những người mắc bệnh, đặc biệt là các bệnh liên quan đến khối u, ngoài ra nấm Thượng hoàng còn có tác dụng thải độc, tăng cường hỗ trợ các cơ quan quan trọng trong cơ thể như tim, gan, mạch máu. Nấm Thượng hoàng được biết đến có một số tác dụng như sau [54]: Giúp tạo ra những phản ứng sinh học tự nhiên có lợi cho hỗ trợ điều trị các bệnh về khối u và ung thư; hạ đường huyết, hạ natri máu, hỗ trợ tiểu đường, làm giảm nhiễm trùng thứ, gia tăng sức đề kháng cho cơ thể, có khả năng giúp cho người bệnh ăn ngon miệng hơn.
Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng hợp chất exopolysaccaride được chiết xuất từ nấm Thượng hoàng được nuôi lên men trong môi trường lỏng có tác dụng hạ đường huyết cải thiện các tổn thương của gan. Mặt khác, họ cũng phát hiện ra rằng các polysaccaride của nấm Thượng hoàng ức chế biểu hiện của các cytokine viêm.