ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế toàn cầu hóa, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự ra đời của nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực đã trở thành một trong những vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển của mọi tổ chức. Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn. Sự cạnh tranh vừa là công cụ để phát triển, vừa là công cụ để đào thải các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường. Hiện nay, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không chỉ chú trọng đầu tư vào phát triển thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm hay cải tiến mẫu mã hàng hóa,…mà còn phải chú trọng đến chất lượng nguồn nhân lực của mình.
“Tài sản quý nhất của các doanh nghiệp chính là con người” (Matsushita Konosuke – Người sáng lập Panasonic, ông tổ của phương thức kinh doanh kiểu Nhật). Nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức, giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường, vì vậy việc quản trị nguồn nhân lực có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp bởi vì nó xuất phát từ vai trò của con người trong các hoạt động xã hội. Công tác quản trị nhân lực sẽ không thành công nếu thiếu đi quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong mỗi một tổ chức hay cơ quan. Sự khác biệt giữa con người với máy móc đó chính là mỗi cá nhân đều có một tính cách riêng biệt, không ai có tính cách giống như nhau, và người lao động trong doanh nghiệp cũng như thế, họ khác nhau về sở thích, nguyện vọng, năng lực, khả năng,…nên họ sẽ có những nhu cầu và ý muốn khác nhau.
Vì vậy việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của nhân viên trong công việc là một trong những tiền đề đóng góp cho sự phát triển của nguồn nhân lực. Tổng công ty Viễn thông MobiFone được biết đến là một trong những nhà mạng được thành lập lâu đời của Việt Nam. Theo MobiFone Plus hiện Mobifone đang chiếm khoảng 30% thị phần di động trên thị trường viễn thông và đang là nhà mạng nắm giữ thị phần đứng thứ 2 trong 3 nhà mạng viễn thông lớn nhất, có gần 50 triệu thuê bao với gần 30.000 trạm 3G trên khắp cả nước. Theo 3 Báo cáo về kết quả hoạt động kinh doanh năm 2022, MobiFone ước đạt doanh thu 28.329 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 2.
So với năm 2021, doanh thu công ty mẹ giảm 6%, lợi nhuận trước thuế giảm 43%. Trong bối cảnh thị trường viễn thông đang bão hòa, doanh thu có xu hướng giảm, Tổng công ty MobiFone nói chung và MobiFone chi nhánh Đắk Lắk nói riêng thời gian tới sẽ thực hiện các chiến lược đẩy mạnh kinh doanh trên các lĩnh vực mới như tài chính số, y tế số, giáo dục số. đây là các lĩnh vực vốn cần nhiều nguồn lực về hệ thống, con người trong giai đoạn đầu triển khai. Chính vì thế ngoài việc đào tạo và bồi dưỡng cho nhân viên của mình, công ty cần phải chú trọng đến các quyền và lợi ích của nhân viên để làm cho họ hài lòng với công việc.
Một khi người nhân viên thấy hài lòng với công việc của mình thì chắc chắn họ sẽ thực hiện các công việc được giao một cách năng suất và hiệu quả, đồng thời gắn bó hơn với công ty. Vì vậy, một nghiên cứu nhằm tìm hiểu và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nhân viên trong công việc mang một ý nghĩa quan trọng lúc này. Từ những nhận thức trên, em đã quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk”.2 Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu về cơ sở lí luận về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên. - Tìm hiểu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk. - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng trong công việc tại MobiFone chi nhánh Đắk Lắk.3 Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk.4 Phạm vi nghiên cứu 1.1 Phạm vi không gian - Đề tài được thực hiện tại MobiFone chi nhánh Đắk Lắk. - Địa chỉ: 16 Trường Chinh, Tp. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk.2 Phạm vi thời gian - Đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 – 05/2023.
- Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2020 – 2022. - Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 03/2023 – 04/2023.3 Nội dung nghiên cứu - Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên. - Nghiên cứu thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk. - Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk.
+ Mô tả mẫu nghiên cứu + Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha + Phân tích nhân tố khám phá EFA + Phân tích tương quan + Phân tích hồi quy - Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng trong công việc của nhân viên MobiFone chi nhánh Đắk Lắk. 5 PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm về sự hài lòng trong công việc 2.1 Quan niệm về sự hài lòng Theo Eisenblatt (2002), hài lòng, mãn nguyện hay thỏa mãn là một trạng thái cảm xúc thỏa mãn có thể được xem là trạng thái tinh thần, có thể có được từ sự thoải mái trong tình huống, cơ thể và tâm trí của một người. Nói một cách thông thường, sự hài lòng có thể là một trạng thái chấp nhận hoàn cảnh của một người và là một hình thức hạnh phúc nhẹ nhàng và dự kiến hơn. Theo Oliver (1997), sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó.
Nó được xem xét ở ba mức độ: nếu kết quả nhận được ít hơn mong đợi thì chủ thể sử dụng dịch vụ sẽ cảm thấy không hài lòng. Còn nếu kết quả dịch vụ bằng mức mong đợi thì chủ thể sử dụng dịch vụ sẽ hài lòng và hơn nữa, nếu kết quả dịch vụ nhận được nhiều hơn mong đợi thì chủ thể sử dụng dịch vụ sẽ rất hài lòng và thích thú với dịch vụ đó.2 Quan niệm về sự hài lòng trong công việc Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng trong công việc được phát triển bởi các học giả khác nhau. Những cách tiếp cận đa dạng này tồn tại bởi vì mỗi nhân viên có một cảm giác và phản ứng đặc biệt đối với tổ chức của mình. Để đo lường và xác định mức độ hài lòng của công việc có thể là một thách thức bởi vì nó ảnh hưởng thông qua thái độ của nhân viên cũng như khả năng giải quyết công việc cần thiết, giao tiếp trong tổ chức và cách nhà quản lý đối xử với nhân viên của họ.
Theo Hoppock (1935), sự hài lòng công việc là sự kết hợp của tâm lý, hoàn cảnh sinh lý và môi trường làm việc tác động đến người lao động trong quá trình thực hiện công việc. Sự hài lòng công việc nói chung được xem là trạng thái cảm xúc do sự đánh giá, thái độ của người lao động trong quá trình thực hiện công việc hay kết quả công việc mang lại. 6 Theo Herzberg (1959), sự hài lòng của người lao động là mức độ yêu thích công việc hay cố gắng duy trì làm việc của người lao động. Theo Dawis và Nestron (1984) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là kết quả của sự đánh giá của người lao động đối với mức độ mà điều kiện làm việc đáp ứng nhu cầu của cá nhân.
Theo Spector (1997), sự hài lòng công việc là cách mà người lao động thể hiện thái độ về công việc và khía cạnh khác của công việc. Đó là sự thể hiện mức độ mà người lao động thích hoặc không thích công việc của họ. Theo Lee (2007), định nghĩa sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động cảm nhận và thỏa mãn khi thực hiện công việc có mục tiêu và định hướng hiệu quả rõ ràng. Ông cũng cho rằng sự hài lòng trong công việc được tác động bởi ba nhân tố kết hợp, đó là giá trị kỳ vọng từ công việc, phương tiện làm việc và sự đãi ngộ từ thành quả lao động trong tổ chức.
Theo Robbins và Judge (2013), sự hài lòng công việc được định nghĩa là một cảm nhận tích cực về kết quả của một công việc đến từ sự đánh giá các đặc điểm của công việc đó. Như vậy, định nghĩa về sự hài lòng trong công việc trong các nghiên cứu trước đây thiếu sự thống nhất nhưng có thể chia làm hai trường phái chính (Ramesh và Gelfand, 2010). Trường phái thứ nhất thường gắn sự hài lòng công việc với sự phù hợp công việc thông qua các lợi ích vật chất như lương thưởng, sự thăng chức, cơ sở vật chất. Ví dụ, mô hình nghiên cứu dựa trên chỉ số mô tả công việc Job Descriptive Index (JDI) của Smith et al.
(1969) cho thấy mức độ thỏa mãn công việc của một người thông qua các nhân tố: đặc điểm công việc, cấp trên, tiền lương, cơ hội đào tạo - thăng tiến và đồng nghiệp. Ở Việt Nam, Trần Kim Dung (2005) đã thực hiện nghiên cứu đo lường sự thỏa mãn trong công việc bằng cách sử dụng thang đo JDI và thuyết nhu cầu của Maslow (1943) kết quả có 2 nhân tố mới: phúc lợi và điều kiện làm việc (Lê Nguyễn Đoan Khôi & Trần Thị Ngọc Phượng, 2013). Trường phái thứ hai lại định nghĩa sự hài lòng công việc thiên về sự hài lòng với các đồng nghiệp và các mối quan hệ. Ví dụ: Kakar (1978) định nghĩa sự hài lòng công việc là những tình cảm trong các mối quan hệ trong công việc.