phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn bao gồm các chương sau: Chương l: Cơ sở lý luận về lòng trung thành của khách hàng và mô hình nghiên cứu Chương 2: Tổng quan về Ngân hàng TMCP Á Châu và Thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách 6. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về lòng trung thành của khách hàng đã và đang thu hút sự quan tâm của các tác giả ở trong và ngoài nước. Các nghiên cứu đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng thang đo, phát hiện các nhân tố mới, mối quan hệ mới, bô sung vào hệ thống lý thuyết về lòng trung thành khách hàng đầy đủ hơn.
Trong phần này, tác giả xin giới thiệu một số nghiên cứu điền hình của các tác giả trên thế giới và Việt Nam có công trình nghiên cứu lòng trung. thành khách hàng trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng. Nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu về lòng trung thành khách hàng được các tác giả tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau đó có thé là (1) lòng trung thành hành vi (Cunningham 1956; Tucker 1964; Hoyer 1984; Ehrenberg 1988; Aaker 1991; OMally 1998; Chaudhuri; (2) long trung thanh thai d6 (Guest 1944; Jones 2003; Reichheld 2003; Rundle Thiele 2005); (3) lòng trung thành tổng hợp (Day 1969; Jacoby va Chestnut 1978; Backman va Crompton 1991b). Nhìn chung, trong hơn 50 năm qua các nghiên cứu đã phát triển hàng loạt các mô hình lý thuyết đề xuất các nhân tố và mối quan hệ khác nhau ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng.
Trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và ngân hàng nói riêng, việc lựa chọn các dịch vụ cũng tuân theo quy tắc tâm lý và hành vi cơ bản nhưng biểu hiện cụ thể của hành vi sử dụng dịch vụ trong các bối cảnh khác nhau là không giống nhau. Vì thế, các dòng nghiên cứu về hành vi trong sử dụng dịch vụ vẫn tiếp diễn không ngừng. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam theo hiểu biết của tác giả cho đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu trong các lĩnh vực dịch vụ khác nhau siêu thị, viễn thông, ngân hang.va da được công bố trên một số Tạp chí chuyên ngành, ví như nghiên cứu về “Chất lượng dịch vụ, sự thoả mãn và lòng trung thành của khách hàng. siêu thị tại thành phố Hồ Chi Minh” (Nguyễn Thị Mai Trang 2006); “Các yếu.
tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu điện thoại di động” (Nguyễn Thành Công & Phạm Ngọc Thúy 2007); “Nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng” (Lê Thế Giới & Lê Văn Huy 2012). Hầu hết các nghiên cứu này tập trung phản ảnh mối quan hệ của chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn, lòng trung thành khách hàng và đã chú ý bổ sung các biến số mới, mối quan hệ mới. Nhìn chung, các nghiên cứu về lòng trung thành khách hàng ở Việt Nam cho đến nay đều có những đóng góp nhất định cho một sự hiểu biết tốt hơn về lòng trung thành khách hàng trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, như tác giả đã đề cập trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và ngân hàng nói riêng những biểu hiện cụ thê của hành vi sử dụng dịch vụ trong các bối cảnh khác nhau là không giống nhau.
Vì thế, việc tiếp tục tìm hiểu và kiểm định một số nhân tố mới ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng trở thành một vấn đề cấp thiết cho cả giới nghiên cứu và ngân hàng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LONG TRUNG THANH CUA KHACH HANG HIEU VA MO HINH NGHIEN C! 1. SY HAI LONG CUA KHACH HANG VA MOI QUAN HE VOI CHAT LUQNG DICH VU, GIA CA VA HINH ANH DOANH NGHIEP 1.1 Sự hài lòng của khách hàng. Khái niệm Có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng với hơn 15,000 bài luận và công trình của nhiều tác giả (Peterson và Wilson, 1992) và thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này.
Nói một cách đơn giản, sự hài lòng của khách hàng chính là trạng thái/cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ sau khi đã sử dung dich vụ đó (Terrence Levesque và Gordon H. Cụ thể hơn, sự hài lòng của khách hàng là sự phản hỏi tình cảm/toàn bộ cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở so sánh sự. khác biệt giữa những gì họ nhận đuợc so với mong đợi trước đó. Cũng trên quan điểm này, Kotler (2000) cho rằng sự hài lòng được xác định trên cơ sở so sánh giữa kết quả nhận được từ dịch vụ và mong đợi của khách hàng được xem xét dựa trên ba mức độ sau đây: - Nếu kết quả nhận được ít hơn mong đợi thì khách hàng sẽ cảm thấy không hải lòng.
~ Nếu kết quả nhận được giống như mong đợi thì khách hàng sẽ hài lòng. ~ Nếu kết quả nhận được nhiều hơn mong đợi thì khách hàng sẽ rất hài lòng và thích thú với dịch vụ đó. Trong khi đó, Oliva, Oliver, và Bearden (1995) thì lại cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một nhiệm vụ của doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa những giá trị của sản phẩm, dịch vụ đó so với những mong đợi trước đó của khách hàng về chúng. Rõ ràng dù có nhiều khái niệm khác nhau nhưng định nghĩa về sự hài lòng của khách hàng luôn gắn liền với những yếu tố sau: ~ Tình cảm/thái độ đối với nhà cung cấp dịch vụ.
- Mong đợi của khách hàng về khả năng đáp ứng nhu cầu từ phía nhà cung cấp dịch vụ. ~ Kết quả thực hiện dịch vụ/Các giá tri do dịch vụ mang lại. ~ Ý định sẵn sàng tiếp tục sử dụng dịch vụ. b, Mục tiêu đo lường sự hài lòng.
Việc đo lường sự hài lòng của khách hàng nhằm được những mục tiêu sau: - Để biết được ý kiến đánh giá một cách khách quan, mang tính định lượng hiện nay của khách hàng về chất lượng chung của tổ chức. - Để xác định xem khách hàng tiếp nhận một cách thiện chí hay không đối với những dịch vụ cụ thể. - Đề xuất cách thức tổ chức có thể củng cố những điểm mạnh của mình để thu hút và giữ được nhiều khách hàng hơn. - Để các nhà quản lý và nhân viên của tổ chức được lắng nghe nguyên văn ý kiến của khách hàng.
- Để xác định những mong đợi và yêu cầu về chất lượng mà dựa vào đó khách hàng thường đánh giá tổ chức đối với mỗi sản phẩm/dịch vụ của tổ chức cung cấp. - Để giúp dự đoán được những thay đổi tích cực/tiêu cực trong ý kiến của khách hàng. Phân loại sự hài lòng khách hàng Sự hài lòng của khách hàng được phân thành 3 loại và có sự tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ. ~ Hài lòng tích cực: được thể hiện thông qua các nhu cầu sử dụng dịch vụ ngày một tăng lên.
Những khách hàng này thường có mối quan hệ tốt đẹp, tín nhiệm lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi sử dụng dịch vụ. Chính vì lý do trên mà nhóm khách hàng này rất dễ trở thành khách hàng trung thành của tô chức. ~ Hài lòng ồn định: đây là nhóm khách hàng có sự hài lòng ổn nh, họ sẽ cảm thấy thoải mái và hài lòng với những gì đang diễn ra, thường không muốn có sự thay đổi trong cách cung cấp dịch vụ của tổ chức. Vì vậy, những khách hàng này tỏ ra dễ chịu, có sự tin tưởng cao đối với tô chức và sẵn lòng tiếp tục sử dụng dịch vụ của tổ chức.
- Hài lòng thụ động: nhóm khách hàng này ít tin tưởng vào tổ chức và họ cho rằng rất khó để tổ chức có thể cải thiện được chất lượng dịch vụ và thay đổi theo yêu cầu của mình. Họ cảm thấy hài lòng không phải vì tổ chức thỏa mãn nhu cầu của họ mà vì họ nghĩ rằng sẽ không thẻ nào yêu cầu tô chức cải thiện tốt hơn nữa. Vì vậy họ sẽ không tích cực đóng góp ý kiến hay tỏ ra thờ ơ với những nỗ lực cải tiến của tổ chức.2 Mối quan hệ giữa sự hài lòng và chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều nhất đến sự hài lòng của khách hàng (Cronin và Taylor, 1992; Yavas và cộng sự, 1997; Ahmad và Kamal, 2002). Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì doanh nghiệp đó đã bước đầu làm cho khách hàng hài lòng.
Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau (positive relationship), trong đó chất lượng dịch vụ là cái được tạo ra trước và sau đó quyết định đến sự hài lòng của khách hàng. Mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu lố này là vấn đề then chốt trong hầu hết các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai yếu tố này, Spreng và Mackoy (1996) cũng chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ là tiền đề của sự hài lòng khách hàng.
* Sự khác biệt giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng: Theo Oliver (1993), tuy có quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng có sự khác biệt nhất định thể hiện ở những khía cạnh sau: - Các tiêu chí đo lường chất lượng dịch vụ mang tính cụ thể trong khi sự hài lòng khách hàng có liên quan đến nhiều yếu tố khác ngoài chất lượng. dịch vụ như giá cả, quan hệ khách hàng, thời gian sử dụng dịch vụ, - Các đánh giá chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào việc thực hiện dịch vu (service delivery) nhu thé nao nhung su hai lòng khách hàng lại là sự so sánh giữa các giá trị nhận được và các giá trị mong đợi đối với việc thực hiện dịch vụ đó. ~ Nhận thức về chất lượng dịch vụ ít phụ thuộc vào kinh nghiệm với nhà cung cấp dịch vụ, môi trường kinh doanh trong khi sự hài lòng của khách hàng lại phụ thuộc nhiều vào các yếu tố này hơn. 'Việc tìm hiểu sự khác biệt này sẽ giúp chúng ta hạn chế được sự nhằm lẫn giữa việc xác định các nhân tố quyết định chất lượng dịch vụ và các nhân tố tác động đến sự hài lòng khách hàng.3 Mối quan hệ giữa sự hài lòng và giá cả a.