Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu trước năm 1975 Trước hết, liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án có các công trình nghiên cứu đã được thực hiện và ấn hành từ những năm triều Nguyễn chưa chấm dứt, tiêu biểu là bộ Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH/Những người bạn cố đô Huế) của Hội đô thành hiếu cổ với nhiều bài viết của L.cung cấp nhiều thông tin tư liệu đáng quý về các đối tượng của đề tài, trong đó có nhiều bài viết mô tả cụ thể về đàn Nam Giao và nghi thức tế Giao hoặc đàn Xã Tắc thời Nguyễn kèm theo bản vẽ hoặc ảnh chụp, được xem là cơ sở cho việc phục dựng các lễ tế Giao hiện nay. Mặc dù các kết quả nghiên cứu khác ở giai đoạn trước 1975 chỉ mang tính chất hồi ký, mô tả, nhưng cũng rất có giá trị tham khảo bởi phần lớn các tác giả cũng là những nhà trí thức, những nhân chứng lịch sử hoặc những người có nhiều cơ hội để tiếp cận và kiểm chứng thực tế về những nội dung liên quan đến đề tài. Nổi bật trong số đó có Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề (in lần đầu năm 1968) với những thông tin khá đầy đủ về các đại lễ quan trọng nhất dưới thời các triều đại quân chủ ở Việt Nam cùng những chi tiết về nghi thức, âm nhạc, kèm theo một số hình ảnh minh họa. Tuy nhiên, tác phẩm này chỉ đề cập đến việc lập đàn Xã Tắc (vào đời Trần) đúng một câu trong mục “Lễ Tịch điền qua các triều đại”, ngoài ra không có thông tin gì thêm về lễ tế đàn Xã Tắc dưới thời Trần và các triều đại khác, kể cả triều Nguyễn.
Thông tin về lễ tế miếu trong tác phẩm này cũng khá sơ sài và hoàn toàn không mô tả vị trí hay đặc điểm kiến trúc của các công trình. Riêng đối với lễ tế miếu thời Nguyễn, tác phẩm đưa ra những thông tin khá chi tiết về lễ vật tế, trình tự tổ chức và các nghi thức, kèm theo nội dung nhạc tế nhưng chỉ đề cập đến lễ tế kỵ ở Thế Miếu nhà Nguyễn. Một nội dung khác khá quan trọng là việc trong tác phẩm này, lễ tế kỵ ở Thế Miếu nhà Nguyễn có múa nhạc, trong khi theo quy chế triều Nguyễn, chỉ có lễ tế hưởng (tế theo mùa) ở miếu mới có múa Bát dật. Bên cạnh đó, thông tin về các lễ tế được tổ chức sau khi triều Nguyễn đã cáo chung cũng rất cần thiết để giúp tác giả luận án hiểu thêm vai trò của các đàn miếu và những nghi thức tế đại tự triều Nguyễn đối với đời sống văn hóa tinh thần vùng Huế, đặc biệt là sau khi triều đại quân chủ đã chấm dứt.
Các tác phẩm viết về hoạt động này có: Lễ tế Nam Giao của Hồng Hoài Lê Văn Hoàng (1972) hoăc Sự tích đàn Nam Giao và các cuộc lễ tế Giao tại Huế của Lê Văn Phước (1973) với nhiều thông tin chi tiết mô tả kiến trúc và cách thức tổ chức nghi lễ tế Giao nhưng chưa đi sâu lý giải về mặt ý nghĩa triết lý hoặc phân tích những tác động về mặt xã hội của các 9 hình thức tế đại tự mà luận án đề cập. Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tập san chuyên đề như Sử Địa (Sài Gòn), Đại học (Huế), Nam Phong (Sài Gòn) nhưng cũng chỉ cung cấp thông tin sơ lược về đàn Nam Giao và lễ tế Giao. Trong đó, đáng chú ý có một vài thông tin ghi được vào thời điểm 1942 về Trai Cung và những chứng tích còn sót lại như: dấu tích kiến trúc, thẻ bằng đá treo trên cây thông.2 Các công trình nghiên cứu từ năm 1975 đến nay Căn cứ vào sự thay đổi về cơ bản trong cách nhìn nhận, đánh giá về triều Nguyễn sau thời kỳ đổi mới (1986), có thể tạm chia thời kỳ sau năm 1975 đến nay ra làm 2 giai đoạn. Giai đoạn từ năm 1975-1986 Ở giai đoạn này, mặc dù người ta không cấm đoán việc tế tự, nhưng với quan điểm coi triều Nguyễn là “thối nát”, “phản động” và chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, nhiều hình thức sinh hoạt tín ngưỡng bị đình trệ trong khoảng thời gian từ 1975-1985.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và về các đàn miếu hay nghi thức tế đại tự ở Huế giai đoạn này gần như không có gì tiến triển. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay * Nhóm công trình nghiên cứu về triều Nguyễn và di sản kiến trúc đàn miếu ở Huế Năm 1994, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã chọn chủ đề Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay làm đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (mã số KX-ĐL: 94-16), do PGS. Đỗ Bang làm chủ nhiệm đề tài đã đánh dấu sự vào cuộc chính thức về mặt nhà nước trong việc nghiên cứu khách quan và toàn diện hơn về triều Nguyễn. Cùng chung mối quan tâm về triều Nguyễn giai đoạn này còn có nhiều nhà nghiên cứu với những công trình quy mô khác nhau, trong đó có thể kể đến: Tín ngưỡng dân gian Huế của Trần Đại Vinh (1995), Kinh thành Huế của Phan Thuận An (1999), Phú Xuân-Huế từ đô thị cổ đến hiện đại, bao gồm nhiều bài viết của các tác giả do UBND thành phố Huế tập hợp (1999), Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam của nhiều tác giả do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và tạp chí Huế-Xưa & Nay xuất bản (2002), Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn của nhiều tác giả do Sở 10 Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản (2002).
Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu này đều ít đề cập đến những đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đáng lưu ý có tác phẩm Dấu ấn Nguyễn trong văn hóa Phú Xuân của Phan Thanh Hải (2002). Đây là tập hợp nhiều bài khảo cứu về triều Nguyễn và văn hóa Huế, trong đó có những bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài với nhiều thông tin có giá trị. Với kết quả khảo sát thực tế tại Trung Quốc, tác giả là người đầu tiên đưa ra những nhận xét so sánh giữa đàn tế Trời thời Minh- Thanh ở Bắc Kinh và đàn tế của triều Nguyễn ở Huế.
Dựa trên mô tả về đàn Nam Giao triều Nguyễn ở Huế với 3 tầng (một tầng tượng trưng cho Trời, một tầng tượng trưng cho Đất, một tầng tượng trưng cho Con người), tác giả đã có lý khi cho rằng lối kiến trúc này “thể hiện mối quan hệ vừa có tính cách biệt tương đối, vừa thống nhất trong mối liên kết có tính tuyệt đối”. Theo nhận xét của tác giả, ở Trung Quốc, tế Giao được tổ chức riêng rẽ, trong đó yếu tố Trời, Đất và các vị thần linh luôn đóng vai trò quan trọng và bao trùm lên tất cả: “Trên thực tế ở Trung Quốc, giai cấp thống trị luôn luôn tìm cách đẩy xa khoảng cách giữa thần linh và con người”. Liên quan đến việc quy hoạch kiến trúc và mối tương quan giữa vị trí các công trình với những yếu tố tự nhiên mang ý nghĩa triết lý phong thủy, tác phẩm Kinh thành Huế của Phan Thuận An là một tác phẩm cung cấp những thông tin đầy đủ nhất về quá trình hình thành Kinh thành Huế. Tác giả nhận xét: “.Với cách đưa kiến trúc Kinh thành vào giữa các thực thể địa lý ở ngoại cảnh thiên nhiên., chúng ta thấy việc quy hoạch và xây dựng công trình kiến trúc này đã và đang tiểm ẩn một nội dung triết lý thật sâu sắc”.
Trong bài khảo cứu của mình về “Tư tưởng quy hoạch Kinh thành Huế dưới triều Gia Long” trong Huế-triều Nguyễn, một cái nhìn (2004), tác giả Trần Đức Anh Sơn tiến thêm một bước trong việc nghiên cứu về khía cạnh này và kết luận: “Việc quy hoạch và kiến thiết Kinh thành Huế dưới triều Gia Long là một sự kết hợp tài tình, khéo léo các yếu tố: lịch sử, Dịch lý và thuật phong thủy và tri thức khoa học. Cùng chung mối quan tâm đến đặc điểm quy hoạch của các di tích triều Nguyễn ở Huế, tác giả Phan Thanh Hải cũng nhận định: “Ở Kinh đô Huế, ngoài trục (thần đạo) của kinh đô chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, bên ngoài Kinh thành còn có một trục chạy theo 11 hướng Bắc-Nam, 12 nối từ Kỳ Đài đến đàn Nam Giao. Chính trục thứ hai này cùng với dòng sông Hương đã tạo nên sự liên kết rất chặt chẽ, hài hòa giữa kinh đô với các công trình kiến trúc bên ngoài Kinh thành, nhất là miền lăng tẩm của hoàng gia ở phía Tây và Tây-Nam”. Các kết quả nghiên cứu trên đây là một trong những cơ sở giúp tác giả luận án xem xét mối quan hệ giữa các đàn miếu đại tự triều Nguyễn với toàn bộ quần thể di tích cố đô Huế và đặc điểm của các đàn miếu đại tự nhìn từ ý nghĩa triết lý trong quy hoạch.
Riêng bài viết “Quy hoạch khu di tích đàn Xã Tắc-thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Việt Dũng cung cấp thêm một số thông tin khá chi tiết về việc quy hoạch đàn Xã Tắc để trùng tu, phục hồi sau một thời gian dài bị xuống cấp nghiêm trọng. Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu là những Luận văn, Luận án Tiến sĩ liên quan đến một số khía cạnh trong đối tượng nghiên cứu của đề tài. Nổi bật trong số đó có Luận án Tiến sĩ về Quan xưởng ở Kinh đô Huế từ 1802 đến 1884 của Nguyễn Văn Đăng năm 2002 đem lại nhiều thông tin bổ ích về các cơ quan sản xuất, cung cấp các vật dụng của triều đình. Luận án Tiến sĩ về Vai trò của bộ Công trong việc xây dựng kinh đô Huế dưới triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) của Phan Tiến Dũng năm 2005 với những thông tin về việc xây dựng các công trình đàn miếu dưới triều Nguyễn, cung cấp những kết quả thống kê khoa học về số lượng và hình thức các loại gạch, ngói xây dựng kiến trúc cung đình Nguyễn.
Ngoài ra còn có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố tại các hội nghị, hội thảo khoa học bàn về triều Nguyễn và được in thành kỷ yếu.