Đặt vấn đề Cá rô phi là đối tƣợng đƣợc nuôi phổ biến ở nhiều quốc gia với các hình thức nuôi khác nhau. Trong đó hình thức nuôi thâm canh với mật độ cao, sản lƣợng lớn là phổ biến nhất. Với những ƣu điểm nhƣ cá ít bị sốc với biến đổi của môi trƣờng và có khả năng kháng đƣợc một số bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lƣợng quá cao, giá thành sản xuất thấp nên các quốc gia đang phát triển đặc biệt chú trọng đến phát triển nuôi loài cá này. Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản năm 2015, tổng sản lƣợng cá rô phi các vùng trên cả nƣớc là 187.800 tấn, diện tích đạt 25.465m3 lồng nuôi, giá trị ƣớc đạt 4.200 tỷ đồng, tƣơng đƣơng 200 triệu USD, chiếm khoảng 3% giá trị nuôi trồng thủy sản.
Xuất khẩu cá rô phi năm 2015 hơn 27,5 triệu USD, với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khi tiêu thụ cá rô phi tại thị trƣờng nội địa tiếp tục phát triển với khoảng 160 nghìn tấn. Tuy nhiên, khi phát triển nuôi cá rô phi với mật độ cao và nuôi thâm canh thì cũng phát hiện một số bệnh ảnh hƣởng đến năng suất và chất lƣợng thực phẩm. Qua nghiên cứu, ngƣời ta đã chỉ ra rằng bệnh ở cá rô phi chủ yếu là do vi khuẩn, vi rút, nấm, và ký sinh trùng (Shoemaker và cs. Đặc biệt là bệnh do dovi khuẩn Streptococcus spp.
(liên cầu khuẩn) gây ra là nguyên nhân gây nên thiệt hại lớn cho cá rô phi nói riêng và cá nƣớc ngọt nói chung, làm ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh tế của ngành nuôi trồng thủy sản. Theo thống kê thì liên cầu khuẩn gây bệnh trên cá chủ yếu là hai loài Streptococcus iniae và Streptococcus agalactiae. Ở Việt Nam năm 2009-2010, đã xảy ra dịch bệnh gây chết hàng loạt cá rô phi nuôi thƣơng phẩm (tới 90-100% cá trong ao), tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dƣơng, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Hà n 2 Giang. Đây đƣợc coi là đợt dịch lớn nhất từ trƣớc đến nay đối với nghề nuôi cá rô phi ở nƣớc ta và nghiên cứu bƣớc đầu đã xác định đƣợc đây là bệnh Streptococcosis do liên cầu khuẩn Gram (+) Streptococcus spp gây ra (Nguyễn Viết Khuê và cs.
Xuất phát từ tình hình dịch bệnh thực tế của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi cá Rô phi trong nƣớc ngày càng phát triển, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về vi khuẩn Streptococcus spp. gây bệnh xuất huyết trên cá rô phi là một vấn đề cần thiết và cấp bách. Các kết quả có đƣợc từ nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của vi khuẩn này, từ đó giúp các nhà chăn nuôi chủ động đƣợc các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Đƣợc sự hƣớng dẫn tận tình của cô giáo TS.
Hồ Thị Bích Ngọc, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:“Tình hình mắc bệnh xuất huyết do vi khuẩn Streptococcus spp gây ra ở cá Rô phi nuôi tại Hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc và thử nghiệm phác đồ điều trị”. Mục tiêu yêu cầu đề tài 1. Mục tiêu - Đánh giá đƣợc tình hình mắc bệnh xuất huyết xảy ra trên cá rô phi nuôi tại Hợp tác xã thủy sản Núi cốc. Điều tra bám sát thực tế, phân tích tình hình dịch bệnh, tiến hành chẩn trị bệnh xảy ra trên đàn cá nuôi tại Hợp tác xã thủy sản Núi cốc.
Đề xuất những biện pháp phòng và chữa bệnh xuất huyết ở cá rô phi cótính khả thi, phù hợp. Yêu cầu đề tài - Xác định đƣợc tỷ lệ cá mắc và chết do bệnh xuất huyết tại địa điểm nghiên cứu, qua các tháng điều tra ở các lứa tuổi. -Tìm và phân lập đƣợc vi khuẩn Streptococcus spp. từ các mẫu bệnh phẩm thu thập đƣợc đánh giá xác định một số đặc điểm sinh vật học, hóa học cơ bản của các chủng Streptococcus spp.
phân lập đƣợc từ đó đƣa ra đƣợc n 3 phác đồ điều trị phù hợp nhất. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Là công trình nghiên cứu có hệ thống về tính sinh vật, hóa học của các chủng vi khuẩn S.agalactiae gây xuất huyết ở cá rô phi. - Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý, biến đổi lâm sàng, biến đổi bệnh lý của cá rô phi mắc bệnh xuất huyết.
-Kết quả của đề tài góp phần đƣa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào thực tiến sản xuất, đồng thời góp phần thêm tƣ liệu tham khảo cho nghiên cứu tiếp theo.Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác định các biện pháp phòng trị bệnh cho cá rô phi đạt hiệu quả. -Sử dụng phác đồ điều trị cá rô phi mắc bệnh xuất huyết có hiệu quả cao góp phần nâng cao số lƣợng và chất lƣợng đàn cá nuôi tại HTX Thủy sản Núi Cốc. - Đáp ứng nhu cầu tiễn sản xuất, nâng cao năng suất đàn cá rô phi, góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Đóng góp thêm tƣ liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy, cho cán bộ thú y cơ sở và ngƣời chăn nuôi.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.Cơ sở khoa học 2.Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi 2. Phân loại Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, hiện chúng đƣợc nuôi tại hơn 100 quốc gia trên thế giới. Dựa vào đặc điểm sinh sản và hình thái học ngƣời ta chia cá rô phi thành 3 giống (Trewavas, 1983) [29]: giống Tilapia đẻ trứng bám vào giá thể; Giống Sarotherodon cá đực hay cá cái ấp trứng trong miệng; Giống Oreochromis cá cái ấp trứng trong miệng. Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 80 loài cá rô phi dòng cichlidae nhƣng chỉ có khoảng 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng thủy sản (Macintosh và Little, 1995) [20].
Hệ thống phân loại cá rô phi đơn tính dòng Đƣờng nghiệp nhƣ sau: Bộ cá vƣợc: Perciforms Bộ phụ: Percoidae Họ: Cichlidae Giống: Oreochormis Loài: Con lai F1 giữa loài cá rô phi O. Niloticus (cá mẹ) có nguồn gốc Đài Loan. Đặc điểm hình thái Cá rô phi đơn tính Đƣờng nghiệp có thân hình màu hơi tím, vẩy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lƣng xuống bụng. Vây đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dƣới và phân bố khắp vây đuôi.
Vây lƣng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vây lƣng và vây đuôi có màu hồng nhạt.Đặc điểm môi trường sống và tập tính dinh dưỡng Rô phi là loài cá có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nên khả năng thích nghi với nhiệt độ cao tốt hơn nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thích hợp cho cá sinh trƣởng, n 5 phát triển là 25 - 30°C. Rô phi là loài cá có nguồn gốc nƣớc ngọt, nhƣng chúng có khả năng sống và phát triển trong môi trƣờng nƣớc lợ, mặn có nồng độ muối tới 35‰.
Khả năng thích ứng với độ mặn của mỗi loài đều khác nhau. niloticus có ngƣỡng muối thấp nhất và loài có ngƣỡng muối cao nhất là T. Cá rô phi có thể sống trong môi trƣờng nƣớc có hàm lƣợng oxy hòa tan thấp tới 1mg/l nhƣng không thể kéo dài khi hàm lƣợng oxy dƣới0,7mg/l(Balarin và Haller, 1982) [10]. Khả năng chịu Amoniac tới 2,4mg/l.
Cá rô phi có khả năng sống trong môi trƣờng nƣớc có biên độ pH rất rộng 5 - 11, nhƣng thích hợp nhất là 6,5 - 8,5. Cá Rô phi chết ở khoảng dao động của pH = 3,5 hay pH > 12 sau 2 - 3 giờ, theo Philipart và Ruwet (1982) [24]. Rô phi là loài cá ăn tạp, khi còn nhỏ cá ăn sinh vật phù du thủy sinh là chủ yếu, 20 ngày tuổi (17 - 18mm) cá chuyển dần sang thức ăn nhƣ cá trƣởng thành. Cá trƣởng thành ăn mùn bã hữu cơ, tảo các loại, ấu trùng, côn trùng, sinh vật đáy, phù du sinh vật, thực vật thƣợng đẳng loại mềm, phân hữu cơ,… Ngoài ra, trong ao nuôi có thể cho thêm thức ăn bổ sung nhƣ cám gạo, bột ngô và cácphụ phẩm nông nghiệp khác.
Đặc biệt cá rô phi có thể sử dụng rất hiệu quả thức ăn công nghiệp và thức ăn tự chế biến (Balarin và Haller, 1982) [10]. Đây là một đặc điểm giúp cho việc nuôi cá rô phi thâm canh đạt năng suất cao. Với những đặc điểm ƣu việt đó cá rô phi đƣợc phân bố và ƣơng nuôi khá rộng rãi trong các vùng miền của nƣớc ta.Tốc độ sinh trưởng Cá rô phi đơn tính dòng Đƣờng Nghiệp có tốc độ tăng trƣởng trung bình cao khoảng 125-142g/con/tháng, gấp 1,4 -1,6 lần rô phi đơn tính dòng Gift, năng suất đạt khoảng 20 tấn/ha. Có thời gian nuôi ngắn, hệ số tiêu tốn thức ăn thấp, ít bị phân đàn thuận lợi cho quá trình chăm sóc, quản lý và thu hoạch.
Sự sinh trƣởng của cá rô phi mang tính đặc trƣng của loài, các loài rô phi khác nhau có tốc độ sinh trƣởng khác nhau. niloticus có tốc độ n 6 tăng trƣởng nhanh và vƣợt trội so với loài O. mossambicus (Nguyễn Văn Hảo và cs. Cá rô phi loài O.
niloticus có tốc độ tăng trƣởng nhanh nhất sau đó đến O.Bệnh xuất huyết trên cá rô phi Bệnh do vi khuẩn Steptococcus spp.gây ra không chỉ trên cá rô mà còn trên nhiều loài cá từ nƣớc ngọt nhƣ cá trắm cỏ, cá tra, basa, đến các loài cá nƣớc lợ nhƣ cá bớp và các loài cá nƣớc mặn nhƣ cá song, cá chẽm, cá giò và cá hồng mỹ. Ở Việt Nam, dịch bệnh hƣờng xảy ra với tỉ lệ cá chết rất cao vào các tháng cuối xuân - đầu hè và cuối hè - đầu thu. Tại các thời điểm khác trong năm cá chết rải rác, ngoại trừ những tháng mùa đông lúc nhiệt độ nƣớc xuống thấp nhất ở các nƣớc ôn đới không thấy xuất hiện bệnh. Về độ tuổi cá thƣờng có bệnh, hầu hết các báo cáo đề cập bệnh xảy ra trong giai đoạn nuôi thƣơng phẩm.
Cá bị bệnh thƣờng có các triệu chứng nhƣ cá bơi lờ đờ, mất định hƣớng, trƣớng bụng, xuất huyết, lồi mắt, sƣng ruột, các cơ quan nội tạng nhƣ gan, thận, lá lách bạc màu hoặc xuất huyết, sƣng to. Đặc biệt vi khuẩn tấn công niêm mạc mắt và não cá làm cho cá bơi không định hƣớng và có dấu hiệu tổn thƣơng thần kinh. Bệnh thƣờng xảy ra vào mùa hè đặc biệt khi khi nhiệt độ nƣớc cao. Đối với mùa đông và mùa xuân, mật độ vi khuẩn thƣờng thấp và không đủ ngƣỡng gây bệnh.
Tác nhân gây bệnh quan trọng trên cá rô phi thƣờng là vi khuẩn, virus hoặc protozoa. trong đó đáng chú ý nhất là bệnh do vi khuẩn mà đặc biệt là Streptococcus agalactiae và Streptococus iniae.