Đặt vấn đề Bệnh tiêu chảy cấp trên heo (Porcine epidemic diarrhea - PED) là bệnh truyền nhiễm do virus, lây lan rất nhanh. Bệnh do Porcine epidemic diarrhea virus (PEDV) thuộc loài Coronavirus gây ra, với các triệu chứng lâm sàng đặc trƣng nhƣ ói mữa, tiêu chảy, xảy ra ở hầu hết heo mọi lứa tuổi (Pospischil et al. Bệnh lây lan rất nhanh trong đàn, với tỷ lệ bệnh rất cao (100%) và tỷ lệ chết thay đổi từ 30 – 90% trên heo con theo mẹ. Đặc biệt, trong các ổ dịch PED ở châu Á nhƣ Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, tỷ lệ chết trên heo con theo mẹ lên đến 100% (Kim et al., 2001; Pensaert and Yeo, 2006; Puranaveja et al.
PEDV không gây chết trên heo trƣởng thành, nhƣng ảnh hƣởng đến năng suất sinh sản (tỷ lệ đẻ giảm 12,6%; không lên giống lại 5,7%; sảy thai 1,3%; thai khô 2,0%). Những heo nái mang thai lứa đầu nhiễm PEDV sẽ ảnh hƣởng đến năng suất sinh sản sau này (Olanratmanee et al. Nhiều nghiên cứu về gene và đặc điểm dịch tễ phân tử của PEDV ở các nƣớc xảy ra dịch tiêu chảy cấp trên heo cho thấy, có sự đa dạng cao về gene do sự đột biến nhanh ở chủng virus gây bệnh, hay lây lan từ quốc gia khác (Duarte and Laude, 1994; Kocherhans et al., 2001; Yeo et al., 2003; Park et al., 2007; Puranaveja et al., 2009; Lee et al., 2010 và Duy et al. Tại Việt Nam, vào cuối năm 2008, dịch tiêu chảy cấp xảy ra đầu tiên ở Đồng Nai, sau đó bệnh lây lan ở nhiều tỉnh thành khác.
Bệnh gây thiệt hại nặng nề trên đàn heo của các tỉnh miền Đông Nam bộ, với tỷ lệ bệnh ở các lứa tuổi có thể đến 100%, tỷ lệ chết khác nhau giữa các lứa tuổi, nhƣng đặc biệt cao ở nhóm heo con theo mẹ từ 50-100% (Nguyễn Tất Toàn và ctv. Các chủng PEDV ở Việt Nam có sự tƣơng đồng gene rất cao với các chủng phân lập từ các nƣớc láng giềng nhƣ Trung Quốc (JS-2004-2) và Thái Lan (07np01, Ku01cb08), với sự khác biệt rất nhỏ lần lƣợt 0,56-2,86% và 0,00-1,71%. Các chủng PEDV ở Việt Nam bắt đầu hình thành sự đa dạng (đột biến điểm) ở các địa phƣơng khác nhau nhƣ Bình Dƣơng, Đồng Nai và TP HCM (Nguyễn Tất Toàn và Đỗ Tiến Duy, 2012). Khi phân tích trình tự nucleotide và amino acid một phần gene S (Spike gene), ghi nhận các chủng PEDV ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam có tỷ lệ tƣơng đồng về nucleotide và amino acid rất cao khi so sánh với các chủng tham chiếu trƣớc đây của Việt Nam (Nguyễn Trung Tiến và ctv, 2015).
Bệnh tiêu chảy cấp do PEDV xuất hiện và gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi heo ở Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ có những nghiên cứu ở các tỉnh Miền Đông Nam bộ và một số tỉnh ở khu vực phía Bắc Việt Nam. Việc phòng chống bệnh tiêu chảy do PEDV gây ra chủ yếu dựa vào sử dụng vaccine, nhƣng hiện tỷ lệ sử dụng vaccine để phòng bệnh cũng rất hạn chế. Trong khi các chủng virus thực địa thƣờng xuyên có những biến đổi phức tạp 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về mặt di truyền, do đó việc nắm bắt và cập nhật đƣợc các đặc tính phân tử của các chủng PEDV đóng vai trò quan trọng, giúp cho việc lựa chọn đƣợc vaccine thích hợp và hiệu quả phục vụ cho công tác tiêm phòng. Trong khi đó, việc đánh giá và phân tích đặc điểm di truyền của các chủng PEDV lƣu hành ở Việt Nam còn hạn chế, đã gây khó khăn trong việc định hƣớng sử dụng vaccine trong công tác phòng bệnh.
Dịch tiêu chảy cấp cũng đã xuất hiện ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long là vùng chăn nuôi heo quan trọng ở khu vực Tây Nam Bộ. Do đó để khẳng định sự hiện diện của PEDV gây ra dịch bệnh tiêu chảy cấp trên heo ở Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời xác định các đặc điểm về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích, cũng nhƣ kiểu gene của virus gây bệnh và sự tƣơng đồng gene với các chủng trên thế giới nhằm xác định đƣợc nguồn gốc tiến hóa và sự biến đổi di truyền của các chủng PEDV, đây là công việc nghiên cứu hết sức cần thiết mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn nhằm góp phần quan trọng trong định hƣớng chiến lƣợc cho việc sản xuất vaccine phòng bệnh trong tƣơng lai., đề tài “Bệnh Tiêu Chảy Cấp Trên Heo (Porcine Epidemic Diarrhea) Tại Đồng Bằng Sông Cửu Long: Đặc Điểm Bệnh Học và Di Truyền Virus” đƣợc tiến hành.2 Mục tiêu của nghiên cứu Đánh giá sự lƣu hành của PEDV và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh PED trên heo tại một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công tác kiểm soát bệnh. Xác định đặc điểm bệnh học của PED tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long để làm cơ sở chẩn đoán bệnh. Đánh giá sự biến đổi di truyền của PEDV tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long, làm cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về dịch tễ và vaccine.3 Nội dung nghiên cứu Khảo sát sự lƣu hành PEDV trên heo nái tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long dựa trên kháng thể dịch thể thu đƣợc trên các đàn heo chƣa tiêm vaccine phòng PED.
Khảo sát các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh PED tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Khảo sát tỷ lệ bệnh do PEDV trên các đàn heo con theo mẹ và heo nái mắc bệnh tiêu chảy. Khảo sát tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể, vi thể trên các ca bệnh PED tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Phân tích di truyền PEDV tại một số tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long và so sánh với các chủng đã đƣợc phân lập tại Việt Nam và một số nƣớc khác đã đƣợc công bố trên ngân hàng gene.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Ý nghĩa của luận án - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của Luận án đã xác nhận sự hiện diện của PED tại các trại chăn nuôi heo khu vực đồng bằng sông Cửu long, và những đặc điểm lâm sàng cơ bản giúp ngƣời chăn nuôi dễ dàng hơn trong chẩn đoán dịch bệnh và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh, góp phần xây dựng các giải pháp kiểm soát dịch bệnh trên heo ở đồng bằng sông Cửu long. - Ý nghĩa khoa học: - Về mặt dịch tễ: Kết quả của Luận án cung cấp thông tin về tình hình lƣu hành PEDV và các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh PED trên đàn heo tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài ra, kết quả phân tích di truyền các chủng PEDV thu nhận đƣợc cho thấy sự biến đổi phức tạp của PEDV trên các đàn heo ở Đồng bằng sông Cửu Long, những kết quả này là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm dịch tễ của PED và vaccine phòng PED. - Về mặt lâm sàng: Khẳng định các triệu chứng lâm sàng của PED, bệnh tích vi thể, đại thể đặc trƣng khi heo mắc PED, làm cơ sở cho việc chẩn đoán bệnh.5 Những điểm mới của luận án - Nghiên cứu đầu tiên tƣơng đối toàn diện về PED trên đàn heo ở Đồng bằng sông Cửu Long. - Nghiên cứu hồi cứu đầu tiên về PED trên đàn nái qua xét nghiệm kháng thể kháng PEDV bằng kỹ thuật ELISA.
- Phân tích đƣợc tƣơng đối đầy đủ các yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh PED. - Phân tích di truyền đầu tiên, tƣơng đối đầy đủ cả về 4 gene cấu trúc S, E, N và M của các chủng PEDV tại một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về bệnh tiêu chảy cấp do PEDV (Porcine epidemic diarrhea virus) trên heo 2.1 Lịch sử Oldham (1972), ghi nhận tại Anh, một bệnh tiêu chảy cấp mới trên heo trong giai đoạn tăng trƣởng và vỗ béo vào năm 1971 với các biểu hiện lâm sàng giống hệt nhƣ bị nhiễm virus gây viêm dạ dày-ruột truyền nhiễm (TGEV - Transmissible Gastro enteritis virus), ngoại trừ một khác biệt quan trọng, đó là heo con theo mẹ không mắc bệnh. TGEV và các tác nhân gây bệnh đƣờng tiêu hóa khác đã đƣợc xác định không phải là nguyên nhân gây ra bệnh trên.
Bệnh sau đó đã lan sang các nƣớc châu Âu và đƣợc gọi là bệnh “tiêu chảy thành dịch do virus” (Epidemic viral diarrhea - EVD). Năm 1976, bệnh tiêu chảy cấp tính giống với bệnh TGE lại xuất hiện, nhƣng xảy ra trên heo ở tất cả các lứa tuổi, bao gồm cả heo con đang trong giai đoạn theo mẹ (Wood, 1977). TGEV và các tác nhân gây bệnh đƣờng tiêu hóa đã biết khác cũng đã đƣợc loại trừ. Lúc này, tên EVD loại 2 đƣợc đƣa ra để phân biệt bệnh tiêu chảy ở thời điểm này với EVD loại 1 là bệnh bùng phát năm 1971, sự khác nhau là heo con theo mẹ mắc bệnh EVD loại 2 mà không mắc EVD loại 1.
Năm 1978, Coronavirus đã đƣợc chứng minh là nguyên nhân gây ra các đợt bùng phát EVD loại 2 (Chasey and Cartwright, 1978; Pensaert and DeBouck, 1978). Kết quả gây bệnh thực nghiệm cho heo bằng chủng virus phân lập đƣợc (CV777) cho thấy bệnh tích đƣờng tiêu hóa điển hình trên cả heo con và heo vỗ béo (DeBouck and Pensaert, 1980). Năm 1978, bằng nghiên cứu thực nghiệm, EVD loại 1 và EVD loại 2 đã đƣợc chứng minh do cùng một tác nhân virus gây ra, từ đó tên bệnh đã đƣợc đổi thành “tiêu chảy thành dịch trên heo” viết tắt theo tên tiếng Anh là PED - Porcine epidemic diarrhea (Pensaert et al., 1982; Pensaert and Yeo, 2006).2 Tác nhân gây bệnh Phân loại Dựa trên đặc điểm kháng nguyên và di truyền, PEDV đƣợc xếp vào chi Coronavirus, họ Coronaviridae, cùng với TGEV, Coronavirus ở mèo, chó và Coronavirus 229E ở ngƣời. Theo phân loại về huyết thanh học, PEDV hiện mới chỉ có 1 serotype.
Các chủng PEDV phân lập từ châu Âu, Hàn Quốc và Trung Quốc đều tƣơng đồng về mặt huyết thanh với chủng CV777 phân lập từ thực địa của Bỉ năm 1978 (Pensaert and Yeo, 2006; Song and Park, 2012). 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cấu trúc virus PEDV là virus có vỏ bao ngoài (envelope), đƣờng kính biến đổi từ 90 đến 190 nm. Virus tái bản và thoát ra khỏi tế bào thông qua cơ chế nẩy chồi từ các màng bào tƣơng tế bào vật chủ (Kweon et al., 1993; Pospischil et al. Bộ gene của PEDV là sợi RNA đơn dƣơng, kích thƣớc khoảng 28 kb với đầu 5‟ và đuôi là polyA 3‟.