Tổng quan luận án

U tuyến yên là bệnh lý tân sinh xuất phát từ các tế bào của tuyến yên, chiếm khoảng 10% đến 15% trong tổng số các khối u nguyên phát nội sọ, đứng hàng thứ ba sau u thần kinh đệm và u màng não. Về mặt lâm sàng và bệnh học, khối u được phân chia thành hai nhóm chính: nhóm u có hoạt tính nội tiết (tiết prolactin, GH, ACTH, TSH, FSH/LH) và nhóm u không có hoạt tính nội tiết. Mặc dù đa số các khối u tuyến yên là lành tính, nhưng sự phát triển của khối u trong vùng hố yên hẹp có thể gây chèn ép nghiêm trọng các cấu trúc thần kinh lân cận như giao thoa thị giác, xoang hang và các dây thần kinh sọ, đồng thời làm suy giảm hoặc rối loạn bài tiết hormon.

Các phương pháp điều trị truyền thống bao gồm phẫu thuật (mở nắp sọ hoặc nội soi qua xoang bướm), điều trị nội khoa bằng thuốc đồng vận dopamine hoặc liệu pháp thay thế hormon, và xạ trị gia tốc. Tuy nhiên, phẫu thuật nội soi qua xoang bướm vẫn tiềm ẩn tỷ lệ tái phát và di chứng suy giảm thị lực từ 10% đến 25%, rò rỉ dịch não tủy và suy tuyến yên. Xạ trị thông thường có nguy cơ cao gây suy tuyến yên toàn bộ và tổn thương đường thị giác sau nhiều năm. Phương pháp xạ phẫu bằng dao gamma cổ điển được phát triển từ năm 1968, và đến năm 2004 hệ thống dao gamma quay ra đời với nhiều cải tiến kỹ thuật. Tại Việt Nam, kỹ thuật dao gamma quay được ứng dụng từ năm 2007, nhưng tại thời điểm nghiên cứu chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về sự biến đổi lâm sàng, hình thái học trên cộng hưởng từ và chức năng nội tiết của tuyến yên trước và sau điều trị bằng phương pháp này.

Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương với đề tài "Nghiên cứu biến đổi triệu chứng lâm sàng, hình thái, chức năng tuyến yên ở bệnh nhân u tuyến yên trước và sau điều trị bằng dao gamma quay", chuyên ngành Nội khoa (mã số 9720107), thực hiện tại Học viện Quân y dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Mai Trọng Khoa và GS. Đoàn Văn Đệ, được xây dựng nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu trên với hai mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân u tuyến yên.
  2. Đánh giá sự thay đổi về lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân u tuyến yên trước và sau điều trị xạ phẫu bằng dao gamma quay.

Nghiên cứu được triển khai trên 73 bệnh nhân u tuyến yên được khám, chẩn đoán và theo dõi điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu thuộc Bệnh viện Bạch Mai trong khoảng thời gian từ tháng 01/2011 đến tháng 01/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các kiến thức nền tảng về giải phẫu, sinh lý và sinh học phân tử vùng hố yên. Tuyến yên người trưởng thành nặng 500-600 mg, kích thước dài khoảng 10 mm, rộng 10-15 mm, cao khoảng 5 mm. Thùy trước (tiền yên) cấu tạo từ các tế bào chế tiết, trong đó tế bào Somatotroph tiết GH chiếm khoảng 50%, tế bào Lactotroph tiết Prolactin (PRL) chiếm 10-30%, tế bào Corticotroph tiết ACTH chiếm 10-30%, tế bào Thyrotroph tiết TSH chiếm khoảng 5%, và tế bào Gonadotroph tiết FSH/LH chiếm 3-5%. Thùy sau (hậu yên) giữ vai trò dự trữ hai hormon ADH và oxytocin từ vùng dưới đồi. Vùng hố yên tiếp giáp với nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng: phía trên liên quan giao thoa thị giác và não thất III, hai bên tiếp giáp xoang tĩnh mạch hang chứa động mạch cảnh trong và các dây thần kinh sọ III, IV, VI, V1.

Về mặt dịch tễ học, tác giả điểm lại các nghiên cứu quốc tế:

  • Yamada S. (2001) thống kê tỷ lệ u tuyến yên chiếm 3,4% - 23,2% tổng số u não (trung bình 12,1%), tỷ lệ mới mắc trong quần thể từ 2,4 đến 14/100.000 dân.
  • Heshman M. và cộng sự, Daly A. và cộng sự (2006), Kuratsu J. và cộng sự ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ mắc theo chủng tộc, giới tính và nhóm tuổi (thường gặp từ 20 đến 60 tuổi, đỉnh điểm 35-44 tuổi hoặc 38-50 tuổi).
  • Tại Việt Nam, các tác giả Lý Ngọc Liên (2000-2002 tại Bệnh viện Việt Đức), Lê Thanh Huyền (2015), Nguyễn Thanh Xuân (2006-2007) và Phạm Hồng Thiện (Bệnh viện Bạch Mai) ghi nhận độ tuổi trung bình mắc bệnh từ 40,1 đến 45,78 tuổi với tỷ lệ nam/nữ dao động từ 1/1,04 đến 1/1,4.

Về chẩn đoán và điều trị, luận án phân tích các tiêu chuẩn theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2017) và Hiệp hội U não Hoa Kỳ (ABTA 2015). Chẩn đoán hình ảnh dựa trên X-quang sọ quy ước, chụp cắt lớp vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI) 1.5 Tesla và chụp cộng hưởng từ phổ (CHTP) đánh giá các đỉnh chuyển hóa N-acetyl aspartate (NAA), Creatine (Cr) và Choline (Cho). Về xạ phẫu, Lars Leksell phát minh dao gamma cổ điển năm 1968 với 201 nguồn Co-60. Hệ thống dao gamma quay ART-6000™ cải tiến sử dụng 30 nguồn Co-60 quay đồng trục với tốc độ 2-4 vòng/phút, giảm độ tán xạ còn khoảng 2%, đạt suất liều 3 Gy/phút và sai số lệch vị trí dưới 0,1 mm.

Tác giả điểm lại các công trình điều trị bằng dao gamma:

  • Tanaka S. và cộng sự (2010): điều trị 22 bệnh nhân u tiết PRL với liều trung vị 25 Gy, kiểm soát kích thước u 100% sau 60 tháng.
  • Nghiên cứu tại Hoa Kỳ trên 90 bệnh nhân u có hoạt tính nội tiết với liều trung bình 23 Gy ghi nhận 80% giảm kích thước u sau 45 tháng.
  • Nghiên cứu trên 347 bệnh nhân u hoạt tính nội tiết theo dõi trên 60 tháng cho thấy tỷ lệ kiểm soát khối u đạt 89,7% ở u tiết ACTH, 90,3% ở u tiết PRL, 95,1% ở u tiết GH; tỷ lệ bình thường hóa hormon lần lượt là 27,9%, 23,3% và 36,9%.
  • Yazdani O. và cộng sự: trên 100 bệnh nhân, hiệu quả kiểm soát kích thước u đạt 92% (28% giảm kích thước, 64% ổn định).
  • Tại Việt Nam: Mai Trọng Khoa và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 1700 bệnh nhân u não và bệnh lý sọ não; Nguyễn Quang Hùng và cộng sự (2013) đánh giá 50 bệnh nhân u thân não tại Bệnh viện Bạch Mai.

Vị trí của luận án: Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam theo dõi dọc, đánh giá đồng bộ cả ba phương diện: triệu chứng lâm sàng thần kinh - nội tiết, hình ảnh học kích thước khối u trên MRI theo tiêu chuẩn RECIST, và nồng độ các hormon tuyến yên trước và sau xạ phẫu dao gamma quay theo các mốc thời gian 6, 12, 24 và 36 tháng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và tiêu chuẩn chẩn đoán

Luận án vận dụng các khung phân loại và hướng dẫn quốc tế:

  • Tiêu chuẩn phân loại u tuyến yên của WHO (2017) và ABTA (2015).
  • Đánh giá đáp ứng kích thước khối u theo tiêu chuẩn RECIST (Response Evaluation Criteria in Solid Tumors).
  • Đánh giá tăng huyết áp theo tiêu chuẩn JNC 7.
  • Đánh giá thể trạng dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI) của WHO cho người châu Á.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng Cushing thông qua các nghiệm pháp: nghiệm pháp ức chế dexamethason 1 mg qua đêm, liều thấp 2 ngày (0,5 mg mỗi 6 giờ trong 48 giờ) và liều cao 2 ngày (2 mg mỗi 6 giờ trong 48 giờ).
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán to đầu chi bằng nghiệm pháp dung nạp 75g glucose đường uống định lượng GH và IGF-1 (GH > 1 ng/ml sau 120 phút).
  • Tiêu chuẩn nồng độ PRL máu (> 200 µg/l gợi ý micro/macroadenoma, > 1000 µg/l khẳng định u tuyến yên tiết prolactin).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp hồi cứu và tiến cứu, thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc sau điều trị không có nhóm chứng.
  • Đối tượng nghiên cứu: 73 bệnh nhân u tuyến yên điều trị tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2011 đến tháng 01/2016 (tuyển chọn bệnh nhân từ 01/2011 đến 01/2015).
Nhóm đối tượng Tiêu chuẩn lựa chọn Tiêu chuẩn loại trừ
Nhóm bệnh nhân nghiên cứu chung - Tuổi trên 18.
- Chẩn đoán xác định u tuyến yên trên phim MRI sọ não.
- Được định lượng đầy đủ các hormon tuyến yên.
- Không mắc bệnh lý cấp, mạn tính đe dọa tính mạng.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tình trạng bệnh quá nặng, không đánh giá được lâm sàng.
- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.
- Đang dùng thuốc ảnh hưởng nội tiết (thuốc tránh thai, corticoid, levothyroxin).
- Hồ sơ thăm khám, xét nghiệm không đầy đủ.
Nhóm can thiệp xạ phẫu dao gamma quay - Đủ tiêu chuẩn lựa chọn nhóm bệnh chung.
- Sau phẫu thuật không lấy hết u.
- U tuyến yên thất bại với điều trị nội khoa hoặc tái phát sau phẫu thuật.
- Bệnh nhân già yếu, chống chỉ định phẫu thuật/gây mê.
- Bệnh nhân từ chối các phương pháp can thiệp khác.
- Khối u đơn độc, đường kính lớn nhất < 50 mm.
- Khoảng cách từ bờ trên khối u đến giao thoa thị giác $\ge$ 3 mm.
- Không đồng ý thực hiện xạ phẫu.
- Không tuân thủ lịch tái khám và theo dõi định kỳ.
- Khối u có đường kính lớn nhất $\ge$ 50 mm.
- Khoảng cách từ khối u đến giao thoa thị giác < 3 mm.
- Thuộc các tiêu chuẩn loại trừ chung.
  • Trang thiết bị nghiên cứu:

    • Máy xét nghiệm miễn dịch tự động Elecsys 2010 và Cobas 8000 (Roche Hitachi, Nhật Bản).
    • Máy chụp cộng hưởng từ 1.5 Tesla (Siemens, Đức).
    • Hệ thống xạ phẫu dao gamma quay ART-6000™ (Varian, Hoa Kỳ) tích hợp phần mềm lập kế hoạch điều trị xác định thể tích khối u thô (GTV), thể tích bia lập kế hoạch (PTV) và phân bố liều.
  • Quy trình theo dõi và thu thập dữ liệu: Bệnh nhân sau xạ phẫu được đánh giá toàn trạng, khám lâm sàng thần kinh - mắt, xét nghiệm nồng độ các hormon tuyến yên (GH, PRL, ACTH, TSH, LH, FSH, FT4, Cortisol) và chụp MRI sọ não đối quang từ tại các thời điểm: trước điều trị, sau 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này trình bày chi tiết về cấu trúc giải phẫu tuyến yên, hố yên, mạch máu cấp máu (động mạch tuyến yên trên và dưới xuất phát từ động mạch cảnh trong), cùng mối tương quan không gian với giao thoa thị giác và xoang hang. Tác giả phân tích đặc tính mô bệnh học, phân loại hóa mô miễn dịch theo hệ thống WHO 2017 và cơ chế bệnh sinh của các dòng tế bào tuyến tiền yên. Về mặt chẩn đoán, chương tổng quan phân tích giá trị của từng kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh: X-quang quy ước, CT Scanner phát hiện tổn thương tiêu xương mòn hố yên, MRI đa chuỗi xung (T1W, T2W, Dynamic có tiêm đối quang từ Gadolinium) giúp định vị ranh giới u 3 chiều, và vai trò của cộng hưởng từ phổ (CHTP).

Phần tổng quan về điều trị phân tích toàn diện 4 hướng can thiệp:

  1. Điều trị nội khoa: Sử dụng thuốc chủ vận dopamine (Bromocriptin khởi đầu 1,25 mg/ngày, tăng dần đến 2,5 mg x 2 lần/ngày) cho u tiết PRL, điều trị ức chế hormon, và liệu pháp thay thế hormon (như Hydrocortison 200-300 mg/24 giờ cho suy thượng thận cấp).
  2. Phẫu thuật: Mở nắp sọ hoặc phẫu thuật nội soi qua xoang bướm, nêu rõ các biến chứng chảy máu, đái tháo nhạt (22,22% theo Bùi Phương Thảo), suy tuyến yên mới xuất hiện (34,13% theo Lê Thanh Huyền).
  3. Xạ trị gia tốc: Nêu rõ hạn chế gây suy tuyến yên muộn (tỷ lệ suy giáp 64%, thiếu hụt cortisol 55% sau 5 năm theo Moose và Shaw; tỷ lệ suy tuyến yên tích lũy từ 23% đến 88%).
  4. Xạ phẫu bằng dao gamma: Cơ chế ion hóa tế bào u và tắc mạch nuôi; cấu tạo hệ thống dao gamma cổ điển Leksell (201 nguồn Co-60) so với dao gamma quay ART-6000™ (30 nguồn Co-60, collimator quay, độ chuẩn xác cao, suất liều 3 Gy/phút). Luận án tổng hợp chỉ định và bảng liều xạ phẫu theo Flickingera J. (2013) và Raef F. (u tiết GH: 20-25 Gy; u tiết ACTH: 18-22 Gy; u tiết PRL: 25-30 Gy; vùng cuống tuyến yên < 15 Gy; giao thoa thị giác < 8 Gy; xoang hang và dây III < 21 Gy).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực hiện nghiên cứu trên 73 bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch Mai:

  • Trình bày cụ thể tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ cho nhóm nghiên cứu bệnh học u tuyến yên và phân nhóm chỉ định xạ phẫu dao gamma quay.
  • Quy trình chuẩn bị bệnh nhân: cố định khung định vị lập thể Stereotactic dưới gây tê tại chỗ, chụp MRI sọ não độ phân giải cao có đối quang từ theo giao thức định vị không gian 3 chiều truyền dữ liệu định dạng DICOM sang hệ thống máy tính lập kế hoạch điều trị.
  • Xác định thể tích bia (PTV, GTV), tính toán đường đồng liều (isodose), tối ưu hóa liều xạ hội tụ vào khối u, đảm bảo liều hấp thu tại giao thoa thị giác luôn dưới ngưỡng an toàn (< 8 Gy).
  • Quy trình xét nghiệm hóa sinh miễn dịch định lượng hormon trước điều trị và quy chuẩn đánh giá đáp ứng tại các mốc 6, 12, 24, 36 tháng theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất.
  • Đảm bảo các nguyên tắc y đức trong nghiên cứu y sinh học, bảo mật thông tin bệnh nhân và tuân thủ quy trình chuyên môn kỹ thuật xạ phẫu.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung kết quả được cấu trúc thành các nhóm dữ liệu then chốt:

  • Đặc điểm chung của đối tượng: Phân bố 73 bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính, chỉ số thể khối BMI, tiền sử mắc kèm tăng huyết áp (theo JNC 7) và đái tháo đường; thời gian từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên đến khi vào viện; phân bố các lý do nhập viện chủ yếu.
  • Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước can thiệp:
    • Tỷ lệ các triệu chứng chèn ép thần kinh (đau đầu, nôn, buồn nôn, giảm thị lực, thu hẹp thị trường, phù gai thị, liệt dây thần kinh vận nhãn).
    • Tỷ lệ triệu chứng do rối loạn nội tiết (rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, tiết sữa ở nữ giới; suy giảm ham muốn, bất lực, vú to ở nam giới; hội chứng to đầu chi biến đổi xương mặt và đầu chi ở u tiết GH; kiểu hình Cushing ở u tiết ACTH).
    • Phân loại khối u theo kích thước: microadenoma (< 10 mm) và macroadenoma ($\ge$ 10 mm); đặc điểm tín hiệu khối u trên MRI (T1W, T2W, tính chất ngấm thuốc đối quang từ dynamic), tính chất xâm lấn sàn yên, xoang bướm, xoang hang và đè đẩy giao thoa thị giác.
    • Giá trị nồng độ trung vị các hormon tuyến yên (PRL, GH, ACTH, TSH, LH, FSH, FT4, Cortisol) phân tích theo thể bệnh và giới tính. Mối tương quan giữa kích thước u và nồng độ hormon.
  • Kết quả điều trị xạ phẫu bằng dao gamma quay:
    • Đặc điểm nhóm can thiệp xạ phẫu: tiền sử điều trị trước đó (phẫu thuật lấy u một phần, điều trị nội khoa thất bại, chưa can thiệp), phân bố liều xạ phẫu tối đa và liều ngoại vi theo kích thước và thể bệnh.
    • Biến đổi triệu chứng lâm sàng: mức độ thuyên giảm đau đầu, hồi phục thị lực, cải thiện chu kỳ kinh nguyệt và các dấu hiệu nội tiết sau 6, 12, 24, 36 tháng.
    • Đáp ứng về hình thái u trên MRI theo RECIST: tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn (CR), đáp ứng một phần (PR), bệnh ổn định (SD) và tiến triển (PD) tại các thời điểm theo dõi; so sánh mức độ thu nhỏ kích thước giữa u có hoạt tính và không hoạt tính nội tiết, giữa microadenoma và macroadenoma.
    • Đáp ứng về chức năng nội tiết: sự sụt giảm nồng độ trung bình các hormon tăng tiết (PRL, GH, ACTH) về giới hạn bình thường theo thời gian.
    • Biến chứng sau xạ phẫu: tỷ lệ phù não cấp tính, đau đầu thoáng qua, rối loạn chức năng thị giác mới xuất hiện, tỷ lệ suy tuyến yên (suy giáp, suy thượng thận, suy sinh dục) và mối liên quan với liều xạ phẫu.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả biện luận sâu sắc các phát hiện nghiên cứu trong sự đối chiếu với y văn trong nước và quốc tế:

  • So sánh cơ cấu tuổi, giới tính, tỷ lệ mắc các thể u (u tiết PRL chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm u tăng tiết, tiếp đến là u tiết GH và u không hoạt tính nội tiết) với các công bố của Daly A., Kuratsu J., Lê Thanh Huyền, Nguyễn Thanh Xuân, Phạm Hồng Thiện.
  • Bàn luận về giá trị chẩn đoán hình ảnh học của chụp MRI 1.5 Tesla trong việc xác định hướng xâm lấn của khối macroadenoma vào xoang hang, hố yên và đè đẩy giao thoa thị giác.
  • Biện luận về hiệu quả kiểm soát thể tích khối u: so sánh tỷ lệ thu nhỏ kích thước u của dao gamma quay ART-6000™ với các nghiên cứu của Tanaka S. (2010), Yazdani O., Mai Trọng Khoa (2013) và Nguyễn Quang Hùng (2013).
  • Phân tích động học sụt giảm nồng độ hormon sau xạ phẫu: giải thích sự đáp ứng chậm hơn của nồng độ hormon so với triệu chứng chèn ép cơ năng, cũng như sự khác biệt về độ nhạy xạ giữa u tiết PRL, GH và ACTH.
  • Đánh giá mức độ an toàn và biến chứng: phân tích cơ chế bảo vệ tổ chức não lành và giao thoa thị giác nhờ kỹ thuật quay 30 nguồn Co-60 đồng trục; bàn luận về tỷ lệ suy tuyến yên muộn sau xạ phẫu so với xạ trị gia tốc truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án cung cấp hệ thống số liệu lâm sàng, cận lâm sàng, nồng độ hormon và hình thái học trên cộng hưởng từ của 73 bệnh nhân u tuyến yên điều trị tại một trung tâm y học hạt nhân và ung bướu lớn ở Việt Nam.
  2. Làm sáng tỏ quy luật biến đổi động học của kích thước khối u (theo tiêu chuẩn RECIST) và nồng độ các hormon tuyến yên theo các mốc thời gian 6, 12, 24 và 36 tháng sau xạ phẫu dao gamma quay.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học chứng minh tính ưu việt của kỹ thuật xạ phẫu bằng dao gamma quay ART-6000™ trong việc kiểm soát khối u và giảm thiểu tổn thương mô não lành cũng như giao thoa thị giác.

Đóng góp về mặt thực tiễn và điều trị

  1. Xác lập quy trình chỉ định, lập kế hoạch điều trị và phân bố liều xạ phẫu tối ưu dựa trên bản chất mô bệnh học/nội tiết, thể tích khối u và khoảng cách an toàn tới giao thoa thị giác ($\ge$ 3 mm).
  2. Khẳng định xạ phẫu bằng dao gamma quay là phương pháp điều trị thay thế hoặc bổ trợ an toàn, hiệu quả cao đối với các trường hợp u tuyến yên sót sau phẫu thuật, tái phát, thất bại với điều trị nội khoa, hoặc bệnh nhân có chống chỉ định phẫu thuật mở/gây mê.
  3. Đề xuất quy trình theo dõi định kỳ sau xạ phẫu (thăm khám thần kinh, định lượng hormon tuyến yên, chụp MRI đối quang từ tại các mốc 6, 12, 24, 36 tháng) giúp phát hiện sớm biến chứng suy tuyến yên để kịp thời bổ sung liệu pháp hormon thay thế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Nghiên cứu thực hiện đơn trung tâm tại Bệnh viện Bạch Mai với cỡ mẫu 73 bệnh nhân theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chưa có nhóm chứng ngẫu nhiên đối đầu trực tiếp giữa các phương pháp điều trị.
    • Tiêu chuẩn lựa chọn giới hạn ở các khối u có đường kính lớn nhất < 50 mm và khoảng cách tới giao thoa thị giác $\ge$ 3 mm, do đó kết quả chưa đại diện cho các khối u kích thước khổng lồ hoặc u chèn ép dính sát giao thoa thị giác.
    • Thời gian theo dõi dọc tối đa dừng lại ở mốc 36 tháng, chưa đánh giá hết các biến chứng suy tuyến yên xuất hiện rất muộn sau 5-10 năm như trong xạ trị.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi dọc từ 5 đến 10 năm để đánh giá tỷ lệ kiểm soát khối u trọn đời và biến chứng nội tiết muộn.
    • Nghiên cứu kết hợp xạ phẫu phân liều (fractionated stereotactic radiosurgery) cho những khối u tuyến yên kích thước lớn hơn hoặc nằm sát giao thoa thị giác (< 3 mm).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị cao đối với:

  • Bác sĩ chuyên khoa Ung bướu, Y học hạt nhân và Xạ trị: Cung cấp thông số liều xạ phẫu chuẩn xác cho từng thể u tuyến yên (tiết PRL, GH, ACTH và không tăng tiết), kỹ thuật lập kế hoạch PTV/GTV và ngưỡng liều an toàn cho các cơ quan cảm thụ nguy cấp quanh hố yên.
  • Bác sĩ chuyên khoa Phẫu thuật thần kinh và Nội tiết: Cung cấp cơ sở phối hợp đa chuyên khoa trong chỉ định điều trị u tuyến yên sót sau mổ, tái phát hoặc kháng thuốc đồng vận dopamine.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Nội khoa, Thần kinh và Ung thư: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp lâm sàng, hình ảnh học MRI và xét nghiệm động học nội tiết.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ định xạ phẫu bằng dao gamma quay cho u tuyến yên trong nghiên cứu cần thỏa mãn điều kiện gì?

Bệnh nhân cần có chẩn đoán xác định u tuyến yên trên MRI, thuộc một trong các nhóm: sau phẫu thuật không lấy hết u, tái phát sau mổ, thất bại với điều trị nội khoa, già yếu chống chỉ định phẫu thuật/gây mê hoặc từ chối phẫu thuật mở. Khối u phải là u đơn độc, đường kính lớn nhất < 50 mm và khoảng cách từ bờ khối u đến giao thoa thị giác tối thiểu $\ge$ 3 mm.

2. Hệ thống dao gamma quay ART-6000™ có điểm gì khác biệt so với dao gamma cổ điển?

Dao gamma cổ điển sử dụng mũ collimator cố định với 201 nguồn Co-60. Hệ thống dao gamma quay ART-6000™ sử dụng 30 nguồn Co-60 cùng hệ thống ống chuẩn trực quay đồng trục quanh đầu bệnh nhân với tốc độ 2-4 vòng/phút, giúp giảm tỷ lệ tán xạ tia còn khoảng 2%, đạt suất liều 3 Gy/phút với độ lệch vị trí < 0,1 mm, không cần gắn mũ định hướng cố định nặng nề.

3. Nghiệm pháp nào được sử dụng trong luận án để chẩn đoán phân loại u tuyến yên tăng tiết GH và ACTH?

Đối với u tiết GH, luận án sử dụng nghiệm pháp dung nạp 75g glucose đường uống định lượng GH và IGF-1 sau 120 phút (tiêu chuẩn chẩn đoán khi GH > 1 ng/ml). Đối với u tiết ACTH, luận án áp dụng nghiệm pháp ức chế dexamethason 1 mg qua đêm, nghiệm pháp dexamethason liều thấp 2 ngày (0,5 mg mỗi 6 giờ trong 48 giờ) và nghiệm pháp dexamethason liều cao 2 ngày (2 mg mỗi 6 giờ trong 48 giờ).

4. Quy trình theo dõi bệnh nhân sau xạ phẫu được thực hiện tại những mốc thời gian nào và gồm những xét nghiệm gì?

Bệnh nhân được theo dõi định kỳ tại các thời điểm 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng và 36 tháng sau xạ phẫu. Nội dung kiểm tra bao gồm: đánh giá lâm sàng thần kinh và thị giác, xét nghiệm định lượng các hormon tuyến yên (GH, PRL, ACTH, TSH, LH, FSH, FT4, Cortisol) và chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não có tiêm đối quang từ để đo kích thước khối u theo tiêu chuẩn RECIST.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương là công trình nghiên cứu y học thực chứng chuyên sâu về ứng dụng xạ phẫu dao gamma quay trong điều trị u tuyến yên tại Việt Nam. Công trình đã phân tích toàn diện đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hình thái học cộng hưởng từ và chức năng nội tiết của 73 bệnh nhân trước và sau điều trị. Kết quả nghiên cứu chứng minh xạ phẫu dao gamma quay là phương pháp can thiệp có độ chính xác cao, hiệu quả kiểm soát khối u và cải thiện nồng độ hormon rõ rệt, đồng thời có tỷ lệ an toàn cao và hạn chế tổn thương cấu trúc thần kinh lân cận.