Chương 1 nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý luận về BHNT và mô hình các nhân tố tác động đến quyết định mua BHNT. Chương này bao gồm ba phần chính: cơ sở lý luận về BHNT được giới thiệu đầu tiên, tiếp theo là mô hình hai nhóm yếu tố tác động đến quyết định mua BHNT của khách hàng. Và cuối cùng là nhận xét về các đề tài đã thực hiện trong lĩnh vực BHNT để quyết định đưa ra mô hình mới về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHNT. GIỚI THIỆU BHNT 1.
Định nghĩa BHNT BHNT là một cách chuyển giao rủi ro và tích luỹ tài chính bằng cách khi chủ hợp đồng bảo hiểm đồng ý tham gia vào hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm, chủ hợp đồng bảo hiểm sẽ đóng góp một số phí cho công ty bảo hiểm, đổi lại công ty bảo hiểm đồng ý trả một khoản tiền nếu người được bảo hiểm tử vong trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực hoặc trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống đến một thời gian theo quy định của hợp đồng (Hariett E. Những đặc điểm cơ bản của BHNT a. BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT và bảo hiểm phi nhân thọ. Thật vậy, mỗi người mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thoả thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này Luan van 11 được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị chết sớm ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản phí cần thiết như: thuốc men, mai táng, chi phí giáo dục con cái. Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính rủi ro.
Tính chất tiết kiệm ở đây thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật. Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm. Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong BHNT.
BHNT đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT đã đáp ứng được nhiều mục đích. Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn, hợp đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ khi già yếu. Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình họ một số tiền bảo hiểm khi họ bị tử vong.
Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng bố mẹ già.Hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình, hoặc Luan van 12 dùng cho các mục đích cá nhân khác.Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm. Các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các loại hợp đồng 5 năm, 10 năm. Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí, độ tuổi của người tham gia.Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp.
Khác với các bản hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, trong mỗi hợp đồng BHNT có 4 bên tham gia: người bảo hiểm, người được bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp Theo tác giả Jean-Claude Harrari “ sản phẩm BHNT không gì hơn chính là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng”. Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm như: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng. Nhưng những chi phí đó chỉ mới là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT (tính phí BHNT), một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào: + Độ tuổi của người được bảo hiểm + Tuổi thọ bình quân của con người + Số tiền bảo hiểm + Phương thức thanh toán + Lãi suất đầu tư + Tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền Luan van 13.
Điều đó khác với việc định giá cả một chiếc ô tô. Chiếc ô tô là sản phẩm của một dây chuyền sản xuất, để sản xuất ra nó, người ta phải chi ra rất nhiều khoản chi phí nguyên, nhiên vật liệu, chi phí lao động sống, khấu hao tài sản cố định.Những khoản chi phí này là những chi phí thực tế phát sinh và thực chất chúng là những khoản chi phí “ đầu vào” được hoạch toán một cách chi tiết, đầy đủ và chính xác để phục vụ cho quá trình định giá. Thế nhưng, khi định giá phí BHNT, một số nhân tố nêu trên phải giả định, như: tỷ lệ chết, tỷ lệ huỷ bỏ hợp đồng, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát.Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Ở các nước kinh tế phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay.
Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế - xã hội phải phát triển. - Những điều kiện về kinh tế như: + Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) + Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân 1 đầu người dân + Mức thu nhập của dân cư + Tỷ lệ lạm phát của đồng tiền + Tỷ giá hối đoái. Những điều kiện xã hội bao gồm: + Điều kiện về dân số Luan van 14 + Tuổi thọ bình quân của một người dân + Trình độ học vấn + Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh Ngoài điều kiện kinh tế - xã hội, thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT.
Thông thường ở các nước, luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển. Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế,. Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT. Các loại hình BHNT Có hai nhóm sản phẩm BHNT: sản phẩm chính và sản phẩm bổ sung.
Nhóm sản phẩm chính Có ba dạng sản phẩm chính: Bảo hiểm định kỳ Bảo hiểm trọn đời Bảo hiểm hỗn hợp Bảo hiểm định kỳ: Số tiền bảo hiểm sẽ được chi trả khi người được bảo hiểm tử vong trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực. Đây là loại hình bảo hiểm đơn giản và rẻ nhất, chỉ bảo hiểm trong một thời gian nhất định và không có giá trị hoàn lại. Bảo hiểm trọn đời: Cung cấp bảo hiểm trọn đời và số tiền bảo hiểm sẽ được chi trả khi người được bảo hiểm tử vong. Phí bảo hiểm sẽ không thay đổi trong suốt thời gian bảo hiểm.
Bảo hiểm trọn đời có sự kết hợp giữa tiết kiệm và bảo vệ, có giá trị hoàn lại. Bảo hiểm hỗn hợp: Số tiền bảo hiểm sẽ được bồi thường khi người được bảo hiểm tử vong trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực hoặc sẽ được thanh Luan van 15 toán khi đến hết thời hạn hợp đồng và người được bảo hiểm vẫn còn sống. Bảo hiểm hỗn hợp cũng có sự kết hợp giữa tiết kiệm và bảo vệ, có giá trị hoàn lại. Trên cơ sở ba dạng sản phẩm chính này, các công ty BHNT có thể thiết kế ra nhiều sản phẩm chính có thời hạn và quyền lợi khác nhau để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng, chẳng hạn như: Sản phẩm bảo hiểm định kỳ có thời hạn 1 năm: Khi tham gia sản phẩm này, số tiền bảo hiểm sẽ được chi trả khi người được bảo hiểm tử vong trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực.
Sản phẩm này chỉ có tính bảo vệ tài chính và không có giá trị hoàn lại. Sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp có thời hạn ngắn (5 năm hoặc 10 năm): Quyền lợi bảo hiểm của khách hàng sẽ được chi trả khi người được bảo hiểm tử vong. Tại thời điểm đáo hạn, công ty bảo hiểm sẽ thanh toán số tiền bảo hiểm tham gia và các khoản lãi thưởng xuất hiện trong suốt thời hạn của hợp đồng theo quy định về quyền lợi của sản phẩm. Phí bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn của hợp đồng.