Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Nội dung chính của chương này là xác định vấn đề cần nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nêu lên ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nội dung chính là tổng hợp cơ sở lý thuyết CLDV TGTK; Đề xuất mô hình đánh giá mối quan hệ CLDV TGTK và lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng, nêu lên các giả thuyết tương ứng với từng mối quan hệ trong mô hình.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính là trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu và các phương pháp sử dụng để thực hiện trong các giai đoạn LVTS Quản trị kinh doanh nghiên cứu sơ bộ, và nghiên cứu chính thức. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày các bước phân tích dữ liệu khảo sát chính thức bằng phần mềm SPSS Vesion 22 như Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Đánh giá độ tin cậy thang đo; Phân tích nhân tố khám phá EFA; Phân tích hồi quy tuyến tính; Kiểm định mô hình hồi quy và giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trong chương này tác giả sẽ dựa vào kết quả phân tích ở chương 4 để đề xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy CLDV TGTK từ đó nâng cao lòng trung thành của KHCN đối VCB Gia Lai trong thời gian tới. Tên đề tài LVThS: Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ TGTK đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Gia Lai 12 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về chất lƣợng Hiện nay có rất nhiều quan điểm, ý kiến liên quan đến khái niệm về chất lượng, tùy theo lĩnh vực, mục đích nghiên cứu mà theo đó cũng có nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo Từ Điển Tiếng Việt Phổ Thông (2011) Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác. Theo tiêu chuẩn Pháp NF X 50 – 109 thì Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng. Theo Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO) trong ISO 8402 thì Chất LVTS Quản trị kinh doanh lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Trong ISO 9000:2005 thì chất lượng là Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có.
Nhìn vào các khái niệm chất lượng tuy có sự khác nhau về cách thể hiện nhưng nhìn chung chúng đều có hai vế. Vế thứ nhất là bao gồm các đặc tính của sản phẩm, dịch vụ. Vế thứ hai là phải đáp ứng nhu cầu, thoả mãn nhu cầu người sử dụng, chất lượng cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ thỏa mãn của người sử dụng. Sản phẩm có nhiều đặc tính nhưng nó không hướng đến người sử dụng, người sử dụng không thõa mãn thì sản phẩm đó không được gọi là chất lượng.
Những sản phẩm hay dịch vụ có cùng một mục đích sử dụng nhưng nếu sản phẩm hay dịch vụ nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn. Khái niệm dịch vụ Hàng hóa không chỉ là những sản phẩm hữu hình, vật chất mà còn ở dạng phi vật chất được gọi là dịch vụ. Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự hàng hóa nhưng vô hình, phi vật chất mà khi khách hàng mua nó, khách hàng chỉ có thể cảm Tên đề tài LVThS: Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ TGTK đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Gia Lai 13 nhận chất lượng thông qua các yếu tố hữu hình khác chứ bản thân dịch vụ không thể được đánh giá bằng năm giác quan thông thường. Thông thường, khách hàng mua hàng hóa giao dịch với người bán hàng trong khoảng thời gian ngắn và sự gắn bó giữa khách hàng với doanh nghiệp phụ thuộc vào số lần mua hàng tiếp theo.
Còn đối với sản phẩm là dịch vụ, thời gian giao dịch sẽ kéo dài hơn và trong một số trường hợp đặc biệt như dịch vụ điện thoại thì sự gắn bó giữa khách hàng với doanh nghiệp sẽ diễn ra trong khoảng thời gian dài lâu, cho nên khách hàng luôn cân nhắc k lưỡng trước khi quyết định chọn mua dịch vụ so với mua hàng hóa theo Philip Kotler (Lê Hoàng Anh dịch), (2009). Việc cung ứng được đã hình thành và phát triển từ lâu, tùy theo lĩnh vực nghiên cứu, mục đích nghiên cứu mà có nhiều khái niệm khác nhau: Theo ISO 8402:1999 thì dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. LVTS Quản trị kinh doanh Theo Luật giá năm 2013 thì dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Điểm chung của các khái niệm về dịch vụ là chúng được tạo ra một cách trực tiếp giữa người mua và người bán, được khách hàng cảm nhận thông qua sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân. Tóm lại dịch vụ là việc làm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng, khách hàng cảm nhận dịch vụ một cách trực tiếp thông qua các hoạt động của bên Tên đề tài LVThS: Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ TGTK đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Gia Lai 14 bán. Sự thỏa mãn càng cao thì dịch vụ đó được đánh giá càng tốt và khách hàng sẵn sàng trả tiền cho dịch vụ đó.
Đặc tính của dịch vụ Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản gồm tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không lưu giữ được. Tính vô hình Thông thường hàng hóa được hình thành trong quá trình sản xuất dưới các hình thức vật chất đều có tính hữu hình, được sản xuất, bao gói và chuyên chở qua các trung gian, các đại lý, đến những người bán buôn, các cửa hàng bán lẻ rồi đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Người tiêu dùng có thể cầm, nắm, di chuyển, bảo quản, sang nhượng chúng một cách dễ dàng theo Bitner, Zeithaml & V. Còn đối với hàng hóa dịch vụ người tiêu dùng không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được truớc khi mua chúng.
Việc cảm nhận chất lượng dịch vụ là khó khăn hơn so với sản phẩm vật chất, LVTS Quản trị kinh doanh bởi mức độ cảm nhận mỗi người sẽ khác nhau tùy vào năng lực cảm nhận của cá nhân. Các nhà cung ứng sẽ tạo nên một không gian cảm nhận hiệu quả nhất gồm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ như yếu tố địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả để trực quan hóa các yếu tố của dịch vụ, giúp người mua dễ dàng xác định được chất lượng dịch vụ theo Daniel O Auka (2012). Tính không đồng nhất Vì dịch vụ chỉ được tạo ra một các trực tiếp, thủ công giữa người cung ứng và khách hàng, không thể sản xuất hàng loạt nên nó có tính không đồng nhất giữa các lần cung ứng. Việc thực hiện cùng một dịch vụ nhưng vẫn khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
Do dịch vụ được thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ở những thời gian và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ theo Bitner, Zeithaml & V. Tên đề tài LVThS: Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ TGTK đến lòng trung thành của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam chi nhánh Gia Lai 15 Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao, quy mô rộng vì việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ người thực hiện sẽ rất khó đảm bảo. Sự sai khác giữa việc định hướng dịch vụ của nhà cung cấp và những gì mà người tiêu dùng là khác nhau khá nhiều. Tính không thể tách rời Một đặc trưng rất cơ bản của dịch vụ là tính không tách rời được.
Điều này thể hiện ở việc dịch vụ được sản xuất ra và tiêu dùng đồng thời, quá trình tiêu dùng cũng kết thúc khi dịch vụ dừng sản xuất. Trong khi hàng hoá vật chất có thể sản xuất hàng loạt, quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng được tách biệt nhau, hàng hóa cũng có thể lưu trữ, vận chuyển thì dịch vụ không thể. Sự gắn liền giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ, khách hàng và nhà cung ứng phải song hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của LVTS Quản trị kinh doanh công ty cung cấp dịch vụ theo Svensson, G.
Dịch vụ cũng có thể thay đổi theo yêu cầu của khách hàng, người tiêu dùng. Khách hàng có thể yêu cầu nhà cung cấp thay đổi tính năng của dịch vụ, ví dụ như thay đổi kiểu tóc, sửa đổi hiệu thuốc… theo ý kiến cá nhân để tạo nên sự khác biệt và hiệu quả hơn với bản thân. Việc chấp nhận thay đổi theo ý kiến riêng này sẽ nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ của nhà cung cấp và khách hàng sẽ đánh giá cao chất lượng của nó theo Mudie, P.