Nghiên cứu biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm một số biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da tại viện tim, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội Tim mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2014

147
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH

1.1.1. Tình hình mắc bệnh động mạch vành

1.1.1.1. Trên thế giới
1.1.1.2. Ở Việt Nam

1.1.2. Giải phẫu động mạch vành

1.1.2.1. Thân chung động mạch vành trái
1.1.2.2. Động mạch liên thất trước
1.1.2.3. Động mạch mũ
1.1.2.4. Động mạch vành phải

1.1.3. Phân loại bệnh động mạch vành

1.1.4. Cơ chế bệnh sinh

1.1.4.1. Nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên
1.1.4.2. Nhồi máu cơ tim không có đoạn ST chênh lên và đau thắt ngực không ổn định

1.1.5. Rối loạn về huyết động

1.1.6. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH

1.1.6.1. Điều trị nội khoa
1.1.6.1.1. Nhóm thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu
1.1.6.1.2. Nhóm thuốc chống đông
1.1.6.1.3. Nhóm thuốc tiêu huyết khối
1.1.6.1.4. Nhóm thuốc nitrate
1.1.6.1.5. Nhóm thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm
1.1.6.1.6. Nhóm thuốc ức chế men chuyển
1.1.6.1.7. Nhóm thuốc chẹn dòng canxi
1.1.6.1.8. Nhóm thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu
1.1.6.2. Phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành
1.1.6.2.1. Phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành cấp cứu
1.1.6.2.2. Phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành có chuẩn bị
1.1.6.3. Can thiệp động mạch vành qua da (PCI)
1.1.6.3.1. Lịch sử
1.1.6.3.2. Sơ lược về thủ thuật can thiệp

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu biến chứng can thiệp động mạch vành qua da tại Việt Nam

Nghiên cứu biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da (PCI) tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực y học. Bệnh động mạch vành (ĐMV) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc hiểu rõ các biến chứng có thể xảy ra trong thời gian đầu sau can thiệp là rất cần thiết để cải thiện kết quả điều trị và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

1.1. Tình hình bệnh động mạch vành tại Việt Nam

Bệnh động mạch vành đang gia tăng nhanh chóng tại Việt Nam, với tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim (NMCT) ngày càng cao. Theo thống kê, tỷ lệ bệnh nhân nhập viện vì NMCT đã tăng từ 11,2% năm 2003 lên 24% năm 2007. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về các biến chứng trong quá trình can thiệp.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu biến chứng trong can thiệp động mạch vành

Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định tỷ lệ và đặc điểm của các biến chứng mà còn đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan. Việc này sẽ cung cấp thông tin quý giá cho các bác sĩ trong việc quản lý và điều trị bệnh nhân sau can thiệp.

II. Các thách thức trong nghiên cứu biến chứng can thiệp động mạch vành qua da

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong kỹ thuật can thiệp động mạch vành, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc nghiên cứu và quản lý biến chứng. Các biến chứng có thể xảy ra ngay trong 24 giờ đầu sau can thiệp, bao gồm tử vong, nhồi máu cơ tim cấp, và các rối loạn nhịp tim.

2.1. Tỷ lệ biến chứng và tử vong sau can thiệp

Theo thống kê, tỷ lệ tử vong sau can thiệp động mạch vành qua da dao động từ 0,4% đến 1,9%. Tỷ lệ này có thể tăng lên 5% khi bệnh nhân gặp sốc tim. Việc nắm rõ tỷ lệ này giúp các bác sĩ có cái nhìn tổng quan về rủi ro khi thực hiện thủ thuật.

2.2. Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến biến chứng

Nhiều yếu tố nguy cơ như tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng quát, và các bệnh lý nền có thể ảnh hưởng đến khả năng xảy ra biến chứng. Việc đánh giá các yếu tố này là rất quan trọng để giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

III. Phương pháp nghiên cứu biến chứng trong can thiệp động mạch vành qua da

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu để xác định tỷ lệ và đặc điểm của các biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp. Các thang điểm như Mayo Clinic Risk Score và New York Risk Score được áp dụng để đánh giá nguy cơ biến chứng.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu, thu thập dữ liệu từ các bệnh nhân đã thực hiện PCI tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam. Dữ liệu bao gồm thông tin về biến chứng, tình trạng sức khỏe và các yếu tố nguy cơ.

3.2. Phân tích dữ liệu và đánh giá kết quả

Dữ liệu được phân tích bằng các phần mềm thống kê hiện đại để xác định tỷ lệ biến chứng và mối liên hệ với các yếu tố nguy cơ. Kết quả sẽ giúp đưa ra những khuyến nghị cho việc quản lý bệnh nhân sau can thiệp.

IV. Kết quả nghiên cứu biến chứng trong can thiệp động mạch vành qua da

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da là một vấn đề đáng lo ngại. Các biến chứng thường gặp bao gồm tử vong, nhồi máu cơ tim cấp và rối loạn nhịp tim.

4.1. Tỷ lệ biến chứng và đặc điểm lâm sàng

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tử vong là 5,1%, trong khi tỷ lệ nhồi máu cơ tim cấp là 3,6%. Những con số này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

4.2. Đánh giá hiệu quả của các thang điểm nguy cơ

Việc áp dụng Mayo Clinic Risk Score và New York Risk Score đã giúp xác định được các bệnh nhân có nguy cơ cao hơn, từ đó có thể đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu biến chứng can thiệp động mạch vành

Nghiên cứu về biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da tại Việt Nam là rất cần thiết để cải thiện chất lượng điều trị. Các kết quả thu được sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo và giúp nâng cao hiệu quả can thiệp.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn các yếu tố nguy cơ và phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân can thiệp động mạch vành.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị bệnh động mạch vành

Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc phát triển các công nghệ mới và cải tiến kỹ thuật can thiệp để giảm thiểu biến chứng và nâng cao tỷ lệ thành công.

26/06/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm một số biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da tại viện tim mạch quốc gia việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, bệnh động mạch vành (ĐMV) là căn nguyên tử vong lớn nhất và cũng là nguyên nhân chính trong gánh nặng bệnh tật tại các nước đang phát triển. Hàng năm, tại Hoa Kỳ có trên 700.000 người phải nhập viện do nhồi máu cơ tim (NMCT), và có 50% số bệnh nhân NMCT cấp đã tử vong trước khi đến bệnh viện. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong do NMCT cấp chiếm 7% trong một bệnh viện có đơn vị can thiệp động mạch vành, và 33% trong một bệnh viện không có đơn vị can thiệp mạch vành [37], [149]. Ở Việt Nam, theo thống kê của Phạm Việt Tuân, tỷ lệ bệnh ĐMV điều trị tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam có xu hướng gia tăng rõ rệt: 11,2% năm 2003, tăng lên 24% trong tổng số các bệnh nhân nhập viện năm 2007 [14].

Mặc dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị trong các thập kỷ qua, bệnh ĐMV đặc biệt là NMCT vẫn là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng được quan tâm ở các nước phát triển và ngày càng trở nên quan trọng hơn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [6]. Can thiệp động mạch vành qua da (PCI) được Andreas Grüntzig thực hiện lần đầu tiên năm 1977 tại Zurich (Thụy Sĩ), cho đến nay đã có nhiều bước tiến bộ vượt bậc mang lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh ĐMV [101], [144]. Là thủ thuật xâm lấn, phương pháp PCI có thể xảy ra nhiều biến chứng trong quá trình thực hiện thủ thuật, thậm trí có nguy cơ tử vong. Theo thống kê những năm gần đây, mỗi năm tại Hoa Kỳ có trên 1 triệu người bệnh được PCI, và cho thấy tỷ lệ các biến chứng liên quan đến thủ thuật: tử vong từ 0,4% - 1,9%, tăng lên 5,0% khi có sốc tim; tắc ĐMV cấp từ 0,4% - 4,9%; phẫu thuật bắc cầu nối chủ-vành cấp cứu từ 0,4 - 3,7% [29].

Phương pháp PCI bắt đầu được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1996 bằng 2 thủ thuật: nong tổn thương ĐMV bằng bóng và đặt Stent trong ĐMV [4]. Theo một báo cáo của Phạm Gia Khải và cộng sự về 516 trường hợp PCI tại 4 Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam từ năm 2003 đến 2004 cho thấy: tỷ lệ thành công đạt 92,4%; tỷ lệ một số biến chứng liên quan đến thủ thuật như: tử vong (5,1%), rối loạn nhịp tim (1,2%), tắc ĐMV cấp (3,6%) [4]. Một thống kê khác của Khoa Tim mạch can thiệp Bệnh viện Chợ Rẫy về 920 trường hợp PCI từ năm 2007 đến 2008 cho thấy tỷ lệ thành công chung đạt 95,3%; tỷ lệ các biến chứng của thủ thuật bao gồm: tử vong và NMCT (6,8%), bệnh thận do thuốc cản quang (3,6%), chảy máu tại đường vào động mạch (2,0%) [3]. Yếu tố nguy cơ trong PCI đóng vai trò rất quan trọng, nó góp phần sự thành công và thất bại trong thủ thuật can thiệp ĐMV.

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ, từ các nghiên cứu này, nhiều hệ thống điểm nguy cơ dự báo biến chứng và tử vong hình thành và đã được áp dụng tại nhiều Trung tâm Tim mạch can thiệp như: Mayo Clinic Risk Score, Euro Score, New York Risk Score, SYNTAX Score… [36]. Do vậy, đối với người thầy thuốc khi tiến hành PCI, bên cạnh sự hoàn thiện và tiến bộ về kỹ thuật, cần phải nắm bắt nhanh chóng khả năng các biến chứng xảy ra cũng như đánh giá một cách đầy đủ các yếu tố nguy cơ đối với người bệnh. Những biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp ĐMV qua da chưa được nghiên cứu có hệ thống ở Việt Nam. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm một số biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam” nhằm 3 mục tiêu sau: 1.

Phân tích tỷ lệ, đặc điểm một số biến chứng thƣờng gặp và tử vong trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da. Xác định một số yếu tố nguy cơ có liên quan đến biến chứng và tử vong trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da thông qua thang điểm Mayo Clinic Risk Score và New York Risk Score. Bƣớc đầu đánh giá điểm nguy cơ dự báo biến chứng và tử vong trong can thiệp động mạch vành qua da bằng áp dụng thang điểm Mayo Clinic Risk Score và New York Risk Score. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1.

TỔNG QUAN BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH 1. Tình hình mắc bệnh động mạch vành 1. Trên thế giới Ước tính hiện tại ở Hoa Kỳ có gần 7 triệu người bị bệnh ĐMV, hàng năm có thêm khoảng 350.000 người bị đau thắt ngực mới. Tại châu Âu mỗi năm có khoảng 600.000 người tử vong do bệnh ĐMV và một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong [29].

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 1999 về tỷ lệ tử vong do bệnh ĐMV ở một số nước ở châu Á: Trung Quốc (8,6%), Ấn Độ (12,5%), các nước châu Á khác (8,3%) [147]. Cũng theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2001 về tỷ lệ mới mắc bệnh ĐMV ở một số nước phát triển: Hoa Kỳ (3,03%), Pháp (3,57%), Đức (3,91%), Anh (3,69%), Italia (4,12%) [149]. Ở Việt Nam Theo thống kê của Viện Tim mạch Quốc gia Việt nam về số BN nhập viện vì NMCT: trong 10 năm (từ 1980 đến 1990) có 108 BN, nhưng trong vòng 5 năm (từ 1991 đến 1995) đã có 82 BN [26]. Nghiên cứu của Phạm Việt Tuân và Nguyễn Lân Việt: trong vòng 5 năm (từ 2003 đến 2007) tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam đã có 3.662 người nhập viện vì NMCT [14].

Mặc dù các nước phát triển đã có những kế hoạch phòng chống bệnh rất tích cực. Tuy vậy, do sự tích lũy về tuổi, dân số và tỷ lệ mới mắc nên bệnh suất và tử suất do bệnh ĐMV vẫn chiếm một tỷ lệ hàng đầu trong mô hình bệnh tật. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bệnh ĐMV đang có xu hướng gia tăng nhanh và làm thay đổi trong mô hình bệnh tim mạch [6]. Giải phẫu động mạch vành Động mạch đến nuôi cơ tim được gọi là động mạch vành.

ĐMV gồm có hai ĐM chính: ĐMV trái và ĐMV phải, đều xuất phát từ gốc động mạch chủ 6 đến cung cấp máu cho cơ tim và lớp thượng tâm mạc, còn lớp nội tâm mạc và mô dưới nội tâm mạc nhận oxy và các chất dinh dưỡng trực tiếp từ máu trong các buồng tim thông qua hiện tượng khuếch tán hoặc vi tuần hoàn [10]. Giải phẫu động mạch vành, mặt trƣớc bên * Nguồn: Trịnh Văn Minh (2006) [10] 1. Thân chung động mạch vành trái Xuất phát từ phần trên của xoang Valsalva vành trái, đi giữa ĐM phổi và tiểu nhĩ trái đến rãnh liên thất trước rồi chia thành hai nhánh: ĐM liên thất trước và ĐM mũ. Thân chung có chiều dài trung bình từ 1 - 3 cm, nó cung cấp máu cho thành trước bên của tim [10].

Động mạch liên thất trước Xuất phát từ thân chung ĐMV trái, đi dọc theo rãnh liên thất trước tới mỏm tim. Trong 78% các trường hợp, ĐM liên thất trước đi qua mỏm thất trái tới rãnh liên thất sau cấp máu cho mỏm tim, thất trái và một phần thất phải. ĐM liên thất trước phân chia các nhánh chéo và các nhánh vách: các nhánh chéo tách ra từ ĐM liên thất trước, đi qua mặt trước bên của tim, khoảng 90% các trường hợp có từ 1 - 3 nhánh chéo cấp máu cho thành tự do của thất trái ở 7 mặt trước và mặt bên. Các nhánh vách tách ra từ ĐM liên thất trước, đi thẳng vào vách liên thất [10].

Động mạch mũ Xuất phát từ chỗ chia nhánh của thân chung ĐMV trái, đi qua rãnh nhĩ thất rồi phân chia 1 - 3 nhánh bờ và 1 - 2 nhánh nhĩ: các nhánh bờ cấp máu cho mặt bên thành tự do của thất trái, các nhánh nhĩ cấp máu cho mặt bên và mặt trước của nhĩ trái [10]. Giải phẫu động mạch vành, mặt hoành * Nguồn: Trịnh Văn Minh (2006) [10] 1. Động mạch vành phải Xuất phát từ bên phải gốc động mạch chủ, thấp hơn một ít so với thân chung ĐMV trái, đi qua rãnh nhĩ thất bên phải. Ở đoạn gần, ĐMV phải cho một nhánh vào tâm nhĩ gọi là ĐM nút xoang, và một nhánh vào thất phải gọi là ĐM phễu, rồi vòng ra bờ phải tới chữ thập của tim chia thành hai nhánh: ĐM liên thất sau và ĐM quặt ngược thất trái [10].

Phân loại bệnh động mạch vành Theo khuyến cáo của hội Tim mạch học Việt Nam về các bệnh lý Tim mạch và Chuyển hoá giai đoạn 2006 - 2010, phân loại bệnh ĐMV bao gồm: 8 * Hội chứng động mạch vành cấp: từ khi có sự ra đời các biện pháp tái tưới máu trong giai đoạn cấp của NMCT (dùng thuốc tiêu huyết khối hoặc can thiệp ĐMV thì đầu), và đặc biệt có khả năng định lượng được các dấu ấn sinh học đặc hiệu của hoại tử cơ tim (troponin I và T), đã có một định nghĩa mới về hội chứng ĐMV cấp: - Hội chứng ĐMV cấp có đoạn ST chênh lên liên tục hay NMCT cấp có đoạn ST chênh lên. - Hội chứng ĐMV cấp không có đoạn ST chênh lên hay NMCT không có đoạn ST chênh lên và đau thắt ngực không ổn định [22], [24]. * Đau thắt ngực ổn định: còn được gọi là bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính hay suy vành, đã được William Heberden mô tả lần đầu tiên và đưa ra thuật ngữ “đau thắt ngực” cách đây hơn 220 năm [18]. Hội chứng động mạch vành cấp Thuật ngữ hội chứng ĐMV cấp mô tả tất cả những BN có biểu hiện thiếu máu cơ tim cấp tính.

Trong đó bao gồm NMCT cấp có đoạn ST chênh lên, NMCT cấp không có đoạn ST chênh lên và đau thắt ngực không ổn định [22]. Cơ chế bệnh sinh * Nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên: đặc trưng bởi sự tắc cấp tính hoàn toàn lòng ĐMV và thường gặp trong những giờ đầu của NMCT. Hiện tượng tắc hoàn toàn lòng ĐMV sẽ giảm đi theo thời gian vì có sự tiêu sợi huyết tự nhiên của cơ thể, khi đó chụp ĐMV chỉ thấy hình ảnh huyết khối trong lòng ĐMV. Có khoảng 2/3 đến 3/4 các huyết khối này là do mảng xơ vữa không ổn định vỡ ra đột ngột.

Khi mảng xơ vữa bị nứt vỡ, lớp dưới nội mạc lộ ra và tiếp xúc với tiểu cầu, dẫn đến hoạt hóa các thụ thể IIb/IIIa trên bề mặt tiểu cầu và hoạt hóa quá trình ngưng tập của tiểu cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biến chứng có thể xảy ra trong giai đoạn đầu sau khi thực hiện can thiệp động mạch vành qua da. Nghiên cứu này không chỉ giúp các bác sĩ và chuyên gia y tế hiểu rõ hơn về các rủi ro liên quan mà còn cung cấp thông tin quý giá để cải thiện quy trình chăm sóc bệnh nhân. Những phát hiện từ nghiên cứu có thể dẫn đến việc tối ưu hóa các biện pháp phòng ngừa và điều trị, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến y tế và điều trị, bạn có thể tham khảo tài liệu 1772 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thư trực tràng tại bv đại học y dược cần thơ năm 2014 2015, nơi cung cấp thông tin về điều trị ung thư, hay Luận văn kết quả can thiệp nâng cao chất lượng sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh lạng sơn, giúp bạn hiểu rõ hơn về việc nâng cao chất lượng điều trị tại các cơ sở y tế. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ khảo sát đặc điểm giải phẫu mạch máu thần kinh xương hàm dưới ở người việt cũng sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về giải phẫu, hỗ trợ cho việc nghiên cứu và điều trị trong lĩnh vực y học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề y tế quan trọng.