đặt vấn đề trên, chúng tôi thực hiện:“Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý của chó mắc viêm ruột tiêu chảy do Parvovirus type 2 gây ra và chẩn đoán bệnh bằng kỹ thuật PCR”để tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý điển hình của bệnh do CPV-2 trên chó và chẩn đoán chính xác sự có mặt của Parvovirusbằng kỹ thuật PCR. Mục tiêu chung Xác định được một số đặc điểm bệnh lý điển hình của chó mắc bệnh do Parvovirus type 2 gây ra vàchẩn đoán bệnh bằng kỹ thuật PCRgóp phần cho công tác chẩn đoán phân biệt với các dịch bệnh khác để phòng chống dịch bệnh được tốt hơn. Mục tiêu cụ thể - Xác định được một số đặc điểm triệu chứng lâm sàng, bệnh lý đại thể và vi thể chủ yếu của chó mắc Parvovirus type 2. - Ứng dụng quy trình chẩn đoán nhanh Parvovirus type 2 bằng phương pháp PCR.
PHẠMVINGHIÊNCỨU - Đối tượng nghiên cứu: Chó nghi mắc bệnh viêm ruột tiêu chảy do Parvovirus type 2. - Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2017 tới tháng 10/2018 - Địa điểm nghiên cứu: + Phòng khám thú y Cộng đồng – Khoa Thú y 2 c + Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học thú y – Khoa Thú y 1. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI Những nghiên cứu về bệnh lý lâm sàng và giải phẫu bệnh viêm ruột tiêu chảy do Parvovirus type 2 ở chó để phân biệt với các bệnh truyền nhiễm khác gần như còn thiếu, không chỉ trong nước mà còn trên phạm vi thế giới. Kết quả nghiên cứu này cung cấp các đặc điểm bệnh lý lâm sàng và các biến đổi bệnh lý cả về đại thể và vi thể của dịch bệnh, góp phần cho công tác chẩn đoán phân biệt với các dịch bệnh khác để phòng chống dịch bệnh được tốt hơn.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu thu được về đặc điểm bệnh lý của chó mắcviêm ruột tiêu chảy do Parvovirus type 2 sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng dùng trong giảng dạy và nghiên cứu về bệnh trên chó trong các trường đại học và các viện nghiên cứu chuyên ngành thú y. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu này cung cấp các đặc điểm bệnh lý lâm sàng và các biến đổi bệnh lý cả về đại thể và vi thể của dịch bệnh, góp phần cho công tác chẩn đoán phân biệt với các dịch bệnh khác để phòng chống dịch bệnh hiệu quả hơn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
MỘT SỐ TƯ LIỆU VỀ LOÀI CHÓ 2. Nguồn gốc của loài chó Chó là loài vật nuôi thân thiết, gần gũi, gắn bó với con người suốt chiều dài lịch sử phát triển của xã hội loài người, được thuần hóa cách đây khoảng 15.000 năm từ một số loài chó sói sống hoang dã ở hầu hết các châu lục. Trung tâm thuần hóa chó cổ xưa nhất có lẽ là vùng Đông Nam Á, sau đó được du nhập vào Châu Úc, lan ra khắp phương Đông và đến Châu Mỹ. Chó được thuần hóa với mục đích giúp con người săn bắt thú, giữ nhà và làm bạn với con người.
Đông Nam Á là trung tâm thuần hóa chó cổ nhất. Từ đó, chó nhà xâm nhập sang Châu Úc, các nước Phương Đông rồi du nhập sang Châu Mỹ. Ở Việt Nam, theo các nhà khảo cổ học, chó được nuôi từ trung kỳ đồ đá mới, khoảng 3000 - 4000 năm trước công nguyên (cách đây 5 - 6 nghìn năm). Một số đặc điểm sinh lý của chó 2.
Thân nhiệt (0C) Nhiệt độ của cơ thể là chỉ số tương đối của hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt. Sự hằng định tương đối của thân nhiệt gia súc là nhờ có trung tâm điều tiết nhiệt nằm ở hành não. Ở trạng thái sinh lý bình thường, thân nhiệt của chó là 37,5oC - 39oC. Trong tình trạng bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tuỳ vào tính chất và mức độ bệnh.
Nhiệt độ của cơ thể chó bình thường còn thay đổi bởi các yếu tố: Tuổi tác (con non có thân nhiệt cao hơn con trưởng thành), giới tính (con cái có thân nhiệt cao hơn con đực). Sự vận động cũng ảnh hưởng đến thân nhiệt của chó, khi vận động nhiều thân nhiệt của chó thường cao hơn bình thường. Thân nhiệt của chó vào lúc sáng sớm thường thấp hơn buổi chiều và chênh lệch từ 0,2oC - 0,5oC. Ý nghĩa chẩn đoán: Thông qua việc kiểm tra nhiệt độ cơ thể chó, có thể xác định được con vật có bị sốt hay không.
Qua đó, sơ bộ xác định được nguyên nhân gây bệnh, mức độ, tính chất và tiên lượng bệnh. Sự giảm nhiệt độ thường do mất máu, bị nhiễm lạnh do một số hoá chất tác dụng đặc biệt là do trúng độc… Sự tăng nhiệt độ gặp khi nhiệt độ môi trường quá cao, gặp trong bệnh cảm 4 c nóng, cảm nắng, các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus, bệnh kí sinh trùng… gây nên trạng thái sốt cao. Tần số hô hấp (số lần thở/phút) Tần số hô hấp là số lần thở trong 1 phút. Tần số hô hấp phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất, tuổi, tầm vóc, trạng thái dinh dưỡng, trạng thái làm việc, trạng thái sinh lý, thời tiết, khí hậu và tình trạng bệnh lý.
Ở trạng thái sinh lý bình thường, chó con có tần số hô hấp từ 18 - 20 lần/phút. Chó trưởng thành: Giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút, chó nhỏ có tần số hô hấp 20 - 30 lần/phút. Chó thở thể ngực và tần số hô hấp còn phụ thuộc vào các yếu tố sau: • Nhiệt độ bên ngoài môi trường: Thời tiết quá nóng nên chó phải thở nhanh để thải nhiệt, ở chó nhịp thở có thể lên tới 100 - 160 lần/phút. • Thời gian trong ngày: Ban đêm và sáng sớm chó thở chậm hơn, buổi trưa và buổi chiều chó thở nhanh hơn.
• Tuổi: Con vật càng lớn tuổi thì tần số hô hấp càng chậm. • Những con mang thai, sự sợ hãi cũng làm cho tần số hô hấp tăng lên. Thông qua hoạt động hô hấp mà cơ thể lấy O2 và các chất dinh dưỡng trực tiếp từ môi trường, thải CO2 và các sản phẩm dị hoá ra môi trường đồng thời giữ vai trò điều tiết nhiệt. Tần số hô hấp hay nhịp thở là số lần thở ra hay hít vào trong một phút.
Ở mỗi loài gia súc đều có tần số hô hấp nhất định. Tuy nhiên ở trạng thái bình thường tần số hô hấp có thể thay đổi do tác động của cường độ trao đổi chất, lứa tuổi, tầm vóc, trạng thái sinh lý, nhiệt độ môi trường, khí hậu,… Ở trạng thái bệnh lý, tần số hô hấp thay đổi gọi là hô hấp bệnh lý. Tăng tần số hô hấp gặp trong các bệnh gây hẹp diện tích về thể tích của phổi, những bệnh gây sốt cao nhất là những bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh ký sinh trùng. Tần số hô hấp giảm trong những bệnh: hẹp thanh khí quản, chảy máu não, hôn mê, bại liệt sau đẻ, các trường hợp sắp chết.
Tuỳ từng giai đoạn sẽ có một kiểu thở khác nhau: Biot, Kusman, nhanh nông,… 2. Tần số tim (lần/phút) Tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong một phút (lần/phút). Khi tim đập thì mỏm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy mà ta có thể dùng tay, áp tai hoặc dùng tai nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe được 5 c tiếng tim. Khi tim co bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm mạch quản mở rộng, thành mạch quản căng cứng.
Sau đó, nhờ vào tính đàn hồi, mạch quản tự co bóp lại cho đến thời kỳ co tiếp theo tạo nên hiện tượng động mạch đập. Dựa vào tính chất này ta có thể tính được nhịp động mạch sẽ tương đương với mạch tim đập. Mỗi loài gia súc khác nhau thì tần số tim mạch cũng khác nhau. Sự khác nhau này cũng biểu hiện ở từng lứa tuổi trong một loài động vật, tính biệt, thời điểm.
Tuy vậy, tần số tim mạch của động vật chỉ dao động trong một phạm vi nhất định (Nguyễn Xuân Tịnh và cs. Tim co bóp hoạt động liên tục trong suốt cuộc đời con vật theo một nhịp điệu nhất định gọi là chu kỳ, khi tim co bóp gọi là tâm thu (tâm thất co, tim bơm máu vào động mạch) và khi tim giãn được gọi là tâm trương (tâm thất dãn, tim hút máu vào tâm thất). Tần số tim mạch được quy định bằng số lần tim co bóp trong một phút. Ở trạng thái sinh lý bình thường: - Chó con: 200 - 220 lần/phút; - Chó trưởng thành: 70 - 120 lần/phút; - Chó già: 70 - 80 lần/phút.
Một số đặc điểm cấu tạo và chức năng sinh lý dạ dày - ruột 2. Cấu tạo và chức năng của dạ dày đơn a. Cấu tạo - Lớp niêm mạc: Các phần khác nhau của dạ dày có thể phân biệt bằng màu sắc. Dựa vào màu sắc đó người ta phân thành 3 phần: thượng vị, thân vị, hạ vị.
Niêm mạc sáng nhất chỗ thượng vị, thẫm nhất ở thân vị. Màu sắc không đều là do sự cung cấp máu, có liên quan đến hoạt động của các tuyến. - Biểu mô: Biểu mô của niêm mạc là loại đơn trụ, rõ nhất ở thân vị, ở đó nó tiết ra phần lớn dịch vị. Trên bề mặt của niêm mạc có những tế bào biểu mô hình trụ cao, nhân nằm phía cực đáy, bào tương có nhiều chất bám loại nhờn như chất tiết của tế bào hình dài.
Biểu mô này lõm xuống dưới tổ chức đệm làm thành tuyến. - Đệm: Lớp đệm của niêm mạc là tổ chức liên kết thưa có pha sợi lưới chứa tuyến dạ dày. Xung quanh các tuyến nó tạo thành lớp mỏng, có chứa những tế bào cơ trơn riêng rẽ. 6 c - Cơ niêm: Cơ niêm của niêm mạc gồm 2 lớp, vòng trong, dọc ngoài.
Nó có những nhánh đi vào tổ chức liên kết giữa các tuyến. - Hạ niêm mạc là tổ chức liên kết thưa, xếp dày đặc, chứa nhiều huyết quản, lâm ba quản và nhiều đám rối thần kinh. - Áo cơ: Do sự phát sinh không đều của thành dạ dày trong quá trình phát sinh nên hướng đi và sự sắp xếp lớn của áo cơ có nhiều điểm khác. Một phần những sợi vòng của lớp trong biến thành những lớp chéo phụ rõ ở vùng thượng vị.
Số sợi còn lại ở lớp trong vẫn là vòng. Lớp này đặc biệt phát triển ở hạ vị, ở đó nó tạo ra thành một vòng cơ vòng khoẻ giữ thức ăn trong dạ dày. Lớp cơ ngoài dọc, ở đường cong lớn và đường cong nhỏ, ở 2 bên cạnh có hướng chéo đi không giữ chiều dọc nữa.