Tổng quan luận án
Bệnh động mạch vành (còn gọi là bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ mạn tính hay suy vành) là một trong những bệnh lý tim mạch phổ biến ở các nước phát triển và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng tại các quốc gia đang phát triển. Theo ước tính dịch tễ học, tại Hoa Kỳ có gần 7 triệu người mắc bệnh động mạch vành với biểu hiện đau thắt ngực ổn định và mỗi năm ghi nhận thêm khoảng 350.000 ca mắc mới. Tại Việt Nam, thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy số ca tử vong do bệnh động mạch vành lên tới 66.179 người mỗi năm.
Kỹ thuật can thiệp động mạch vành qua da (Percutaneous Coronary Intervention - PCI) được áp dụng lần đầu tiên từ năm 1977 và bắt đầu triển khai tại Việt Nam từ năm 1996. Riêng tại Viện Tim Mạch Việt Nam, trong giai đoạn 2000–2010 đã thực hiện can thiệp cho 6.427 bệnh nhân. Trong quy trình điều trị cho bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp động mạch vành qua da, liệu pháp chống ngưng tập tiểu cầu kép kết hợp giữa aspirin và clopidogrel được xem là phác đồ chuẩn nhằm ngăn ngừa biến chứng huyết khối tắc mạch và huyết khối trong stent. Mặc dù vậy, trên thực tế lâm sàng vẫn có một tỷ lệ bệnh nhân xuất hiện các biến cố tim mạch bất lợi dù đã tuân thủ điều trị đầy đủ. Vấn đề đáp ứng sinh học đối với thuốc chống ngưng tập tiểu cầu, đặc biệt là tình trạng không đáp ứng với clopidogrel, trở thành mối quan tâm lớn trong thực hành tim mạch can thiệp.
Tại thời điểm nghiên cứu, y văn trong nước đã có một số công trình khảo sát bước đầu về chỉ số ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen ở các nhóm đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào theo dõi dọc sự biến đổi đồng thời của cả ba chỉ số này ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định trước và sau can thiệp động mạch vành qua da có sử dụng clopidogrel qua các mốc thời gian cụ thể, cũng như đánh giá mối liên quan giữa các biến đổi này với đặc điểm lâm sàng, yếu tố nguy cơ tim mạch và mức độ đáp ứng thuốc.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá biến đổi độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu, nồng độ fibrinogen ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp động mạch vành qua da có sử dụng clopidogrel ở các thời điểm trước can thiệp và sau can thiệp 5 ngày, 3 tháng, 6 tháng.
- Xác định mối liên quan giữa độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu, nồng độ fibrinogen với một số yếu tố nguy cơ và đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp động mạch vành qua da có sử dụng clopidogrel ở các thời điểm trước can thiệp và sau can thiệp 5 ngày, 3 tháng, 6 tháng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Luận án thực hiện trên nhóm bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp động mạch vành qua da và điều trị kết hợp clopidogrel với aspirin tại Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội. Các mốc theo dõi kéo dài từ trước can thiệp đến 6 tháng sau can thiệp (trong đó có 79 bệnh nhân hoàn thành theo dõi đầy đủ ở tất cả các thời điểm). Công trình được bảo vệ tại Học viện Quân y vào tháng 12 năm 2017 thuộc chuyên ngành Nội tim mạch (Mã số: 62 72 01 41) dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Văn Thạch và TS. Đặng Lịch.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các nền tảng lý thuyết và y văn chuyên ngành liên quan đến bệnh động mạch vành, cơ chế đông máu, chức năng tiểu cầu và các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu:
- Lịch sử và phân loại đau thắt ngực: Khái niệm cơn đau thắt ngực được William Heberden mô tả lần đầu tiên cách đây hơn 220 năm. Về mặt lâm sàng, phân loại mức độ đau thắt ngực theo Hiệp hội Tim mạch Canada (CCS) do Campeau Lucien công bố năm 1976 được sử dụng rộng rãi, chia thành 4 mức độ từ I đến IV dựa trên mức độ hạn chế hoạt động thể lực. Cơ chế bệnh sinh của thiếu máu cục bộ cơ tim và tiến triển mảng xơ vữa động mạch được tổng hợp theo các mô hình của Mario Marzilli (2012) và Abrams, nhấn mạnh sự mất cân bằng giữa cung và cầu oxy cơ tim do mảng xơ vữa cố định gây hẹp lòng mạch trên 70% khi gắng sức hoặc trên 90% khi nghỉ ngơi.
- Yếu tố nguy cơ và chẩn đoán cận lâm sàng: Tổng quan các yếu tố nguy cơ tim mạch theo Nguyễn Thanh Hiền (2014), bao gồm các yếu tố không thay đổi được (tuổi, giới, tiền sử gia đình), các yếu tố thay đổi được (hút thuốc lá làm tăng nguy cơ 30–50%, tăng huyết áp làm tăng nguy cơ gấp 3 lần, đái tháo đường, rối loạn lipid máu gặp ở gần 67% bệnh nhân theo Hội Tim mạch Việt Nam 2008) và các yếu tố nguy cơ mới (CRP, fibrinogen, homocystein). Hệ thống cận lâm sàng gồm điện tâm đồ lúc nghỉ, nghiệm pháp gắng sức điện tâm đồ (tính chỉ số Duke), siêu âm tim, xạ hình tưới máu cơ tim (SPECT/Planar), chụp cắt lớp vi tính đa dãy mạch vành (CCTA có độ nhạy 93–97% và độ chuyên biệt 80–90%) và chụp động mạch vành qua da.
- Chỉ định can thiệp và điều trị chống ngưng tập tiểu cầu: Luận án trích dẫn các khuyến cáo can thiệp của Hội Tim mạch Việt Nam (2008) và tóm tắt chỉ định tái tưới máu theo Hội Tim mạch Châu Âu (ESC 2014 do Stephan Windecker công bố). Liệu pháp chống ngưng tập tiểu cầu kép với aspirin và ức chế P2Y12 (clopidogrel) là nền tảng bắt buộc duy trì tối thiểu 6 tháng đối với stent phủ thuốc thế hệ mới.
- Cơ chế phân tử của thuốc và chức năng tiểu cầu: Hoạt hóa tiểu cầu qua trung gian thụ thể GP IIb/IIIa và liên kết fibrinogen được mô tả theo Franchi F. (2015) và Gurbel P. Aspirin ức chế không hồi phục enzym cyclooxygenase-1 (COX-1) tại vị trí Serin 529, làm giảm tổng hợp Thromboxane A2 (TXA2). Clopidogrel là dẫn chất thienopyridin ức chế chọn lọc và không hồi phục thụ thể P2Y12 của ADP trên bề mặt tiểu cầu theo cơ chế được Thuy Anh Nguyen (2005) trình bày. Khoảng 85% clopidogrel bị bất hoạt bởi men esterase và 15% được chuyển hóa qua hệ Cytochrome P450 ở gan (đặc biệt là enzym CYP2C19). Sự tồn tại của alen đột biến CYP2C19*2 làm suy giảm nồng độ chất chuyển hóa có hoạt tính, dẫn đến hiện tượng giảm hoặc không đáp ứng thuốc trên lâm sàng.
- Các phương pháp đo độ ngưng tập tiểu cầu: Luận án phân tích 5 phương pháp chính theo Georgios J. (2011) gồm: ngưng tập quang học (Light Transmission Aggregometry - LTA theo nguyên lý Born 1962), đo phosphoryl hóa VASP, máy phân tích chức năng tiểu cầu PFA-100, đo trở kháng máu toàn phần (WBA) và hệ thống VerifyNow.
- Các nghiên cứu trong nước và quốc tế:
- Thử nghiệm CAPRIE so sánh clopidogrel 75 mg và aspirin 325 mg; thử nghiệm CHARISMA trên 15.603 bệnh nhân đánh giá liệu pháp kết hợp aspirin và clopidogrel so với đơn trị liệu.
- Nguyễn Thị Nữ và cộng sự (1997): Đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng LTA trên 135 người Việt Nam trưởng thành bình thường, ghi nhận chỉ số ngưng tập tối đa với collagen 1 mg/ml là 65,5 ± 6,7% và với ADP 10 µM là 67,0 ± 6,5%, không có sự khác biệt giữa hai giới.
- Vũ Hồng Điệp và cộng sự (2000): Nghiên cứu trên 111 người cao tuổi (60–89 tuổi), ghi nhận độ ngưng tập tiểu cầu với ADP 10 µM ở người bình thường là 62,03 ± 9,95%; nhóm có tăng huyết áp hoặc thiếu năng lượng trường diễn có độ ngưng tập cao hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
- Trương Quang Việt và cộng sự (2003): Nghiên cứu độ ngưng tập tiểu cầu ở bệnh nhân cao tuổi tăng huyết áp tại Bệnh viện Hữu Nghị.
Vị trí của luận án: Luận án đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về việc đánh giá động thái biến đổi đồng thời của độ ngưng tập tiểu cầu (bằng phương pháp đo quang học LTA với chất kích tập ADP), số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen theo thời gian thực (trước can thiệp, sau can thiệp 5 ngày, 3 tháng và 6 tháng) trên bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp đặt stent mạch vành tại Việt Nam, đồng thời xác định tỷ lệ không đáp ứng với clopidogrel và mối liên quan với biến cố tim mạch.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng trên cơ sở lý thuyết sinh lý bệnh học mạch vành, huyết học và dược lý học lâm sàng:
- Cơ chế kết tập tiểu cầu: Tiểu cầu bám dính vào lớp nội mạc tổn thương qua collagen và yếu tố von Willebrand, giải phóng ADP, TXA2 và thrombin, bộc lộ phức hợp thụ thể glycoprotein IIb/IIIa. Fibrinogen đóng vai trò cầu nối gắn kết các thụ thể GP IIb/IIIa giữa các tiểu cầu với nhau tạo thành cục huyết khối.
- Nguyên lý ức chế ngưng tập: Sử dụng liệu pháp kháng kết tập tiểu cầu kép gồm aspirin (liều 81–325 mg/ngày) và clopidogrel (liều nạp 300–600 mg, liều duy trì 75 mg/ngày).
- Tiêu chuẩn phân loại đáp ứng với clopidogrel: Tính theo mức giảm độ ngưng tập tiểu cầu quang học ($\Delta A$) trước và sau khi dùng thuốc với chất kích tập ADP 5 µMol/l:
$$\Delta A = \text{Độ NTTC trước dùng clopidogrel (%)} - \text{Độ NTTC sau dùng clopidogrel (%)}$$
- $\Delta A < 10%$: Không đáp ứng với thuốc (Nonresponsiveness).
- $\Delta A = 10% - 30%$: Đáp ứng trung bình (Intermediate responsiveness).
- $\Delta A > 30%$: Đáp ứng tốt (Responsiveness).
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc thuần tập có can thiệp lâm sàng.
- Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán đau thắt ngực ổn định, có chỉ định chụp và can thiệp động mạch vành qua da, đồng ý tham gia nghiên cứu và tuân thủ phác đồ điều trị.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tiền sử xuất huyết tiêu hóa đang tiến triển, rối loạn đông máu, số lượng tiểu cầu dưới $100 \times 10^9$/L, suy thận nặng, suy gan nặng, dị ứng với aspirin hoặc clopidogrel, hoặc không tuân thủ theo dõi.
- Quy trình kỹ thuật và thu thập dữ liệu:
- Đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp đo quang học (LTA) theo nguyên lý Born trên máy đo Chrono-Log CA-700 với chất kích tập ADP nồng độ 5 µMol/l.
- Đếm số lượng tiểu cầu bằng máy phân tích huyết học tự động.
- Định lượng nồng độ fibrinogen huyết tương bằng phương pháp đông máu theo tiêu chuẩn phòng xét nghiệm.
- Lấy mẫu máu và đánh giá tại 4 thời điểm: Thời điểm $T_0$ (trước khi dùng liều nạp clopidogrel và trước PCI), thời điểm $T_1$ (sau can thiệp 5 ngày), thời điểm $T_2$ (sau can thiệp 3 tháng) và thời điểm $T_3$ (sau can thiệp 6 tháng).
- Tiêu chuẩn lâm sàng áp dụng: Phân độ đau thắt ngực theo CCS; tăng huyết áp theo tiêu chuẩn JNC; rối loạn lipid máu theo NCEP-ATP III; đái tháo đường theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) và WHO; đánh giá chỉ số khối cơ thể (BMI).
- Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý bằng các thuật toán thống kê y học. Các biến số định lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình $\pm$ độ lệch chuẩn ($\bar{X} \pm SD$), so sánh bằng kiểm định t-student hoặc ANOVA; các biến số định tính trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm (%), so sánh bằng kiểm định $\chi^2$. Mối tương quan giữa các chỉ số được đánh giá qua hệ số tương quan r. Mức ý nghĩa thống kê được xác định khi p < 0,05.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tập trung trình bày tổng quan hệ thống về giải phẫu, sinh lý bệnh của đau thắt ngực ổn định, cơ chế hình thành mảng xơ vữa và huyết khối mạch vành. Tác giả phân tích chi tiết cơ chế tác dụng dược lý của aspirin (ức chế men COX-1) và clopidogrel (ức chế thụ thể P2Y12 qua chuyển hóa enzym CYP2C19 tại gan). Phân tích ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp xét nghiệm đo chức năng tiểu cầu hiện nay:
| Phương pháp xét nghiệm |
Nguyên lý đo |
Ưu điểm |
Nhược điểm |
| LTA (Light Transmission Aggregometry) |
Đo độ ngưng tập quang học trong huyết tương giàu tiểu cầu với chất kích tập ADP |
Tiêu chuẩn vàng, nhiều dữ liệu nghiên cứu đối chứng lâm sàng |
Tốn thời gian, chi phí cao, đòi hỏi kỹ thuật viên chuyên sâu, thiếu chuẩn hóa liên phòng |
| VASP |
Đo sự ức chế phosphoryl hóa của VASP qua dòng chảy tế bào |
Ổn định, có tính chuyên biệt cao cho thụ thể P2Y12 |
Đắt tiền, quy trình phức tạp, đòi hỏi trang thiết bị đo tế bào dòng chảy |
| PFA-100 |
Đo độ ngưng tập sau tạo cục máu đông qua màng lọc mao dẫn |
Nhanh chóng, thao tác đơn giản |
Phụ thuộc vào yếu tố von Willebrand và số lượng tiểu cầu, ít tương quan với LTA |
| WBA (Whole Blood Aggregometry) |
Đo độ ngưng tập bằng nguyên lý trở kháng giữa hai điện cực trong máu toàn phần |
Độ nhạy cao với thuốc chống ngưng tập, mẫu máu không cần chuẩn bị phức tạp |
Không đặc hiệu cho clopidogrel (phụ thuộc nhiều vào aspirin), ít tương quan với LTA |
| VerifyNow |
Đo độ ngưng tập trong hệ thống cartridge có sẵn fibrinogen và chất kích tập |
Nhanh, tự động, dễ sử dụng tại giường bệnh, tương quan nhiều với LTA |
Khó điều chỉnh độ chính xác ở mỗi lần đo, chi phí xét nghiệm cao |
Chương 1 cũng tổng kết các hướng dẫn điều trị can thiệp của Hội Tim mạch Việt Nam (2008), Hội Tim mạch Châu Âu (2014) và điểm lại các công trình nghiên cứu về chỉ số tiểu cầu trong nước (Nguyễn Thị Nữ, Vũ Hồng Điệp, Trương Quang Việt) và quốc tế (CAPRIE, CHARISMA).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu bệnh nhân đau thắt ngực ổn định tại Bệnh viện Hữu Nghị có chỉ định can thiệp động mạch vành qua da, bao gồm tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt. Tác giả trình bày phác đồ dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu kép chuẩn (aspirin kết hợp clopidogrel liều nạp trước thủ thuật và liều duy trì 75 mg/ngày kéo dài) cùng phác đồ chống đông trong can thiệp. Quy trình thực hiện xét nghiệm đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp quang học trên thiết bị Chrono-Log CA-700, phương pháp đếm số lượng tiểu cầu và định lượng fibrinogen được chuẩn hóa tại các thời điểm trước can thiệp, sau 5 ngày, sau 3 tháng và sau 6 tháng. Đồng thời, chương này thiết lập bảng phân loại mức độ đáp ứng với clopidogrel dựa trên giá trị $\Delta A$, quy chuẩn hóa các yếu tố nguy cơ tim mạch và quy trình bảo đảm y đức trong nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu cụ thể qua hệ thống bảng và biểu đồ số liệu:
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Phân bố về tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), tiền sử bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ (tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường týp 2, rối loạn chuyển hóa lipid). Thống kê đặc điểm tổn thương động mạch vành về số nhánh bị tổn thương, số nhánh được can thiệp và số lượng stent được đặt.
- Biến đổi các chỉ số xét nghiệm huyết học và đông máu:
- Độ ngưng tập tiểu cầu: Ghi nhận mức giảm rõ rệt sau khi sử dụng clopidogrel và can thiệp động mạch vành tại thời điểm 5 ngày so với trước can thiệp, tiếp tục duy trì ở mức thấp ổn định tại thời điểm 3 tháng và 6 tháng.
- Số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen: Thể hiện sự dao động và biến đổi có ý nghĩa thống kê giữa các thời điểm trước can thiệp và các mốc theo dõi 5 ngày, 3 tháng, 6 tháng sau can thiệp trên nhóm 79 bệnh nhân theo dõi đủ 6 tháng.
- Tỷ lệ không đáp ứng với clopidogrel: Xác định tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng ($\Delta A < 10%$), đáp ứng trung bình ($\Delta A$ từ 10–30%) và đáp ứng tốt ($\Delta A > 30%$) tại các thời điểm 5 ngày, 3 tháng và 6 tháng sau can thiệp. Đánh giá sự chuyển dịch mức độ đáp ứng thuốc giữa các mốc thời gian (từ 5 ngày sang 3 tháng và từ 3 tháng sang 6 tháng).
- Mối liên quan trước can thiệp: Phân tích độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu, nồng độ fibrinogen trước điều trị theo các phân nhóm giới tính, độ tuổi, số nhánh động mạch vành tổn thương, số stent can thiệp, tình trạng tăng huyết áp, hút thuốc lá, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, BMI và số lượng yếu tố nguy cơ phối hợp; xác định ma trận hệ số tương quan giữa các thông số.
- Mối liên quan sau can thiệp và biến cố lâm sàng: Khảo sát mối liên quan giữa độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu, nồng độ fibrinogen tại các thời điểm sau can thiệp với các yếu tố nguy cơ tim mạch và liều dùng clopidogrel. Thống kê tỷ lệ các biến cố tim mạch sau can thiệp trong vòng 6 tháng và phân tích mối liên quan giữa sự xuất hiện biến cố với mức độ đáp ứng clopidogrel của bệnh nhân.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung phân tích, lý giải các kết quả thu được và đối chiếu với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Bàn luận về đặc điểm dịch tễ học và giải phẫu bệnh: Phân tích cơ cấu tuổi, giới, chỉ số BMI, tỷ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch mắc kèm và đặc điểm tổn thương động mạch vành của nhóm nghiên cứu, so sánh với các nghiên cứu tim mạch can thiệp trước đó.
- Bàn luận về động thái biến đổi của các chỉ số: Phân tích nguyên nhân và cơ chế dẫn đến sự thay đổi độ ngưng tập tiểu cầu sau khi sử dụng clopidogrel, đánh giá ý nghĩa sinh học của biến đổi số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen trong quá trình can thiệp và phục hồi.
- Bàn luận về tình trạng không đáp ứng với clopidogrel: Phân tích các yếu tố liên quan đến hiện tượng kháng hoặc kém đáp ứng thuốc, bao gồm yếu tố lâm sàng (tuân thủ điều trị, hấp thu, tương tác thuốc), yếu tố tế bào (tốc độ luân chuyển tiểu cầu) và đặc biệt là yếu tố di truyền liên quan đến đa hình enzym chuyển hóa CYP2C19 (alen CYP2C19*2).
- Bàn luận về mối liên quan với yếu tố nguy cơ và biến cố lâm sàng: Đánh giá tác động cộng hưởng của các yếu tố nguy cơ tim mạch (đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, số lượng yếu tố nguy cơ tích lũy) lên hoạt tính tiểu cầu và fibrinogen; phân tích vai trò của việc theo dõi chức năng tiểu cầu trong dự báo nguy cơ huyết khối trong stent và biến cố tim mạch sau can thiệp động mạch vành qua da.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã tổng hợp và phân loại các mức độ đáp ứng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu clopidogrel theo tiêu chuẩn xét nghiệm ngưng tập quang học LTA:
| Mức độ đáp ứng với clopidogrel |
Tiêu chuẩn giá trị $\Delta A$ |
Đặc điểm sinh học và lâm sàng |
| Không đáp ứng (Nonresponsiveness) |
$\Delta A < 10%$ |
Mức ức chế tiểu cầu không đạt yêu cầu, tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối trong stent |
| Đáp ứng trung bình (Intermediate) |
$\Delta A = 10% - 30%$ |
Tiểu cầu bị ức chế ở mức độ vừa phải |
| Đáp ứng tốt (Responsiveness) |
$\Delta A > 30%$ |
Đạt hiệu quả ức chế ngưng tập tiểu cầu tối ưu theo mục tiêu điều trị |
Những đóng góp mới của luận án:
- Về mặt khoa học: Đây là công trình nghiên cứu cung cấp dữ liệu có hệ thống về sự biến đổi theo thời gian của độ ngưng tập tiểu cầu (đo bằng phương pháp quang học LTA với chất kích tập ADP 5 µMol/l), số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen trên cùng một nhóm bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp động mạch vành qua da tại Việt Nam ở các mốc thời gian: trước can thiệp, sau 5 ngày, 3 tháng và 6 tháng.
- Về mặt thực tiễn: Xác định được tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng với clopidogrel ở các thời điểm sau can thiệp và chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng không đáp ứng thuốc với nguy cơ xuất hiện biến cố tim mạch sau 6 tháng can thiệp động mạch vành. Kết quả nghiên cứu chứng minh mối tương quan giữa độ ngưng tập tiểu cầu, nồng độ fibrinogen với số lượng các yếu tố nguy cơ tim mạch và mức độ tổn thương động mạch vành.
Kiến nghị đề xuất từ luận án:
- Khuyến nghị áp dụng xét nghiệm đánh giá độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp đo quang học để theo dõi đáp ứng điều trị clopidogrel ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định sau can thiệp động mạch vành qua da, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao hoặc mang nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp.
- Cần phát hiện sớm các trường hợp không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với clopidogrel để kịp thời có chiến lược điều chỉnh liều hoặc chuyển đổi sang các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu ức chế P2Y12 thế hệ mới nhằm giảm thiểu biến cố tim mạch sau can thiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Nghiên cứu được thực hiện đơn trung tâm tại Bệnh viện Hữu Nghị với cỡ mẫu theo dõi dọc hoàn chỉnh đủ 6 tháng là 79 bệnh nhân.
- Luận án chưa tiến hành phân tích đồng thời kiểu gen chuyển hóa CYP2C19 (như alen CYP2C19*2) trên toàn bộ nhóm đối tượng để đối chiếu tương quan trực tiếp giữa đặc điểm di truyền học và mức độ biến đổi chức năng tiểu cầu trên xét nghiệm ngưng tập quang học.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô nghiên cứu đa trung tâm trên cỡ mẫu lớn hơn và kéo dài thời gian theo dõi sau can thiệp (12 tháng đến 24 tháng) để đánh giá toàn diện các biến cố tim mạch dài hạn.
- Kết hợp xét nghiệm đo chức năng ngưng tập tiểu cầu với kỹ thuật giải trình tự gen xác định các alen đột biến của hệ enzym CYP2C19 nhằm xây dựng mô hình cá thể hóa phác đồ điều trị chống ngưng tập tiểu cầu cho người bệnh tim mạch tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo và điều trị:
- Đối với bác sĩ lâm sàng tim mạch và tim mạch can thiệp: Cung cấp cơ sở định lượng về sự biến đổi độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen sau đặt stent mạch vành, hỗ trợ đánh giá nguy cơ huyết khối và xây dựng chiến lược dùng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu hợp lý.
- Đối với học viên sau đại học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Nội tim mạch, Huyết học - Truyền máu: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng nguyên lý quang học LTA của Born, thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập và các thang điểm phân loại nguy cơ tim mạch quốc tế (CCS, JNC, NCEP-ATP III, ESC).
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu thực hiện đánh giá các chỉ số xét nghiệm tại những mốc thời gian nào?
Nghiên cứu tiến hành thu thập mẫu máu và đánh giá độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu, nồng độ fibrinogen tại 4 thời điểm: trước khi điều trị clopidogrel và can thiệp động mạch vành ($T_0$), sau can thiệp 5 ngày ($T_1$), sau can thiệp 3 tháng ($T_2$) và sau can thiệp 6 tháng ($T_3$).
2. Tiêu chuẩn xác định bệnh nhân không đáp ứng với clopidogrel trong luận án là gì?
Tình trạng đáp ứng với clopidogrel được đánh giá dựa trên hiệu số giảm độ ngưng tập tiểu cầu quang học ($\Delta A$) trước và sau điều trị với chất kích tập ADP 5 µMol/l. Bệnh nhân được phân loại là không đáp ứng với clopidogrel khi giá trị $\Delta A < 10%$.
3. Cơ chế tác dụng chống ngưng tập tiểu cầu của aspirin và clopidogrel khác nhau như thế nào?
Aspirin gắn vào men cyclooxygenase-1 (COX-1) tại vị trí Serin 529 của tiểu cầu, gây ức chế không hồi phục enzym này và ngăn cản quá trình chuyển đổi acid arachidonic thành Thromboxane A2 (TXA2). Trong khi đó, clopidogrel là tiền chất sau khi qua chuyển hóa tại gan bởi enzym CYP2C19 sẽ tạo ra chất có hoạt tính ức chế chọn lọc và không hồi phục thụ thể P2Y12 của ADP trên màng tiểu cầu, ngăn chặn sự hoạt hóa phức hợp thụ thể GP IIb/IIIa.
4. Fibrinogen đóng vai trò gì trong quá trình ngưng tập tiểu cầu?
Khi tiểu cầu được hoạt hóa, thụ thể glycoprotein GP IIb/IIIa bộc lộ trên bề mặt màng tế bào sẽ liên kết với fibrinogen huyết tương. Nhờ có nồng độ cao trong huyết tương và ái lực mạnh với GP IIb/IIIa, fibrinogen đóng vai trò như chiếc cầu nối gắn kết các tiểu cầu hoạt hóa lại với nhau tạo thành mạng lưới ngưng tập tiểu cầu.
5. Luận án đã tổng quan những phương pháp đo chức năng tiểu cầu nào để đánh giá thuốc kháng P2Y12?
Luận án tổng quan 5 phương pháp chính gồm: Đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp quang học (LTA) trong huyết tương giàu tiểu cầu với chất kích tập ADP, đo sự ức chế phosphoryl hóa VASP bằng máy dòng chảy tế bào, đo chức năng tiểu cầu qua máy phân tích PFA-100, đo độ ngưng tập trở kháng trong máu toàn phần (WBA) và hệ thống đo tự động VerifyNow.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hải Hà đã nghiên cứu có hệ thống về sự biến đổi độ ngưng tập tiểu cầu, số lượng tiểu cầu và nồng độ fibrinogen ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định được can thiệp động mạch vành qua da có sử dụng clopidogrel qua các mốc thời gian từ trước can thiệp đến 6 tháng sau can thiệp. Kết quả nghiên cứu đã xác định được động thái ức chế ngưng tập tiểu cầu của clopidogrel, tỷ lệ bệnh nhân không đáp ứng với thuốc theo tiêu chuẩn $\Delta A$ và mối liên quan có ý nghĩa giữa tình trạng không đáp ứng thuốc với các biến cố tim mạch sau can thiệp. Đây là công trình khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn chuyên ngành Nội tim mạch, cung cấp thêm bằng chứng lâm sàng hỗ trợ việc theo dõi chức năng tiểu cầu và tối ưu hóa phác đồ điều trị chống kết tập tiểu cầu kép cho bệnh nhân tim mạch can thiệp tại Việt Nam.