ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Keo (Acacia mangium) là loài cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, chu kỳ kinh doanh ngắn chỉ từ 10-20 năm là dạng cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30m. Đƣờng kính có thể đạt đƣợc đến 120 - 150cm. Cây Keo thích hợp nơi có nhiệt độ bình quân năm 23 - 240C, lƣợng mƣa từ 1. Cây Keo là loài cây ƣa đất ẩm, thành phần cơ giới trung bình và thoát nƣớc.
Có thể trồng tập trung hoặc phân tán đều đƣợc. Một lô rừng Keo xuất xứ Cardwell của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy (FRC) đã đƣợc MARD công nhận đủ tiêu chuẩn rừng giống. Một vài khảo nghiệm hậu thế của lô rừng giống FRC đã cho thấy ở Tuyên Quang, sau trồng 24 tháng, tốc độ sinh trƣởng chiều cao đạt 2,5 - 3m/năm. Ở Việt Nam, Cây Keo đƣợc trồng rừng với mục đích chủ yếu là cải tạo môi trƣờng sinh thái và sản xuất gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, gỗ ván, dăm,.
Hiện nay, nó có khả năng sản xuất mỗi năm khoảng 200 - 250 kg hạt giống. Đặc biệt hệ rễ của loài này có nốt sần chứa cả Rhizobium và Bradyrhiobium, có khả năng tổng hợp nitơ tự do trong không khí cao nên tác dụng cải tạo đất của nó là rất tốt. Vì vậy, đây là một trong những loài cây chính đƣợc dùng trong trồng rừng sản xuất tại nƣớc ta trên quy mô lớn. Cùng với việc hình thành nên các lâm phần Keo thuần loài thì quần thể sâu hại cũng xuất hiện và phát triển mạnh.
Kết quả điều tra của thầy Nguyễn Thế Nhã cho thấy có tới 30 loài sâu ăn lá keo thuộc 14 họ và 3 bộ côn trùng khác nhau, trong đó bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) có số họ (9/14 họ) và số loài (23/30 loài) nhiều hơn cả. Hai họ có nhiều loài sâu ăn lá là họ Ngài đêm (Noctuidae 6 loài) và họ Sâu kèn (Psychidae 5 loài). Trong số 30 loài sâu ăn lá kể trên có 4 loài đã từng phát dịch ở mức độ khác nhau. Trong những năm gần đây qua điều tra cho thấy các rừng trồng keo thuần loài thƣờng suất hiện một số sâu hại nhƣ Sâu nâu ăn lá keo (Anomis fulvida Guenée), và Sâu vạch xám (Speiredonia retorta Linnaeus), sâu róm đen, sâu cuốn lá.
Nguy hiểm hơn cả là loài Sâu nâu (Anomis fulvida Guenée) và Sâu vạch xám (Speiredonia retorta Linnaeus) hai loài này sống chung với nhau đã gây dịch kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1 1998, gây ra dịch hại trên diện tích khoảng 5.000 ha ở các lâm trƣờng thuộc hai tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ. Trong năm 1998 để phòng trừ dịch hại, đã có 3 biện pháp cơ bản để thực hiện, trong đó biện pháp thủ công thông qua thu mua sâu non và biện pháp hóa học đƣợc sử dụng nhiều ở địa phƣơng, còn biện pháp sử dụng mồi nhử bả độc chỉ đƣợc áp dụng có tính chất thử nghiệm. Biện pháp bắt giết và biện pháp hóa học đã đƣợc thực hiện là biện pháp tình huống, áp dụng khi sâu đã phát dịch nên mang tính thụ động và rất tốn kém, nhất là với địa hình lâm nghiệp rộng và địa hình phức tạp thì việc áp dụng biện pháp này trở nên gặp nhiều khó khăn, sử dụng thuốc hóa học còn làm ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng và gây ra hậu quả không lƣờng. Thuộc địa phận tỉnh Tuyên Quang, xã Trung Hà là nơi có diện tích rừng trồng Keo lớn đem lại nguồn thu nhập lâu dài cho ngƣời dân tái định cƣ.
Tuy nhiên khu vực này đã và đang là đối tƣợng phá hoại của nhiều loài sâu hại, đặc biệt là sâu hại lá thuộc họ Họ Ngài độc (Lymantriidae), Ngài đêm (Noctuidae) và Ngài túi (Psychidae) gây ra thiệt hại đáng kể cho rừng Keo nơi đây. Nghiên cứu thành phần sâu hại Keo làm cơ sở cho việc đề xuất kịp thời các biện pháp phòng trừ sâu hại, giảm đến mức tối thiểu thiệt hại do chúng gây ra, trong đó chú trọng các biện pháp thân thiện với môi trƣờng nhƣ: Bảo vệ thiên địch, thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học…, hƣớng tới phát triển một nền lâm nghiệp bền vững nói chung và rừng Keo của xã Trung Hà nói riêng. Để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phƣơng, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ sâu hại lá Keo (Acacia mangium) tại xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Côn trùng là nhóm động vật thành công nhất trên hành tinh chúng ta.
Điều đó đƣợc khẳng định không phải chỉ vì côn trùng có tới hàng triệu loài – nhiều hơn tất cả các loài côn sinh vật khác cộng lại, mà trƣớc hết là do khả năng thích nghi rất đa dạng của chúng với các điều kiện sống khác nhau. Côn trùng đã chiếm lĩnh hầu nhƣ tất cả các sinh cảnh, từ khu vực sa mạc nóng bỏng cho đến vùng lãnh nguyên ở bắc cực lạnh giá, từ vùng núi cao cho đến vùng nhiệt đới cũng nhƣ hoang đảo xa xôi. Chúng đào bới dƣới đất sâu, đục khoét trong gỗ cứng, bơi lội trong nƣớc sông suối ao hồ và cũng là một trong những sinh vật đầu tiên chiếm giữ khoảng không. Côn trùng là một lớp (sinh vật) thuộc về ngành động vật không xƣơng sống có tên khoa học là Insecta (lớp Côn trùng), chúng có bộ xƣơng ngoài làm bằng kitin, cơ thể có ba phần (đầu, ngực và bụng), ba cặp chân, mắt kép và một cặp râu.
Theo nhƣ nghiên cứu của các nhà sinh học thì Trái Đất của chúng ta có hơn 1 triệu 200 loài động vật trong đó côn trùng có tới hơn 900.000 loài nhiều hơn khoảng 3 lần tất cả các động vật khác cộng lại. Côn trùng có thể sống đƣợc ở hầu hết các môi trƣờng sống, mặc dù chỉ có số ít các loài sống ở biển và đại dƣơng, nơi mà động vật giáp xác chiếm ƣu thế hơn.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng, trong số đó có khoảng 1% côn trùng là gây hại.1 Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng trên Thế giới Lịch sử phát triển côn trùng học có xuất phát điểm là năm 3000 trƣớc công nguyên: Trong sách cổ Syrie có ghi chép về các loài bay khổng lồ và sự phát triển ghê gớm của châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria). Nhà triết học , tự nhiên học nổi tiếng thế giới, Aristoteles (384 - 322 TCN) đã quan tâm đến hệ thống hóa và sự phát triển của động vật trong đó có nói tới hơn 60 loài côn trùng và gọi chúng là “ Entoma” loại động vật chân có đốt. 3 Đến đầu thế kỷ 17 côn trùng lại phát triển mạnh mẽ.
Nhà khoa học Italia Malpighi (1628 - 1694) đã có những nghiên cứu rất giá trị về đặc điểm giải phẫu của tằm. Các nhà khoa học đã ghi nhận công lao to lớn của ông bằng cách đặt tên cho cơ quan bài tiết của côn trùng là ống Malpighi. Năm 1735 Carl von Linne (1707 - 1778) đã xuất bản cuốn sách nổi tiếng “Systema naturae” đề cập tới 3 lĩnh vực quan trọng của tự nhiên là khoáng, thực vật và động vật. Ông là ngƣời đầu tiên phân loại động vật, trong đó có côn trùng một cách hiện đại.
Lần xuất bản thứ 10 của sách “Hệ thống tự nhiên” này Linne đã đƣa vào cách gọi tên khoa học của các loài sinh vật. Năm 1793 Sprengel (1750 - 1816) xuất bản tác phẩm nổi tiếng mô tả mối quan hệ giữa cấu tạo của hoa và quá trình thụ phấn nhờ côn trùng. Trong cuốn sách này lần đầu tiên vai trò của côn trùng trong việc thụ phấn cho hoa đã đƣợc giải thích. Hội côn trùng đầu tiên trên Thế Giới đƣợc thành lập ở nƣớc Anh năm 1945.
Hội côn trùng ở Nga đƣợc thành lập năm 1959. Nhà côn trùng Nga Kappen (1882 - 1883) đã xuất bản 3 cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều đến côn trùng thuộc bộ cánh cứng. Trong các tài liệu nói trên đề cập nhiều đến loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng nhƣ: Mọt, xén tóc và các loài côn trùng cánh cứng ăn hại khác. Ở Nga đã có nhiều nhà nghiên cứu về côn trùng nổi tiếng, họ đã xuất bản những tác phẩm có giá trị về những loài nhƣ sâu róm thông, sâu đo ăn lá, ong ăn lá, các loài thuộc bộ cánh cứng.
Năm 1952 ở Trung Quốc, môn côn trùng lâm nghiệp đã đƣợc chính thức giảng dạy trong các trƣờng Đại học lâm nghiệp, từ đó việc nghiên cứu về côn trùng lâm nghiệp đƣợc đẩy mạnh. Năm 1959 Trƣơng Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học” liên tiếp từ năm 1965 giáo trình “Sâm lâm côn trùng học” đã đƣợc viết lại nhiều lần. Trong các tác phẩm đó đã giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loài sâu phá hoại các loài cây rừng.N boronxop đã viết giáo trình “Côn trùng rừng” trong các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng nhƣ: mọt, xén tóc, sâu đinh và bọ lá. Năm 1978, Sở nghiên cứu động vật trƣờng Đại học Nông Nghiệp Triết Giang đã xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch” trong đó có đề cập tới đặc điểm sinh học của côn trùng ăn thịt.
Trên đây là điểm qua về một số mốc lịch sử nổi bật sự phát triển nghiên cứu về côn trùng của thế giới. Vì côn trùng là một lớp phong phú nhất trong giới động vật nên các tài liệu nghiên cứu về côn trùng cũng vô cùng phong phú.2 Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng ở Việt Nam Những nghiên cứu về côn trùng ở nƣớc ta bắt đầu phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XIX với sự tham gia của các nhà khoa học Pháp, vào năm 1897 đoàn nghiên cứu tổng hợp ngƣời Pháp tên là “Mission Parie” đã điều tra côn trùng Đông Dƣơng, đến năm 1904 kết quả đã đƣợc công bố. “Côn trùng chí Đông Dƣơng” là sản phẩm khoa học đầu tiên nghiên cứu về côn trùng nƣớc ta. Kết quả phát hiện đƣợc 1020 loài trong đó có 541 loài thuộc Bộ Cánh cứng, 168 loài Bộ Cánh vảy, 139 loài chuồn chuồn, 59 loài mối, 55 loài Bộ Cánh màng, 9 loài Bộ 2 cánh và 49 loài thuộc các bộ khác.
Một số cơ sở nghiên cứu về côn trùng đã đƣợc ngƣời Pháp thành lập nhƣ: Phòng nghiên cứu côn trùng, trạm nghiên cứu côn trùng Chợ Ghềnh (Ninh Bình), phòng nghiên cứu côn trùng thuộc Viện khảo cứu khoa học Sài Gòn.