MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Trong những năm gần đây, việc sử dụng quang xúc tác bán dẫn để ứng dụng trong xử lý các hợp chất hữu cơ đã thu đƣợc những thành tựu đáng kể. Quá trình oxi hóa sử dụng quang xúc tác đã đƣợc sử dụng để phá vỡ và phân hủy nhiều loại chất ô nhiễm hữu cơ. Quá trình này đƣợc sử dụng trong quá trình lọc nƣớc uống, tiêu diệt vi khuẩn và vi rút, loại bỏ kim loại trong nƣớc thải, bẻ gãy các hợp chất hữu cơ thành các hợp chất khác đơn giản hơn và cuối cùng có thể là CO2 và H2O [23].
TiO2 là một quang xúc tác quan trọng đã thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm bởi tính chất quang xúc tác mạnh, tính bền hóa học, chi phí thấp và thân thiện với môi trƣờng. Xúc tác quang TiO2 đƣợc sử dụng rộng rãi trong các ứng dụng và sản phẩm khác nhau trong lĩnh vực môi trƣờng và năng lƣợng, bao gồm: chất làm sạch bề mặt, hệ thống lọc nƣớc và khí, khử trùng, nguồn tạo khí hidro và trao đổi điện quang hóa… Tuy nhiên, sự phát triển của các loại vật liệu mới đòi hỏi phải nâng cao khả năng xúc tác quang và tìm ra các phƣơng thức sử dụng mới cho vật liệu xúc tác quang TiO2 [22]. Với độ rộng vùng cấm khoảng 3.2eV, vật liệu TiO2 chỉ có thể cho hiệu ứng xúc tác trong vùng ánh sáng UV. Tuy nhiên, hiệu suất quang xúc tác ngoài trời thấp do bức xạ UV chỉ chiếm khoảng 5% năng lƣợng mặt trời.
Để sử dụng năng lƣợng mặt trời một cách hiệu quả hơn cần mở rộng phổ hấp thụ của TiO2 vào vùng ánh sáng khả kiến (loại bức xạ chiếm đến 45% năng lƣợng mặt trời). Để chế tạo vật liệu có tính năng quang xúc tác tốt trong vùng ánh sáng khả kiến trên nền vật liệu TiO2, một phƣơng pháp đƣợc cho là hiệu quả nhất là pha tạp các anion của C, N, F, N hoặc S (để thay thế oxi trong tinh thể anata TiO2). Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc pha tạp nitơ có khả năng cải thiện hoạt tính của TiO2 trog vùng khả kiến vì các trạng thái (N-2p) của chúng nằm trong vùng cấm, lân cận vùng hóa trị của trạng thái ( O-2p). Nhờ vậy năng lƣợng vùng cấm quang (Eg) đƣợc thu hẹp lại.
Tƣơng tự nhƣ vậy việc pha tạp lƣu huỳnh (S) cũng có tác dụng thu hẹp năng lƣợng vùng cấm Eg. Trần Thị Tâm- K23 Cao học hóa 1 Ngành Hóa môi trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường ĐH KHTN-ĐH QGHN Luận văn tốt nghiệp Có thể tổng hợp TiO2 từ nhiều nguồn nguyên liệu ban đầu khác nhau, tuy nhiên, những phƣơng pháp tổng hợp từ các hoá chất tinh khiết có giá thành rất cao. Việt Nam có nguồn ilmenit sa khoáng biển ở Hà Tĩnh, Bình Định, Thanh Hóa, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận và quặng gốc ở Cao Bằng, Thái Nguyên…, có hàm lƣợng TiO2 tƣơng đối cao (~50%), trữ lƣợng lớn là nguồn nguồn liệu dồi dào. Việc nghiên cứu làm giàu TiO2 trong quặng Ilmenit là một hƣớng nghiên cứu thú vị, cần đƣợc nghiên cứu để vừa tận dụng đƣợc nguồn nguyên liệu rẻ tiền sẵn có trong nƣớc, vừa tạo ra vật liệu TiO2 có khả năng ứng dụng tốt, giá thành thấp.
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu biến tính quặng Ilmenite đã đƣợc làm giàu bằng N và S để ứng dụng xử lý các chất hữu cơ ô nhiễm trong vùng khả kiến” Trần Thị Tâm- K23 Cao học hóa 2 Ngành Hóa môi trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường ĐH KHTN-ĐH QGHN Luận văn tốt nghiệp CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Vật liệu nano TiO2 và vật liệu nano TiO2 biến tính 1.1 Vật liệu nano TiO2 Bột TiO2 có màu trắng, khi đun nóng nó có màu vàng và khi làm lạnh nó trở lại màu trắng. TiO2 cứng và bền nhiệt, nhiệt độ nóng chảy 18700C. a, Các dạng thù hình của TiO2. Titan dioxit là một chất bán dẫn, cấu trúc tinh thể gồm 3 dạng thù hình: anata, rutin và brukit.
Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO2 đƣợc đƣa ra ở hình 1.1 Dạng anata Dạng rutin Dạng brukit Hình 1.1: Cấu trúc tinh thể các dạng thù hình của TiO2 Cấu trúc của dạng tinh thể anata và rutin đều ở dạng tứ phƣơng. Cả hai dạng tinh thể trên đều đƣợc tạo nên từ các đa diện phối trí TiO26-, cấu trúc theo kiểu bát diện. Tuy nhiên trong tinh thể anata các đa diện phối trí bát diện bị biến dạng mạnh hơn so với rutin, khoảng cách Ti-Ti ngắn hơn và khoảng cách Ti-O dài hơn. Điều này Trần Thị Tâm- K23 Cao học hóa 3 Ngành Hóa môi trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường ĐH KHTN-ĐH QGHN Luận văn tốt nghiệp tạo ra sự sai khác về tính chất vật lý và hóa học của hai dạng hình thù anata và rutin.
Trong hai dạng thù hình này, anatase đƣợc biết là có hoạt tính xúc tác quang hóa tốt hơn. Brukit do ít tồn tại trong điều kiện tự nhiên nên ít đƣợc nghiên cứu. Dạng anata không tồn tại riêng biệt, thƣờng đƣợc tìm thấy trong các khoáng cùng với dạng rutin, brukit [7]. Một số tính chất vật lý của tinh thể rutile và anatase Các thông số Rutile Anatase Cấu trúc tinh thể Tứ diện Tứ diện A (Å) 4,58 3,78 Thông số mạng C (Å) 2,95 9,49 Khối lƣợng riêng (g/cm3) 4,25 3,895 Chiết suất 2,75 2,54 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,05 3,25 Ở nhiệt độ cao chuyển Nhiệt độ nóng chảy 1830 - 1850OC thành rutile b, Kích thước hạt và sự chuyển pha giữa các dạng thù hình của TiO2.
Tính chất của sản phẩm TiO2 tạo ra chịu ảnh hƣởng bởi các điều kiện tổng hợp. Quá trình lọc, rửa, sấy kết tủa có ảnh hƣởng đến thành phần của bột TiO2 vô định hình trƣớc khi nung (lƣợng tạp chất, dung môi và độ ẩm đi kèm). Đặc biệt ở giai đoạn nung nhiệt độ cao, trong mẫu xảy ra sự kết tụ và chuyển dạng thù hình: vô định hình- anata và anata-rutin, nên nhiệt độ và thời gian nung có ảnh hƣởng mạnh đến kích thƣớc hạt và cấu trúc tinh thể của sản phẩm [4]. Rutin là pha bền ở nhiệt độ cao, còn anata và brukit thƣờng có kích thƣớc nano.
Kèm theo quá trình gia nhiệt là sự tăng trƣởng kích thƣớc hạt và chuyển pha: brukit sang anata sang rutin. Kết quả của sự chuyển pha là sự cân bằng về năng lƣợng [2]. TiO2 cấu trúc pha anata đƣợc nghiên cứu rộng rãi do quá trình quang xúc tác đầy hứa hẹn của chúng. Với việc giảm kích thƣớc phân tử của Trần Thị Tâm- K23 Cao học hóa 4 Ngành Hóa môi trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường ĐH KHTN-ĐH QGHN Luận văn tốt nghiệp TiO2 xuống tỉ lệ nanomet, hoạt tính xúc tác đƣợc tăng cƣờng do hiệu ứng quang lƣợng tử và sự gia tăng diện tích bề mặt.
Việc khống chế chính xác kích thƣớc của vật liệu oxit bán dẫn tại cấp độ nanomet là yếu tố quan trọng cơ bản để tùy chỉnh đặc tính xúc tác quang của chúng. Pha rutin bền nhiệt động hơn pha anata ở điều kiện áp suất chuẩn. Tuy nhiên một số thí nghiệm thực tế cho thấy khi các tinh thể có đƣờng kính vài nanomet thì các thì pha anata lại bền hơn pha rutin do sự phân bố năng lƣợng tự do bề mặt. Hiện tƣợng chuyển pha phụ thuộc vào kích thƣớc hạt và sự thay đổi hình thái dựa trên sự thay đổi các điều kiện nung [11].
Những hạt TiO2 nano có kích thƣớc nhỏ (<50nm) thƣờng bền ở pha anata và chuyển sang Rutin tại >7000C. Hạt nano TiO2 có pha anata hoặc brukit sẽ chuyển sang rutil khi đạt đƣợc một kích thƣớc xác định. Khi rutin hình thành, nó phát triển nhanh hơn anata nhiều. Brukit không thể chuyển trực tiếp thành rutin mà phải chuyển qua dạng anata trƣớc [2].
Theo Baorang Li et al, (2002) ta có thể thấy thêm về ảnh hƣởng của điều kiện nung tới cấu trúc của vật liệu: Ảnh hưởng của nhiệt độ nung: Cấu trúc pha của vật liệu sau nung tại nhiệt độ dƣới 6000C tồn tại chủ yếu ở dạng anata. Quá trình chuyển pha từ anata sang rutin xảy ra ở khoảng 6000C và hoàn thành ở khoảng 8000C, sự có mặt của pha rutin bắt đầu xuất hiện trong khoảng 445-5500C. Sự phát triển kích thƣớc hạt gia tăng cùng với sự tăng của nhiệt độ nung và tăng chậm tại nhiệt độ nung thấp. Ảnh hưởng của thời gian nung: Ở nhiệt độ nung thấp, quá trình kéo dài thời gian nung ít có ảnh hƣởng lên sự gia tăng kích thƣớc hạt của bột TiO2 nano.
Nhƣng khi nhiệt nâng cao (khoảng 10000C) thì sự kéo dài thời gian nung có ảnh hƣởng lớn đối với sự gia tăng kích thƣớc hạt. Nhƣ vậy sự phát triển kích thƣớc hạt sẽ nhanh hơn tại nhiệt độ nung cao và có xu hƣớng thay đổi lớn khi thời gian nung kéo dài [10]. Mặt khác theo báo cáo [4], khi tăng thời gian nung tại 4000C (1-2h) quá trình chuyển pha từ vô định hình thành anata đạt mức độ tăng dần và khi thời gian nung đạt 2h thì quá trình chuyển pha xảy ra gần nhƣ hoàn toàn. Tuy nhiên khi thời gian nung tăng thì kích thƣơc hạt cũng tăng.
Kết quả các quá trình chuyển pha với lò nung có tốc độ nâng nhiệt 100C/phút thu đƣợc trong báo cáo: vô định hình- anata: 400-4500C; Trần Thị Tâm- K23 Cao học hóa 5 Ngành Hóa môi trường TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường ĐH KHTN-ĐH QGHN Luận văn tốt nghiệp anata- rutin: 650-7500C. Chế độ nung chuyển pha có thể đƣợc sử dụng để điều chỉnh sản phẩm TiO2 có tỉ lệ anata/rutin mong muốn. c, Hoạt tính quang xúc tác của vật liệu TiO2 Các electron hóa trị là các electron liên kết các nguyên tử lại với nhau. Khi chỉ có một vài nguyên tử, giá trị năng lƣợng của electron trong quỹ đạo ở trạng thái phân tán.
Tuy nhiên khi một số lƣợng lớn các liên kết đƣợc hình thành, các giá trị năng lƣợng này trở lên liên tục trong một khoảng nhất định. Khoảng này đƣợc gọi là dải năng lƣợng (energy band). Vùng giữa hai khoảng năng lƣợng này không có electron đƣợc gọi là vùng cấm (forbidden band). Trong các dải năng lƣợng đã làm đầy electron sẽ có một khoảng có mức năng lƣợng cao nhất gọi là vùng hóa trị (valence band) và vùng bên ngoài vùng hóa trị đƣợc gọi là vùng dẫn (conduction band).
Độ rộng năng lƣợng giữa vùng hóa trị và vùng dẫn đƣợc gọi là độ rộng năng lƣợng vùng cấm (band gap). Vùng cấm này giống nhƣ bức tƣờng mà electron phải vƣợt qua để trở lên tự do.