chương I, Ph p lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27/04/1999). Khái niệm hành vi ngƣời tiêu dùng Theo Phillip Kotler, hành vi ngƣời tiêu dùng đƣợc định nghĩa: “Một tổng thể những hành động diễn biến trong suốt quá trình kể từ khi nhận biết nhu cầu cho tới khi mua và sau khi mua sản phẩm” [12]. Nói cách khác, hành vi của ngƣời tiêu dùng là cách thức các cá nhân ra quyết định sẽ sử dụng các nguồn lực sẵn có của họ (thời gian, tiền bạc, nỗ lực) nhƣ thế nào cho các sản phẩm tiêu dùng. Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ, hành vi ngƣời tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa các yếu tố kích thích của môi trƣờng với nhận thức và hành vi của con ngƣời mà qua sự tƣơng tác đó, con ngƣời thay đổi cuộc sống của họ.
Theo cách định nghĩa này, khái niệm hành vi ngƣời tiêu dùng đƣợc 11 nhìn dƣới góc độ tính tƣơng tác, tác động qua lại lẫn nhau giữa con ngƣời và môi trƣờng bên ngoài. Theo sách Hành vi ngƣời tiêu dùng - Nhà xuất bản Tài chính xuất bản năm 2013 thì “Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng đối với việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hóa, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt động và ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian”. [8] Theo đó hành vi ngƣời tiêu dùng là một tiến trình gồm một chuỗi hành động từ việc lựa chọn, mua hàng, lƣu trữ, sử dụng và loại bỏ sản phẩm hoặc dịch vụ của khách hàng nói chung. Để thực hiện mỗi hành vi này, ngƣời ta cho rằng khách hàng phải trải qua một quá trình ra quyết định tƣơng ứng.
Các bƣớc trong quá trình quyết định đó có thể là nhận diện nhu cầu, tìm kiếm thông tin. cho đến khi đƣa quyết định cuối cùng. Vì đó là một tiến trình rất năng động nên khi phân tích các bƣớc này bao giờ chúng ta cũng đặt các quyết định đó trong bối cảnh không gian và thời gian cụ thể. Thông tin từ mỗi bƣớc này đều có ý nghĩa với ngƣời làm marketing.
Tóm lại, tất cả các định nghĩ về Hành vi ngƣời tiêu dùng đều tập trung vào các khía cạnh của quá trình nhận biết, tìm kiếm thông tin, đánh giá mua hàng, phản ứng sau mua của ngƣời tiêu dùng và mối quan hệ biện chứng giữa quá trình đó với các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp, gián tiếp vào nó. Mô hình hành vi mua của ngƣời tiêu dùng Theo mô hình hành vi ngƣời tiêu dùng, các kích thích marketing và những kích thích khác tác động vào hộp đen của khách hàng và tạo ra các đáp ứng của ngƣời mua. Tùy vào đặc điểm của khách hàng mà họ sẽ nhận thức và đáp ứng nhƣ thế nào với kích thích. Tiến trình quyết định mua hàng bản thân nó sẽ tác động lên hành vi của khách hàng.
Từ đó đƣa ra các đáp ứng của khách hàng mà chúng ta có thể dễ dàng quan sát đƣợc hành vi tiêu dùng sản phẩm của khách hàng qua việc: chọn sản phẩm, chọn nhãn hiệu, chọn cửa 12 hàng, thời gian mua, số lƣợng mua. Các kích thích của marketing bao gồm 4 biến số của phối thức Maketing là sản phẩm, giá, phân phối và cổ động. Những kích thích khác bao gồm những nhân tố và hiện tƣợng xung quanh khách hàng nhƣ môi trƣờng kinh tế, công nghệ, chính trị và văn hóa. Tất cả những yếu tố này đã tác động đến suy nghĩ của khách hàng khi ra quyết định mua mỗi ngày.
Các tác Các tác HỘP ĐEN CỦA NGƢỜI MUA Các đáp ứng của nhân nhân khác Đặc điểm Tiến trình quyết ngƣời mua marketing ngƣời mua định của ngƣời Sản phẩm Kinh tế Chọn sản phẩm Giá cả Xã hội mua Chọn nhãn hiệu Sản phẩm Nhận thức vấn đề Phân phối Chính trị Giá cả Tìm kiếm thông tin Chọn nơi mua Chiêu thị Văn hóa Phân phối Đánh giá Chọn lúc mua Chiêu thị Quyết định Số lƣợng mua Hành vi mua Hình 1. Mô hình hành vi người tiêu dùng (Nguồn: Giáo trình Quản trị Marketing - Định hướng giá trị - trang 157) 1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi mua của ngƣời tiêu dùng Có rất nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi của ngƣời tiêu dùng nhƣ văn hóa, xã hội, cá nhân, tâm lý. Những ngƣời làm marketing cần có những hiểu biết, phân tích cụ thể về các nhân tố để có thể thấu hiểu ngƣời tiêu dùng và hành vi của họ, từ đó lập và phát triển các kế hoạch marketing thu hút sự đáp ứng mạnh mẽ của ngƣời tiêu dùng.
Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng (Nguồn: Gi o trình Marketing Căn bản - Philip Kotler – Chương 4) 13 1. Tiến trình ra quyết định mua Hầu hết tiến trình mua của khách hàng thƣờng trải qua 5 giai đoạn là nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các lựa chọn, lựa chọn mua và đánh giá sau khi mua. Tuy nhiên không phải tất cả các sản phẩm đều nhƣ thế, đặc biệt là những mặt hàng ít đƣợc quan tâm. Ngƣời tiêu dùng có thể bỏ qua hoặc đảo lộn vài giai đoạn.
Các diễn biến trong các quá trình tâm lý của cá nhân liên kết chặt chẽ với tiến trình ra quyết định. Mức độ phức tạp trong việc ra quyết định mua hàng liên quan trực tiếp đến mức độ quan tâm của khách hàng trong tình huống mua. Khách hàng càng quan tâm khi mua thì tiến trình mua hàng càng phức tạp. Quá trình quyết định mua (Nguồn: Gi o trình Marketing Căn bản - Philip Kotler – Chương 4) a.
Nhận biết nhu cầu Quá trình mua sắm bắt đầu khi ngƣời mua nhận thức đƣợc vấn đề hay nhu cầu của mình nhƣ sự thiếu hụt hoặc cảm thấy cần một cái gì đó. Nhu cầu có thể đƣợc bắt nguồn từ những tác nhân kích thích nội tại (nhƣ nhu cầu sinh lí: đói, khát,…) hay bên ngoài (nhƣ tác động của bạn bè: điện thoại di động thông minh, máy tính bảng). Khi ngƣời tiêu dùng có một cảm giác về một sự khác biệt quan trọng giữa trạng thái hiện có và trạng thái họ mong muốn liên quan đến việc mua hàng tiềm năng, họ sẽ có động cơ giải quyết vấn đề mua hàng. Tuy nhiên, sự khác biệt này phải đủ lớn để khách hàng hành động.
Tình trạng ƣớc muốn của ngƣời tiêu dùng chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó tác động của nhóm tham khảo là một trong những ảnh hƣởng 14 quan trọng nhất. Và cũng có những yếu tố ảnh hƣởng đến tình trạng hiện tại của ngƣời tiêu dùng bao gồm cả sự thiếu hụt cảm nhận đƣợc. Tìm kiếm thông tin Khi ngƣời tiêu dùng đã có nhu cầu họ có thể sẽ tiếp tục hoặc không tiếp tục làm một điều gì đó để thỏa mãn nhu cầu của mình. Điều đó phụ thuộc vào mức độ quan trọng của nhu cầu cũng nhƣ thời gian, tiền bạc, khả năng tiếp cận với nhà cung ứng của ngƣời mua.
Nếu nhu cầu đủ mạnh họ sẽ bắt đầu tìm kiếm các thông tin cần thiết về sản phẩm. Có nhiều kiểu tìm kiếm thông tin nhƣ tìm kiếm thông tin nội bộ, bên ngoài, tìm kiếm thông tin trƣớc đó và tìm kiếm liên tục. Tìm kiếm thông tin trƣớc đó có thể là tìm kiếm bên trong, bên ngoài hoặc cả hai và nó có thể tập trung hoặc không tập trung vào một nhu cầu cụ thể của ngƣời tiêu dùng. Còn tìm kiếm thông tin liên tục thƣờng xảy ra khi ngƣời tiêu dùng muốn học hỏi nhiều hơn về một vài dòng sản phẩm họ quan tâm, yêu thích và nhằm xây dựng cơ sở thông tin sử dụng trong tƣơng lai.
Nó cũng mang lại cho họ một vị trí nhất định nào đó trong nhóm tham khảo, gia đình nhờ sự hiểu biết này và trở thành ngƣời dẫn đạo ý tƣởng. Đánh giá các lựa chọn Sau khi tìm kiếm các thông tin về sản phẩm, khách hàng chọn ra đƣợc một tập hợp các nhãn hiệu, từ đó, họ sẽ tiến hành đánh giá các lựa chọn khác nhau theo một số tiêu chuẩn quan trọng để có thể chọn ra phƣơng án tối ƣu nhất. Các chỉ tiêu đánh giá này có thể là chủ quan hay khách quan tùy theo nhu cầu, mục đích của từng ngƣời và khác nhau giữa nhiều ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ giữa các loại sản phẩm. Để lựa chọn, ngƣời tiêu dùng tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu cùng với sự đánh giá trực quan theo các tiêu chuẩn đề ra.
Trên cơ sở tính toán và đánh giá lợi ích tổng hợp, ngƣời tiêu dùng sẽ chọn một nhãn hiệu nào đó và ý định mua đƣợc hình thành. Quyết định mua Sau khi khách hàng thu thập đủ thông tin cũng nhƣ đánh giá xong các phƣơng án dựa trên bảng các tiêu chuẩn quan trọng đã lập ra thì ngƣời tiêu dùng sẽ chuẩn bị để ra quyết định mua hàng. Quyết định mua thƣờng đƣợc xem là một sự khẳng định của ý định mua và lẽ tất nhiên nghiêng về phƣơng án có đƣợc sự đánh giá cao nhất. Tuy nhiên ý định mua và quyết định mua thực sự có thể thay đổi do thái độ của ngƣời khác tác động hoặc do các yếu tố tình huống mua bất ngờ.
Các bước giữa việc đánh giá phương án và quyết định mua (Nguồn: Giáo trình Quản trị Marketing – Định hướng giá trị – trang 179) Khi thực hiện ý định mua hàng, ngƣời mua có thể đƣa ra 5 quyết định cụ thể: quyết định về nhãn hiệu, về ngƣời bán, về số lƣợng, về thời gian và về phƣơng thức thanh toán. Hành vi sau khi mua Sau khi mua và sử dụng sản phẩm, ngƣời tiêu dùng sẽ đánh giá giá trị thực tế mà sản phẩm đem lại với giá trị kỳ vọng. Từ sự so sánh đó, ngƣời tiêu dùng có thể rơi vào hai trạng thái hài lòng hoặc không hài lòng. Các trạng thái đó ảnh hƣởng đến thông tin truyền miệng mà ngƣời tiêu dùng phát ra, hành vi mua lặp lại của họ và một số ứng xử khác.
TỔNG QUAN VỀ SỮA BỘT 1. Khái niệm về sữa bột Theo Giáo sƣ Karen Smith, Trung tâm Nghiên cứu sữa Wisconsin tổng hợp Bộ luật liên bang từ Hoa Kỳ: Sữa bột gồm sữa tách béo, sữa nguyên kem hay bơ sữa đã loại bỏ hết nƣớc. Tất cả các thành phần gốc trừ nƣớc đƣợc giữ lại trong tỷ lệ ban đầu. Sữa tách béo là sản phẩm thu đƣợc bằng cách loại bỏ nƣớc từ sữa không béo tiệt trùng.
Độ ẩm chứa không quá 5% trọng lƣợng, và không quá 1,5% trọng lƣợng là chất béo từ sữa, trừ khi có chỉ định khác. Sản phẩm cũng có thể đƣợc gọi là sữa bột gầy.