Nghiên cứu biện pháp phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ sông cầu tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên

Tài liệu nghiên cứu Phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ ven sông Cầu góp phần nâng cao kiến thức chuyên ngành và ứng dụng hỗ trợ đào tạo hiệu quả

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2009

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò then chốt của việc phục hồi hệ sinh thái Sông Cầu

Hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đóng một vai trò không thể thiếu trong việc duy trì sự cân bằng sinh thái và hỗ trợ phát triển bền vững Đồng Hỷ. Vai trò của rừng phòng hộ không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ đất, chống lại các hiện tượng tự nhiên khắc nghiệt mà còn là lá phổi xanh, điều hòa khí hậu cho toàn bộ khu vực. Nghiên cứu các biện pháp phục hồi hệ sinh thái này là một nhiệm vụ cấp thiết, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp. Sông Cầu, với lưu vực rộng lớn 6.030 km², là nguồn sống của hơn 6,5 triệu người dân, cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, hiện trạng rừng Thái Nguyên trong lưu vực đang đối mặt với sự suy thoái nghiêm trọng. Diện tích rừng tự nhiên mất đi với tỷ lệ đáng báo động, khoảng 1% mỗi năm, thay thế bằng rừng tái sinh nghèo kiệt. Sự suy giảm này kéo theo hàng loạt hệ lụy như lũ lụt, sạt lở bờ sông Cầu, và ô nhiễm nguồn nước. Do đó, việc triển khai các giải pháp lâm sinh hiệu quả để khôi phục vành đai xanh ven sông không chỉ là bảo vệ tài nguyên mà còn là bảo vệ sinh kế người dân và đảm bảo an ninh môi trường cho cả lưu vực sông Cầu.

1.1. Tầm quan trọng của rừng phòng hộ trong bảo vệ nguồn nước

Vai trò của rừng phòng hộ được thể hiện rõ nhất qua khả năng điều tiết và bảo vệ nguồn nước. Thảm thực vật ven sông hoạt động như một bộ lọc tự nhiên, ngăn chặn chất dinh dưỡng dư thừa, cặn lắng và các chất ô nhiễm khác từ đất nông nghiệp chảy xuống sông. Theo các nghiên cứu của NRCS (Natural Resources Conservation Service), một hệ thống rừng ven bờ khỏe mạnh có thể làm giảm đáng kể lượng nitơ và phốt pho, những nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước. Hơn nữa, hệ thống rễ cây dày đặc giúp quản lý tài nguyên nước bằng cách tăng khả năng thấm của đất, giảm dòng chảy bề mặt, hạn chế lũ lụt trong mùa mưa và duy trì dòng chảy ổn định trong mùa khô. Việc này đặc biệt quan trọng đối với lưu vực sông Cầu, nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho nhiều tỉnh thành.

1.2. Hiện trạng rừng Thái Nguyên và sự cấp thiết của phục hồi

Hiện trạng rừng Thái Nguyên, đặc biệt là khu vực ven sông Cầu tại Đồng Hỷ, đang ở mức báo động. Quá trình khai thác tài nguyên thiếu quy hoạch, chuyển đổi đất rừng sang canh tác nông nghiệp và áp lực dân số đã làm diện tích rừng phòng hộ suy giảm nghiêm trọng. Độ che phủ rừng tại nhiều khu vực ven sông chỉ còn dưới 0.3, thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn của rừng phòng hộ đầu nguồn (Bộ NN & PTNT, 2006). Tình trạng này dẫn đến đất đai dễ bị cải tạo đất suy thoái, gia tăng hiện tượng chống xói mòn đất trở nên khó khăn. Vì vậy, việc nghiên cứu và áp dụng ngay các biện pháp phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ là yêu cầu cấp bách để ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường và bảo vệ tương lai bền vững của khu vực.

II. Thách thức trong việc quản lý rừng phòng hộ lưu vực Sông Cầu

Công tác quản lý rừng phòng hộ tại lưu vực sông Cầu, huyện Đồng Hỷ đối mặt với nhiều thách thức đan xen giữa yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội. Thách thức lớn nhất đến từ các hoạt động kinh tế thiếu bền vững. Việc khai thác cát sỏi, khoáng sản trái phép đã làm thay đổi dòng chảy, gây ra sạt lở bờ sông Cầu trên diện rộng. Theo khảo sát, có tới 36 điểm sạt lở nghiêm trọng được ghi nhận chỉ trong hai xã Văn Lăng và Hòa Bình, với tổng chiều dài hơn 1000m. Bên cạnh đó, hoạt động nông nghiệp ven sông với việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn nước. Thách thức thứ hai là nhận thức của cộng đồng. Một bộ phận người dân vẫn chưa hiểu rõ vai trò của rừng phòng hộ, dẫn đến các hành vi xâm hại rừng như phát nương làm rẫy, khai thác gỗ trái phép. Sinh kế người dân phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, tạo ra áp lực lớn lên hệ sinh thái. Cuối cùng, các chính sách bảo vệ rừng dù đã được ban hành nhưng việc thực thi tại địa phương còn gặp nhiều khó khăn, thiếu sự phối hợp đồng bộ và nguồn lực đầu tư tương xứng.

2.1. Ảnh hưởng từ kinh tế và nạn sạt lở bờ sông Cầu

Các hoạt động kinh tế là nguyên nhân trực tiếp gây suy thoái hệ sinh thái ven sông. Hoạt động khai thác cát sỏi bừa bãi không chỉ làm biến đổi địa hình lòng sông mà còn tạo ra các dòng chảy hỗn loạn, trực tiếp khoét sâu vào bờ đất gây sạt lở bờ sông Cầu. Hình ảnh những "núi đá" giữa lòng sông tại Văn Lăng và Hòa Bình là minh chứng rõ ràng. Canh tác nông nghiệp sát bờ sông, phá bỏ vành đai thực vật tự nhiên để trồng chè, ngô đã làm mất đi lớp bảo vệ bề mặt, khiến đất dễ dàng bị cuốn trôi vào mùa mưa lũ. Hậu quả là diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế người dân và làm gia tăng tình trạng cải tạo đất suy thoái.

2.2. Suy giảm đa dạng sinh học và áp lực từ biến đổi khí hậu

Việc mất rừng phòng hộ ven sông dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về bảo tồn đa dạng sinh học. Rừng ven sông là môi trường sống và hành lang di trú cho nhiều loài động thực vật, bao gồm cả các loài thủy sinh. Khi thảm thực vật ven sông bị phá vỡ, các loài mất đi nơi cư trú và nguồn thức ăn. Thêm vào đó, tác động của biến đổi khí hậu với các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn, lũ lụt đột ngột càng làm trầm trọng thêm tình trạng xói mòn và suy thoái hệ sinh thái. Việc phục hồi hệ sinh thái không chỉ giúp tái tạo môi trường sống mà còn tăng cường khả năng chống chịu của khu vực trước những biến đổi khắc nghiệt của khí hậu.

III. Phương pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi hệ sinh thái rừng

Để phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ ven sông Cầu, việc áp dụng các giải pháp lâm sinh tổng hợp và phù hợp với điều kiện địa phương là yếu tố quyết định. Nghiên cứu tại Đồng Hỷ đã đề xuất một quy trình kỹ thuật bài bản, bắt đầu từ việc đánh giá chính xác hiện trạng. Dựa trên phân loại trạng thái thảm thực vật theo Loeschau, các khu vực được chia thành các đối tượng khác nhau để có biện pháp tác động phù hợp, từ đất trống, trảng cỏ (Ia, Ib, Ic) đến rừng non phục hồi (IIa) và rừng sau khai thác (IIIa2). Đối với khu vực đất trống và suy thoái nặng, giải pháp chính là trồng cây gây rừng mới, ưu tiên sử dụng các cây bản địa có khả năng chịu ngập, sinh trưởng nhanh và có hệ rễ phát triển mạnh để chống xói mòn đất. Đối với khu vực đã có rừng tái sinh nhưng nghèo kiệt, cần áp dụng các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, làm giàu rừng. Quá trình này bao gồm việc xử lý thực bì theo băng, phát quang dây leo, và trồng dặm các loài cây có giá trị kinh tế và phòng hộ cao.

3.1. Lựa chọn cây bản địa phù hợp cho trồng cây gây rừng

Việc lựa chọn loài cây là khâu then chốt trong hoạt động trồng cây gây rừng. Ưu tiên hàng đầu là các loài cây bản địa đã thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Đồng Hỷ. Nghiên cứu cho thấy các loài như Tre gai, Xoan ta, Cơi, Vối, Sấu, Trám trắng rất phù hợp. Đặc biệt, Tre gai nên được trồng thành vành đai sát mép nước (cách 1-2m) để tạo thành hàng rào sống, có tác dụng cản sóng và giữ đất hiệu quả. Các loài cây gỗ như Cơi, Sấu có khả năng chịu ngập tốt, phù hợp trồng ở những vùng bãi thấp thường xuyên bị ảnh hưởng bởi lũ. Việc sử dụng cây bản địa không chỉ nâng cao tỷ lệ sống mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và tái tạo cấu trúc của hệ sinh thái ven sông một cách tự nhiên.

3.2. Kỹ thuật cải tạo đất suy thoái và chống xói mòn đất

Tại những khu vực đất bị suy thoái nặng, việc cải tạo đất suy thoái phải được tiến hành trước khi trồng rừng. Các kỹ thuật có thể áp dụng bao gồm làm đất tối thiểu, đào hố theo đường đồng mức và bón lót bằng phân hữu cơ để tăng cường dinh dưỡng. Để chống xói mòn đất hiệu quả, có thể kết hợp các biện pháp công trình như xây dựng các kè đá nhỏ ở những điểm sạt lở nghiêm trọng và biện pháp sinh học là trồng xen các loại cây họ đậu, cây che phủ đất. Các loài cây này không chỉ giúp giữ đất, giữ ẩm mà còn có khả năng cố định đạm, cải thiện độ phì của đất một cách tự nhiên, tạo điều kiện thuận lợi cho các cây gỗ chính phát triển.

IV. Giải pháp kinh tế xã hội cho phát triển bền vững Đồng Hỷ

Thành công của dự án phục hồi hệ sinh thái không thể tách rời các giải pháp về kinh tế - xã hội. Để đảm bảo phát triển bền vững Đồng Hỷ, cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Giải pháp trọng tâm là gắn liền lợi ích kinh tế của người dân với công tác bảo vệ rừng. Điều này có thể thực hiện thông qua việc xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp bền vững trên diện tích đất được giao. Thay vì canh tác độc canh, người dân được hướng dẫn trồng xen các loại cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao (Lát hoa, Trám) với cây nông nghiệp ngắn ngày (Lạc, Đậu) hoặc cây dược liệu dưới tán rừng. Mô hình này vừa giúp cải thiện sinh kế người dân, tăng thu nhập, vừa góp phần tăng độ che phủ, bảo vệ đất. Bên cạnh đó, việc củng cố và thực thi hiệu quả các chính sách bảo vệ rừng, đặc biệt là chính sách giao đất giao rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng, sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để người dân tham gia bảo vệ và phát triển vốn rừng mà họ được giao quản lý.

4.1. Cải thiện sinh kế người dân thông qua mô hình nông lâm kết hợp

Một trong những nguyên nhân chính gây áp lực lên rừng là do sinh kế người dân còn nhiều khó khăn. Các mô hình nông lâm kết hợp là giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này. Mô hình này cho phép tận dụng tối đa không gian đất đai, tạo ra nhiều sản phẩm trên cùng một diện tích. Ví dụ, việc trồng Keo, Bạch đàn để thu hoạch ngắn hạn có thể cung cấp nguồn vốn tái đầu tư cho việc trồng các loài cây gỗ lớn lâu năm. Đồng thời, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm dưới tán rừng hoặc trồng xen các cây lương thực giúp đảm bảo an ninh lương thực và tạo nguồn thu nhập thường xuyên. Việc phát triển các mô hình này cần sự hỗ trợ về kỹ thuật, giống và vốn từ các cơ quan chức năng để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững.

4.2. Xây dựng chính sách bảo vệ rừng và quản lý tài nguyên nước

Để công tác phục hồi rừng đạt hiệu quả lâu dài, cần có một khung chính sách bảo vệ rừng rõ ràng và được thực thi nghiêm túc. Chính quyền địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về luật pháp và vai trò của rừng phòng hộ. Cần quy định rõ ràng trách nhiệm và quyền lợi của các hộ nhận giao đất, giao rừng. Song song đó, việc tăng cường quản lý tài nguyên nước và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác cát sỏi, khoáng sản trên sông Cầu là bắt buộc. Cần có sự phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý tài nguyên, môi trường và nông nghiệp để tạo ra một cơ chế quản lý tổng hợp và hiệu quả cho toàn bộ lưu vực sông Cầu.

04/10/2025
Nghiên cứu biện pháp phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ sông cầu tại huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu rất quan trọng cho khoa học phục hồi rừng, tuy nhiên, nó chưa ch ra được những giải pháp cụ thể để phục hồi rừng. Khoa học nghiên cứu về phục hồi rừng mới thực sự phát triển vào những năm 1950 trở lại đây. Điển hình là các nghiên cứu của Barnard (1950), Smith (1952) ở Malaysia và nghiên cứu của Lamprecht ở Venezuela (1954). Những kết quả nghiên cứu đó đều đi đến thống nhất rằng: cần lợi dụng triệt để TTV hiện có với các điều kiện lập địa khác nhau nhằm duy trì tái sinh tự nhiên kết hợp với trồng bổ sung để phục hồi lại cấu trúc rừng gần giống ban đầu (Đặng Xuân Quý, 2005).

Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới châu Á, Van Steenis (1956) đã đưa ra kết luận: tái sinh vệt thích hợp với những cây ưa sáng mọc nhanh, vòng đời ngắn; cây tái sinh phân tán; liên tục phù hợp với các loài ban đầu chịu bóng hoặc những loài ưa bóng (Nguyễn Th Ngọc, 2003). Những nghiên cứu về các vùng nương rẫy bị bỏ hoang ở Braxin, Weidelt (1986) cho thấy, sự phát triển của khu rừng thứ sinh có xu hướng tiến đến giá trị ban đầu của khu rừng nguyên sinh về số lượng và thành phần loài. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình đó diễn ra nhanh và hiệu quả (Nguyễn Văn Thao, 2003). 6 Năm 1975, khi phân tích sự phát triển của TTV thứ sinh, Whitimore đã nhấn mạnh, khoảng thời gian để các khu rừng tái sinh hạt đạt được tới trạng thái là nguyên sinh có thể tới hàng trăm năm.

Các khu rừng thuần loài được tạo thành bởi những loài mà hạt của chúng có thể nảy mầm và trụ được trên các khu đất trống vào thời điểm thích hợp và cần lợi dụng lớp cây chồi, xử lý thực bì theo băng rạch tránh phát trắng để sớm hoàn cảnh rừng. Đến năm 1989, Han Lamprecht và Aubreulle đã bổ sung thêm rằng, làm giàu rừng là lựa chọn tối ưu nhất cho lâm phần ban đầu không đủ loài cây tái sinh có giá trị kinh tế, từ đó đã xây dựng hoàn ch nh phương pháp làm giàu rừng theo rạch (Bùi Th vân, năm 2005). Năm 1996, các nghiên cứu của Fedlmaner đã ch ra rằng, các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng chủ yếu là: điều kiện lập địa, thành phần loài, nguồn cây mẹ gieo giống,.Song đó mới ch là nghiên cứu tổng hợp mà chưa ch ra được các nhân tố nào ảnh hưởng mạnh m nhất, biện pháp khắc phục,. Các nghiên cứu trên, tuy ở những khía cạnh, vấn đề khác nhau song đều có ý nghĩa lớn lao, vạch ra nền móng cho khoa học nghiên cứu phục hồi rừng ngày nay.

Ng i n cứu về rừng p òng ộ ven bờ Nghiên cứu về RPH ven bờ cũng như các giải pháp phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ (HSTRPH) ven bờ vẫn còn khá mới m ở Việt Nam. Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX mới có một số công trình nghiên cứu về thuỷ văn rừng đề cập đến vấn đề này, một trong những nghiên cứu điển hình đó là: Bùi Ngạnh, Nguyễn Danh Mô (1977) và Nguyễn Ngọc Bích (1985) đã nghiên cứu về sự biến đổi dòng chảy mặt của một số dạng rừng khác nhau. Các tác giả đã đề xuất những mô hình bố trí đai rừng giữ nước trong vùng đất dốc và ven lưu vực sông. 7 Năm 2004, Vũ anh Tuấn với luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu biến động của lớp phủ thực vật đến quá trình xói mòi trên lưu vực sông , đã đánh giá lớp phủ thực vật, đặc biệt độ che phủ (ĐCP) của rừng ven bờ có quan hệ chặt đến rất chặt tới xói mòn lưu vực.

Đồng thời tác giả đã đề xuất theo dõi, quản lý xói mòn trên các lưu vực sông bằng các ảnh vệ tinh. Năm 2005, với luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm vùng bán ngập nước của một số hồ trọng điểm ở Bắc Việt Nam và đề xuất giải pháp trồng rừng phòng hộ ven hồ , Âu Văn Bảy đã phân tích điều kiện lập địa và đề xuất được mô hình trồng rừng ven hồ. Song đề tài chưa đề cập nhiều đến các giải pháp về kinh tế xã hội (KTXH) nên tính thuyết phục của đề tài không cao. Phạm Song, Phó trưởng Ban thường trực ch đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, ch ra rằng: 1 ha rừng ven bờ, về mùa lũ s ngăn cản tối đa lượng đất đổ xuống dòng sông là không đáng kể.

Nhưng nếu 1 ha TTV rừng này bị suy giảm thì về mùa lũ lượng đất, đá đổ xuống dòng sông có thể lên đến 150 tấn/năm gấp 1500 lần. Vì vậy, nếu không có biện pháp phục hồi RPH ven bờ sông suối thì kết quả là dòng sông đó s bị ô nhiễm và dần bị lấp đầy (Theo Trần Th Thanh Hương, 2008) 1. Nghiên cứu về phục hồi rừng Những nghiên cứu về biện pháp phục hồi rừng đã diễn ra từ những năm 1950, đặc biệt là năm 1961. Nhưng phải tới những năm 90 mới thực sự có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phục hồi và diễn thế rừng ở Việt Nam.

Năm 1993, khi nghiên cứu giải pháp phục hồi hệ sinh thái rừng ở miền Nam, Việt Nam, nơi rừng bị nhiễm chất độc màu da cam, Thái Văn Trừng đã kết luận rằng, để phục hồi loại rừng này cần phải qua 2 bước là: trồng loài cây có khả năng tổng hợp Nitơ tự nhiên để giải phóng đất, sau đó chặt bỏ lớp cây này rồi trồng cây rừng có giá trị. Cùng năm đó khi nghiên cứu rừng tái sinh tự nhiên dưới rừng khộp ở Easup – Đăk Lăk, Đỗ Quang Điệp đã đưa ra kết luận: Độ tàn che (ĐTC) của rừng, thảm mục, độ dày của thảm tươi, điều kiện lập 8 địa là những nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cây tái sinh. Nguyễn Ngọc Lung (1995) và Nguyễn Luyện (1992) đều cho rằng, hiệu quả phục hồi rừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, đặc tính sinh vật học của các loài, điều kiện KTXH của khu vực đó. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập tập trung tìm hiểu quy luật của quá trình diễn thế tái sinh phục hồi rừng.

Những kết quả này s là cơ sở khoa học nhằm xác định các biện pháp phục hồi rừng. Nhưng để phục hồi rừng có hiệu quả rất cần thiết phải có quy trình quy phạm cụ thể. Do vậy, QNP (Quy phạm ngành) 14–92, kèm theo QĐ (Quyết định) 200 QĐ–KT (Quy định–Kỹ thuật) năm 1993 về quy trình quy phạm các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng đã lần lượt được ban hành. Gần đây QPN 21–98 đã bổ sung thêm các tiêu chuẩn mang tính lượng hoá nhằm xác định đối tượng, biện pháp, thời gian và kết quả đạt được của hoạt động phục hồi rừng.

Nghiên cứu phần tổng quan, chúng ta nhận thấy rằng: mặc dù trên thế giới đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về RPH ven bờ sông suối, cũng như các biện pháp phục hồi trong quản lý lưu vực bền vững và có thể áp dụng cho nhiều nơi, nhiều loại điạ hình khác nhau. Tuy nhiên, ở Việt nam các nghiên cứu này chưa nhiều, các kết quả đạt được chưa ứng dụng vào thực tiễn. 9 PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục ti u ng i n cứu Đề xuất được một số biện pháp phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại huyện Đồng Hỷ, t nh Thái Nguyên nhằm góp phần ổn định dòng sông và giảm ô nhiễm nguồn nước tại khu vực nghiên cứu 2.

Đối tƣợng ng i n cứu Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hệ sinh thái rừng phòng hộ và vùng đệm ven bờ sông Cầu (bán kính 100m đi dọc theo hai bên bờ sông, tập trung vào hai xã có nhiều diện tích rừng và tiềm năng đất đai trồng rừng nhất gồm xã Văn Lăng và Hòa Bình) tại huyện Đồng Hỷ, t nh Thái Nguyên trong thời gian nghiên cứu từ ngày 23 tháng 2 năm 2009 đến ngày 12 tháng 5 năm 2009. Nội dung ng i n cứu 2. Ng i n cứu cơ sở kỹ t uật p ục ồi ệ sin t ái rừng p òng ộ ven bờ sông Cầu. Nghiên cứu đặc điểm điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu thuỷ văn tại khu vực nghiên cứu.

Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên thực vật rừng vùng ven bờ tại khu vực nghiên cứu. Ng i n cứu cơ sở kin t xã ội p ục ồi ệ sin t ái rừng phòng ộ ai b n bờ sông cầu. Nghiên cứu ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất kinh tế đến hiện trạng dòng sông tại khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu ảnh hưởng của dân số, dân tộc và sự phân bố dân cư đến công tác phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu.

Nghiên cứu kiến thức bản địa, phong tục tập quán, quy ước thôn bản trong bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương. 10 Nghiên cứu nhận thức và ý thức của người dân trong việc bảo vệ dòng sông và phục hồi hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu. Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố chính sách, pháp luật tới xây dựng và bảo vệ rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu.3 Đề xuất một số giải p áp n ằm góp p ần p ục ồi ệ sin t ái rừng p òng ộ ven bờ sông Cầu tại k u vực ng i n cứu. P ƣơng p áp ng i n cứu Để thực hiện các nội dung trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 2.

Quan điểm p ƣơng p áp luận Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng với mục đích chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu góp phần bảo vệ môi trường (Bộ NN & PTNT, 2004(b)). Như vậy, việc nghiên cứu các biện pháp phục hồi RPH đặc biệt là RPH ven bờ sông suối - nơi có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng chảy, nguồn nước và sự xói mòn của khu vực là rất quan trọng trong quản lý lưu vực hiện nay. Trên thực tế, RPH ven bờ sông Cầu tại huyện Đồng Hỷ đang bị suy thái nghiêm trọng, kéo theo là sự xuống cấp dòng chảy qua địa bàn huyện, gây ảnh hưởng xấu tới đời sống của nhân dân nơi đây. Trên quan điểm của các nhà sinh thái học thì phục hồi RPH ven bờ sông suối là phục hồi toàn bộ cảnh quan, sinh thái rừng ven bờ như vốn có của nó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ