Nghiên cứu bổ sung chế phẩm bacillus enzyme cho lợn con lai F1 từ 7 đến 56 ngày tuổi

Tài liệu Bổ sung chế phẩm bacillus enzyme cho lợn con lai f1 từ 7 đến 56 ngày t tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

74
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu bổ sung chế phẩm Bacillus enzyme cho lợn con lai F1

Nghiên cứu này tập trung vào việc bổ sung chế phẩm Bacillus enzyme vào khẩu phần ăn của lợn con lai F1 (♂Landrace x ♀Yorkshire) từ 7 đến 56 ngày tuổi. Mục tiêu chính là đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm này đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con. Chế phẩm Bacillus enzyme được sử dụng như một giải pháp thay thế kháng sinh, nhằm cải thiện dinh dưỡng lợn và tăng cường sức khỏe đường ruột. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong khoa học chăn nuôicông nghệ sinh học, đặc biệt trong bối cảnh hạn chế sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi.

1.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là lợn con lai F1 từ 7 đến 56 ngày tuổi, được chia thành hai giai đoạn: 7-21 ngày và 21-56 ngày. Chế phẩm Bacillus enzyme được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi với các mức khác nhau. Phương pháp nghiên cứu bao gồm theo dõi sinh trưởng, tiêu thụ thức ăn, và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy. Các chỉ tiêu được đo lường và so sánh giữa nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng. Kết quả được xử lý bằng phương pháp thống kê để đánh giá hiệu quả của chế phẩm.

1.2. Kết quả và thảo luận

Kết quả cho thấy việc bổ sung chế phẩm Bacillus enzyme giúp cải thiện đáng kể sinh trưởng và giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảylợn con. Cụ thể, lợn con được bổ sung chế phẩm có khối lượng cơ thể cao hơn và tiêu thụ thức ăn hiệu quả hơn so với nhóm đối chứng. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy giảm rõ rệt, đặc biệt trong giai đoạn từ 7-21 ngày tuổi. Điều này chứng tỏ chế phẩm Bacillus enzyme có tiềm năng lớn trong việc thay thế kháng sinh và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.

II. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này mang lại cả ý nghĩa khoa họcthực tiễn trong lĩnh vực chăn nuôi. Về mặt khoa học, nghiên cứu cung cấp bằng chứng về hiệu quả của chế phẩm Bacillus enzyme trong việc cải thiện dinh dưỡng lợn và tăng cường sức khỏe đường ruột. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu giúp xác định mức bổ sung chế phẩm phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả chăn nuôi và giảm chi phí sản xuất. Đây là bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng công nghệ sinh học vào thức ăn chăn nuôi, đặc biệt trong bối cảnh hạn chế sử dụng kháng sinh.

2.1. Ứng dụng trong chăn nuôi

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi lợn, đặc biệt là ở giai đoạn lợn con từ 7 đến 56 ngày tuổi. Việc bổ sung chế phẩm Bacillus enzyme vào thức ăn chăn nuôi không chỉ giúp cải thiện sinh trưởng mà còn giảm thiểu rủi ro bệnh tật, đặc biệt là tiêu chảy. Điều này giúp nâng cao năng suất và chất lượng thịt lợn, đồng thời giảm chi phí điều trị bệnh. Nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng các vi sinh vật có lợi thay thế kháng sinh trong chăn nuôi.

2.2. Tác động đến ngành chăn nuôi

Nghiên cứu này có tác động tích cực đến ngành chăn nuôi Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hạn chế sử dụng kháng sinh. Việc áp dụng chế phẩm Bacillus enzyme giúp đảm bảo an toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, nghiên cứu cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học chăn nuôicông nghệ sinh học trong nước. Đây là bước đi quan trọng để ngành chăn nuôi Việt Nam hội nhập với xu hướng toàn cầu về sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường và an toàn cho người tiêu dùng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ bổ sung chế phẩm bacillus enzyme cho lợn con lai f1 ♂landrace x ♀yorkshire từ 7 đến 21 ngày tuổi và từ 21 đến 56 ngày tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm của lợn con 1. Đặc điểm tiêu hóa các chất dinh dưỡng Tiêu hóa là quá trình phân giải thức ăn từ miệng đến ruột già, nhằm biến đổi những hợp chất hữu cơ phức tạp của thức ăn thành những chất đơn giản nhất mà cơ thể động vật hấp thụ được. Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện.

Tiêu hóa ở miệng: Thức ăn ở miệng được cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn với nước bọt làm trơn để được nuốt trôi xuống dạ dày. Nước bọt chứa phần lớn là nước (tới 99%) trong đó chứa enzym amylase có tác dụng tiêu hoá tinh bột. - Tiêu hóa ở dạ dày: Dạ dày của lợn con (dung tích của dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít, lúc trưởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng như là nơi dự trữ và tiêu hoá thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày chứa chủ yếu là nước với enzym pepsin và axit chlohydric (HCl).

Men pepsin chỉ hoạt động trong môi trường axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0. Pepsin giúp tiêu hoá protein và sản phẩm là polypeptit và ít axit amin. - Tiêu hóa ở ruột non: Ruột non có độ dài khoảng 18 - 20 mét. Thức ăn sau khi được tiêu hoá ở dạ dày chuyển xuống ruột non được trộn với dịch tiết ra từ tá tràng, gan và tụy.

- Tiêu hoá ở ruột Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần. Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04lít). Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành. + Amylase và maltase: Hai enzyme này có trong dịch tuỵ từ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém.

Sau 3 tuần tuổi enzyme amylase và maltase mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn. 5 + Saccharase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi enzyme saccharase hoạt tính còn thấp, vì vậy nếu cho lợn con ăn đường saccharose thì rất dễ bị ỉa chảy. + Trypsin: Là enzyme tiêu hóa protein của thức ăn + Lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa. Enzyme này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ 2, sau đó hoạt tính của enzyme giảm dần.

Từ khi sơ sinh đến 5 tuần tuổi hàm lượng và hoạt tính của enzyme tiêu hóa ở lợn con khác nhiều với lợn trưởng thành. Khi nuôi lợn con cần chú ý cho lợn con tập ăn sớm nhằm cai sữa sớm. Đặc điểm về sinh trưởng phát dục Khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần. Lợn con lúc bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn.

Tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống. Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát dục rất nhanh nên khả năng tích lũy chất dinh dưỡng rất mạnh, lợn con ở 20 ngày tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14g protein/kg khối lượng cơ thể, lợn lớn chỉ tích lũy được 0,3 - 0,4g protein/kg khối lượng cơ thể. Để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng hơn, nghĩa là tiêu tốn ít thức ăn hơn lợn lớn vì tăng trọng của lợn con chủ yếu là tăng thịt nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg thịt mỡ (Võ Trọng Hốt và cs, 2000) [10]. Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt lợn con chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng (Hovorka, 1983)(dẫn theo Võ Trọng Hốt và cs, 2000)[10].

Ở giai đoạn này lợn con duy trì được thân nhiệt chủ yếu là nhờ nước trong cơ thể và nhờ hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn. Theo Nguyễn Khắc Tích (1995)[21] nhiệt độ thích hợp cho lợn con như sau: Sơ sinh đến 7 ngày tuổi: 30 - 320C 6 Từ 8 - 21 ngày tuổi: 28 - 290C Từ 22 - 56 ngày tuổi: 27 - 280C Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra. Vì vậy, nuôi lợn con trong chuồng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt của lợn con hạ xuống rất nhanh. Mức độ hạ thân nhiệt nhiều hay ít, nhanh hay chậm chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ của chuồng nuôi và tuổi của lợn con.

Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt lợn con bị giảm xuống 20C so với thân nhiệt ban đầu. Nếu nhiệt độ chuồng nuôi xuống tới 00C thì thân nhiệt của lợn con giảm xuống 40C (Newland, 1975)(dẫn theo Võ Trọng Hốt và cs, 2000)[10]. Sự tăng giảm khối lượng của lợn con không ảnh hưởng nhiều đến sự tăng giảm thân nhiệt của lợn con. Đặc điểm về khả năng miễn dịch Lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như chưa có kháng thể.

Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu. Khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động và phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được nhiều hay ít từ sữa mẹ. Trong sữa đầu của lợn nái hàm lượng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ hàm lượng protein sữa chiếm tới 18 - 19%, trong đó lượng γ-globulin chiếm số lượng khá lớn (34 - 45%).

γ-globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có tác dụng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con. Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con Nguồn dinh dưỡng của lợn con ở 21 ngày đầu chủ yếu là sữa mẹ. Số lượng và chất lượng sữa của lợn nái ở giai đoạn này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của lợn con. Cứ nhận được 1kg sữa mẹ thì lợn con tăng được khoảng 250g khối lượng cơ thể (Hovorka, 1983)(dẫn theo Võ Trọng Hốt và cs, 2000)[10].

Sau 21 ngày sữa lợn mẹ bắt đầu giảm cả về số lượng và chất lượng, do đó không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển của lợn con. Các chất dinh dưỡng mà lợn con nhận được từ sữa mẹ ngày càng giảm đi. Vì vậy bù đắp phần dinh dưỡng thiếu hụt cho nhu cầu sinh trưởng phát triển của lợn con khi sản lượng sữa mẹ giảm dần cần cho lợn con tập ăn sớm khi lợn con 07 ngày tuổi. Lượng thức ăn hàng ngày của lợn con Sữa mẹ trong thành phần có đầy đủ năng lượng và chất khoáng, vitamin cần thiết để cung cấp cho lợn con.

Trong chăn nuôi mục đích là lợn con tăng trọng nhanh, lợn mẹ sớm được cai sữa để tăng số lứa/năm. Vì vậy ta cần bổ sung thức ăn cho lợn con từ 4-5 ngày tuổi. Chậm nhất là đến 2 tuần lợn con phải quen thuộc với cám tập ăn. Số lần cho ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá của lợn: Khi cho lợn ăn 3 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá được 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá được 19,7%.

Theo Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2004) [15], mức ăn hằng ngày cho lợn con từ 10 - 45 ngày tuổi như sau: Bảng 1. Mức ăn hàng ngày cho lợn con từ 10 - 45 ngày tuổi Tuổi lợn con (ngày) Khối lượng T/A (kg) 10 - 20 0,1 - 0,15 20 - 30 0,15 - 0,25 30 - 45 0,25 - 0,35 (Theo Lê Hồng Mận và Xuân Giao, 2004) Như vậy cho ăn với một lượng nhỏ với khoảng cách đều đặn đã nâng cao được năng suất của lợn con. Với phương pháp này có thể tránh tồn dư lâu T/A trong máng, tránh rơi vãi T/A và tăng khả năng tiêu hoá hấp thu của lợn con. Nhu cầu về năng lượng Dinh dưỡng quan trọng nhất cung cấp cho lợn con là năng lượng.

Cơ thể cần năng lượng trước hết vào quá trình trao đổi chất. Năng lượng cũng cần thiết để tổng hợp lên các mô sinh trưởng mới, protein, mỡ và đường lactoza. Ngoài ra năng lượng còn được chứa bên trong các kho dự trữ và các sản phẩm phân tiết. Việc duy trì thân nhiệt trong thời tiết lạnh cần rất nhiều năng lượng.

Năng lượng cũng còn dùng để duy trì thân nhiệt trong môi trường lạnh. Ở 2 tuần đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ năng lượng từ sữa mẹ. Từ tuần tuổi thứ 3 cần bổ sung thêm mới đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của lợn con. Theo Lucac (1982) (dẫn theo Võ Trọng Hốt và cs (2000) [10], mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con giai đoạn từ 1 - 8 tuần tuổi như sau: 8 Bảng 1.

Mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con từ 1 - 8 tuần tuổi Tuần Khối lượng Nhu cầu chung Sữa mẹ cung cấp Cần bổ sung tuổi (kg) (Kcal) (Kcal) (Kcal) 1 2,7 965 965 - 2 4,1 1255 1255 - 3 5,9 1625 1430 195 4 7,7 2000 1240 760 5 10,0 2375 1240 1135 6 12,7 2750 1135 1615 7 15,9 3125 915 2210 8 19,0 3500 805 2695 (Theo Lucac, 1982) 1. Nhu cầu protein và axit amin Ơ thời điểm lợn con theo mẹ, lợn sống chủ yếu nhờ bú sữa mẹ. Lợn con có tốc độ phát triển mạnh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. 2 tuần đầu lượng sữa của lợn nái đạt đến mức cực thịnh, lợn con hầu như đã nhận được đầy đủ lượng protein cần thiết cho sự phát triển của cơ thể.

Từ tuần tuổi thứ 3 cần bổ sung thêm protein để không ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của lợn con. Khẩu phần ăn của gia súc càng hoàn chỉnh, có đủ thành phần các axit amin sẽ làm giảm mức tiêu tốn T/A. Đối với lợn con bú sữa quan trọng nhất là Lysine và Methionine, đôi khi còn thêm Tryptophane. Trong protein thô của khẩu phần ăn cho lợn con bú sữa cần có 5 - 5,6% Lysine: 3 - 3,2% Methionine và 1,4 - 1,5% Tryptophan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu bổ sung chế phẩm bacillus enzyme cho lợn con lai F1 từ 7 đến 56 ngày tuổi" trình bày những lợi ích của việc bổ sung chế phẩm bacillus enzyme vào khẩu phần ăn của lợn con lai, nhằm cải thiện sức khỏe và tăng trưởng của chúng trong giai đoạn đầu đời. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng chế phẩm này không chỉ giúp tăng cường khả năng tiêu hóa mà còn nâng cao chất lượng thịt, từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người chăn nuôi.

Để mở rộng thêm kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và chất lượng thịt của động vật, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của chế phẩm ade selplex đến khả năng sinh trưởng kháng bệnh và chất lượng thịt của lợn ngoại nuôi tại huyện thủy nguyên hải phòng, nơi nghiên cứu về ảnh hưởng của một chế phẩm khác đến sự phát triển của lợn.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nông nghiệp sử dụng gạo lật và gạo tấm thay thế ngô làm thức ăn cho lợn, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc thay thế nguyên liệu trong khẩu phần ăn cho lợn, từ đó giúp bạn có thêm thông tin về dinh dưỡng động vật.

Cuối cùng, tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của các mức methionine cystine lysine khác nhau trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất thịt của gà lai ri x lương phượng nuôi vụ hè cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sản xuất thịt trong chăn nuôi gia cầm.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về dinh dưỡng và phát triển trong chăn nuôi.