MỞ ĐẦU Nội dung chƣơng này trình bày một cách tổng quát về toàn bộ nội dung nghiên của của luận văn. Chƣơng này đƣa ra vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của luận văn và ý nghĩa nghiên cứu. CHƢƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP Chƣơng này trình bày các khái niệm, lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu và các nghiên cứu đã đƣợc công bố có liên quan đến nội dung luận văn. 3 CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH LÝ THUYẾT Chƣơng này thiết lập các giả thuyết nghiên cứu, xây dựng mô hình và mô tả nguồn dữ liệu nghiên cứu.
Bên cạnh đó lựa chọn phƣơng pháp, mô hình ƣớc lƣợng phù hợp mục tiêu nghiên cứu của luận văn. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP Chƣơng này trình bày các kết quả phân tích các biến, kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu và đƣa ra phân tích kết quả. KẾT LUẬN Chƣơng này đƣa ra các kết luận dựa trên kết quả có đƣợc sau khi áp dụng các phƣơng pháp phân tích và đƣa ra một số khuyến nghị. Bên cạnh đó nêu ra hạn chế của luận văn và đề xuất cho hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
o Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN Về mặt lý luận : Hê ̣ thố ng la ị một số lý luận cơ bản về cấ u trúc vố n, các nhân tố tác đô ̣ng đế n cấ u trúc vố n , đánh giá đƣơ ̣c m ức độ ảnh hƣởng của cấ u trúc vốn hợp lý đố i với sƣ̣ tồn tại phát triể n của các công ty. Về mặt thực tiễn : Cung cấ p đƣơ ̣c thêm mô ̣t k ết quả nghiên cứu thực nghiê ̣m, những nhân tố nào thực sự có ảnh hƣởng quan trọng trong quyết định cấu trúc vốn của các công ty , giúp các nhà qu ản trị tài chính công ty Viê ̣t Nam có thêm cơ sở th ực tiễn để xây d ựng mô ̣t cấ u trúc vố n tố i ƣu. Cho thấy các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc vốn của các công ty ở các nhóm ngành khác nhau là ở mức độ khác nhau. Từ đó, cung cấp một bằng chứng thực nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách nhằm đƣa ra đƣợc giải pháp phát triển theo mỗi nhóm ngành nói riêng và theo tổng thể nền kinh tế nói chung một cách tốt nhất.
4 CHƢƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan về cấu trúc vốn 2. Định nghĩa về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là thuật ngữ đề cập đến quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu của một công ty. Nợ: Đó là số tiền vốn mà công ty đi vay, đi chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân và do vậy công ty có trách nhiệm phải trả; bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho ngƣời bán, cho Nhà nƣớc, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác.
Nợ phải trả của công ty bao gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn: là khoản tiền mà công ty có trách nhiệm trả trong vòng một chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thƣờng hoặc trong vòng một năm. Các khoản nợ này đƣợc trang trải bằng tài sản lƣu động hoặc bằng các khoản nợ ngắn hạn phát sinh. Nợ ngắn hạn bao gồm: vay ngắn hạn, thƣơng phiếu phải trả, khoản nợ dài hạn đã đến hạn trả, tiền phải trả cho ngƣời bán, ngƣời nhận thầu, thuế và các khoản phải nộp ngân sách, lƣơng, phụ cấp phải trả cho công nhân viên, các khoản phải trả ngắn hạn khác.
Nợ dài hạn: là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên một năm bao gồm: Vay dài cho đầu tƣ phát triển, nợ thế chấp phải trả, thƣơng phiếu dài hạn, trái phiếu phải trả, các khoản nhận ký cƣợc, ký quỹ dài hạn, các khoản phải trả dài hạn khác. Vốn chủ sở hữu: Là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ đóng góp mà công ty không phải cam kết thanh toán. Vốn chủ sở hữu do chủ công ty và các nhà đầu tƣ tự góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh, do đó vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ. 5 Vốn chủ sở hữu bao gồm: - Vốn góp do các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ đóng để thành lập hoặc mở rộng kinh doanh và đƣợc sử dụng vào mục đích kinh doanh.
Số vốn này có thể đƣợc bổ sung, tăng thêm hoặc rút bớt trong quá trình kinh doanh. - Lợi nhuận chƣa phân phối (lãi lƣu giữ): đây là kết quả của toàn bộ hoạt động kinh doanh. Số lợi nhuận này trong khi chƣa phân phối đƣợc sử dụng cho kinh doanh và coi nhƣ một nguồn vốn chủ sở hữu. - Vốn chủ sở hữu khác: là số vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ lợi nhuận để lại (các quỹ công ty, các khoản dự trữ theo điều lệ, dự trữ theo luật định.) hoặc các loại vốn khác (xây dựng vốn cơ bản, chênh lệch tỷ giá hối đoái, nguồn kinh phí.
Cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ƣu là cơ cấu vốn làm cân bằng tối đa giữa rủi ro và lãi suất và bằng cách đó tối đa hóa giá cả cổ phiếu của công ty.Với cơ cấu vốn tối ƣu thì chi phí bình quân gia quyền của vốn cũng thấp nhất. Chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC): Là chi phí sử dụng vốn bình quân mà nhà đầu tƣ phải trả cho việc sử dụng một cấu trúc vốn nào đó để tài trợ cho quyết định đầu tƣ. Lý thuyết cấu trúc vốn tối ƣu cho rằng có một cơ cấu vốn tối ƣu mà thông qua đó có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu phù hợp. Cơ cấu vốn tối ƣu sẽ phải có sử dụng nợ để giảm chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp, vì chi phí sử dụng nợ thấp hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu.
Lý do để lý thuyết cơ cấu vốn tối ƣu cho rằng chi phí sử dụng nợ thấp hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là khoản tiết kiệm thuế. Tuy nhiên, khi mức độ sử dụng nợ cao thì rủi ro cũng gia tăng và nhà đầu tƣ sẽ sinh lời. Lúc đầu, sự gia tăng thuế suất sinh lời yêu cầu của nhà đầu tƣ vẫn chƣa thể xóa bỏ hoàn toàn lợi 6 ích từ khoản tiết kiệm thuế nói trên và việc sử dụng nợ vẫn còn đƣợc xem là một nguồn vốn với chi phí rẻ hơn thì chi phí sử dụng vốn chung của cả doanh nghiệp vẫn tiếp tục giảm khi gia tăng sử dụng nợ. Đến 1 mức độ sử dụng nợ nhất định thì chi phí sử dụng vốn bắt đầu có xu hƣớng tăng lên khi doanh nghiệp tăng sử dụng nợ.
Chi phí sử dụng vốn Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu WACC Chi phí sử dụng nợ Hệ số nợ tối ƣu Hệ số nợ Biểu đồ 2.1: Chi phí sử dụng vốn 2. Các lý thuyết cấu trúc vốn Thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nƣớc về cấu trúc vốn, thì không có nghiên cứu nào đề cập tới tất cả các lý thuyết cấu trúc vốn cổ điển cũng nhƣ hiện đại. Trong luận văn của mình tác giả lựa chọn 3 lý thuyết tiêu biểu để đƣa vào phân tích thực nghiệm dó là: lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết định thời điểm thị trƣờng. Lý thuyết đánh đổi Các lý thuyết đánh đổi ban đầu đƣợc ghi nhận bởi Kraus và Litzenberger (1973).
Theo các lý thuyết này công ty sẽ cân bằng chi phí kiệt 7 quệ tài chính với lá chắn thuế từ các khoản nợ phát hành. Khi tỷ lệ vay nợ của công ty càng nhiều thì lợi ích thu đƣợc từ lá chắn thuế càng lớn nhƣng chi phí kiệt quệ tài chính tất nhiên cũng tăng theo tƣơng ứng. Do đó, các chủ nợ cũng sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn, dẫn đến việc làm chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng lên. Do đó, cấu trúc vốn tối ƣu của công ty đƣợc xác định bằng cách gia tăng lƣợng nợ vay cho tới khi lợi ích biên từ tấm chắc thuế cân bằng với chi phí biên của kiệt quệ tài chính.
Trên thực tế, các nhà nghiên cứu chia làm hai trƣờng phái: Một nhóm các nhà nghiên cứu thì ủng hộ quan điểm cho rằng việc đạt tới một tỷ lệ nợ tối ƣu để nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp là vô cùng đơn giản và nhanh chóng với bất kỳ doanh nghiệp nào. Bên cạnh đó, họ còn kết luận rằng trong suốt quá trình từ khi thành lập, tồn tại và phát triển của mình doanh nghiệp chỉ cần có duy nhất một cấu trúc vốn tối ƣu mà không cần phải dựa vào điều kiện thực tế chủ quan và khách quan. Các nhà nghiên cứu này chính là ủng hộ quan điểm của thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh (Jensen và Meckling, 1976; Jensen, 1986). Tồn tại song song với quan điểm trên, theo một trƣờng phái khác của thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, các nhà nghiên cứu đồng ý rằng mọi doanh nghiệp đều có cấu trúc vốn tối ƣu nào đó, nhƣng cấu trúc vốn tối ƣu này biến đổi theo từng thời kỳ phụ thuộc vào tác động của sự kỳ vọng về lãi suất, lạm phát trong tƣơng lai hay do tác động của chi phí điều chỉnh nhƣ thuế, nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
Chính tác động của sự kỳ vọng và chi phí điều chỉnh dẫn đến việc cấu trúc vốn của doanh nghiệp không thể dễ dàng hay ngay lập tức đạt tới mức tối ƣu, mà cần một quá trình điều chỉnh tức là có độ trễ. Chính vì vậy, xét trong ngắn hạn thì cấu trúc vốn của doanh nghiệp chỉ dao động xung quanh mức tối ƣu và có xu hƣớng sẽ đạt tới mức tối ƣu nếu xét trong dài hạn.Họ gọi đây là quan điểm của thuyết đánh đổi 8 cấu trúc vốn động (Stiglitz, 1973; Kane, 1984; Brennan và Schwart, 1984; Goldstein, 2001; Strebulaey, 2007). Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng chủ yếu dựa trên mối quan tâm của các nhà nghiên cứu về việc thông tin bất cân xứng (theo Myers và Majluf, 1984) tác động đến quyết định tài trợ và đầu tƣ của doanh nghiệp.