Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Những hiểu biết về cầu trùng ký sinh ở gà 1. Phân loại cầu trùng gà Vị trí của cầu trùng trong hệ thống phân loại động vật học, các loài cầu trùng ký sinh ở gà Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập đến.
Levine và cs (1980) (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997) [9] đã phân loại cầu trùng ký sinh ở gà như sau: Ngành nguyên sinh động vật Protozoa. Phân ngành Apicomplexa Lớp Sporozoasida Phân lớp Coccidiasina Bộ Eucoccidiorida Phân bộ Eimeriorina Họ Eimeriidae Giống Eimeria (Schneider, 1875) Loài Eimeria tenella (Railliet and Lucei, 1891), (Fantham , 1909) Loài Eimeria maxima (Tyzzer,1929) Loài Eimeria acervulina (Tyzzer,1929) Loài Eimeria mivati (Edgar and Seibold, 1964) Loài Eimeria brunetti (Levine, 1942) Loài Eimeria mitis (Tyzzer, 1929) Loài Eimeria hagani (Levine, 1938) Loài Eimeria necatrix (Jonson, 1930) Loài Eimeria praecox (Jonson, 1930) Ở nước ta, bệnh cầu trùng gà và các loài cầu trùng ký sinh ở gà đã được nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ 70. Theo Dương Công Thuận (1975) [34], có 4 loài cầu trùng gây bệnh ở các trại gà: E. Hồ Thị Thuận (1985) [36] cho biết, gà nuôi công nghiệp ở một số trại gà phía Nam nhiễm 5 loài cầu trùng: E.
Hoàng Thạch (1999)[28] xác định rằng, có 6 loài cầu trùng ký sinh ở gà tại TP. Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận, đó là các loài: E. Phạm Văn Chức và cs (1991) [3] đã tìm thấy 4 loài: E. necatrix và đã thử nghiệm sản xuất vắc xin phòng bệnh cầu trùng bằng phương pháp chiếu xạ gama với 4 loài này.
Bệnh cầu trùng là một loại bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm rất nguy hiểm ở động vật nuôi thuần chủng, thú hoang và con người do một nhóm nguyên sinh động vật đơn bào ngành Protozoa, lớp Sporozoa, bộ Coccidae, chủng Eimeria, 2 giống Eimeria và Isospora. Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật, tỷ lệ chết cao, đặc biệt là ở súc vật non. Ở gà và thỏ, bệnh gây thiệt hại lớn nhất (tỷ lệ chết cao ở gà con, thỏ con có thể lên tới 80-100 %). Cầu trùng là động vật đơn bào có hình thái đa dạng phụ thuộc vào từng loài cầu trùng như hình hơi tròn, hình trứng, hình bầu dục…, chúng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu bì ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và kể cả con người.
Trong những năm gần đây có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh cầu trùng cũng như bệnh cầu trùng gà đó là Nguyễn Văn Quang và Nguyễn Thị Kim Lan (2005) [24], Nguyễn Quang Tính (2013) [32],. Đặc điểm hình thái một số loài cầu trùng * Cấu trúc của Oocyst cầu trùng Hình dạng và cấu trúc của Oocyst cầu trùng thay đổi tùy theo từng loài cầu trùng khác nhau. Theo Tyzzer (1929) [51] đã mô tả hình thái một số loại Oocyst như sau: - Loài Eimeria tenella (Orlov, 1975): Oocyst hình bầu dục, kích thước 14,2 - 20,0 x 9,5 - 24,8µ không có lỗ noãn, màu xanh nhạt. Đây là loài gây bệnh mạnh nhất ở gà con.
Thời gian sản sinh bào tử là 18 - 48 giờ. Loài này ký sinh ở manh tràng gà. - Loài Eimeria maxima: Oocyst hình bầu dục, kích thước 21,4 - 42,5 x 16,5 - 29,8µ không có lỗ noãn, màu hơi vàng, vỏ hơi xù xì. Thời gian sản sinh bào tử là 30 - 48 giờ.
Loài này ký sinh ở phần giữa ruột non. 5 - Loài Eimeria acervulina: Oocyst hình bầu dục, kích thước 16,0 - 20,3 x 12,7 - 16,3µ, có lỗ noãn, không màu. Thời gian sản sinh bào tử là 13 - 17 giờ nhiệt độ 28 - 30oC (ngắn nhất so với thời gian sinh bào tử của các loài cầu trùng khác). Loài này ký sinh ở đoạn đầu ruột non.
- Loài Eimeria mivati: Oocyst hình trứng, kích thước 10,7 - 20,0 x 10,1 - 15,3µ có lỗ noãn, không màu. Thời gian sản sinh bào tử là 18 - 21 giờ. Loài này ký sinh ở tá tràng. Loài Eimeria mitis: Oocyst hình hơi tròn, kích thước 11 - 19 x 10 - 17µ không màu, không có lỗ noãn.
Thời gian sản sinh bào tử là 24 giờ. Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ, trong các tế bào biểu bì nhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6-21 thể phân đoạn và các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5. Loài này ký sinh ở ruột non và ruột già. - Loài Eimeria brunetti (Johnson, 1930): Oocyst hình bầu dục, kích thước 20,7 - 30,3 x 18,1 - 24,2µ không có lỗ noãn, không màu.
Thời gian sản sinh bào tử là 24 giờ. Thời kỳ phát triển nội sinh chủ yếu trong ruột già, đôi khi ký sinh ở phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt. - Loài Eimeria hagani (Levine, 1942): Oocyst hình bầu dục, kích thước 15,8 - 29,9 x 14,3 - 29,5µ, không có lỗ noãn, không màu. Thời gian sản sinh bào tử là 48 giờ.
Loài này ký sinh ở phần đầu ruột non. - Loài Eimeria necatrix: Oocyst hình bầu dục, kích thước 13 - 20 x 13,1 - 18,3µ không màu, không có lỗ noãn. Thời gian sản sinh bào tử là 24 - 36 giờ. Loài này ký sinh ở ruột non và manh tràng.
- Loài Eimeria praecox: Oocyst hình bầu dục, kích thước 16,6 - 27,7 x 14,8 - 19,4µ, không màu, không có lỗ noãn. Thời gian sản sinh bào tử là 24 - 36 giờ. Loài này ký sinh ở đoạn đầu ruột non.Vòng đời phát triển của cầu trùng Sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển, tồn tại lâu trong thiên nhiên. Vòng đời và sinh sản được tính từ khi gà ăn phải nang bào tử của cầu trùng có trong thức ăn, nước uống bị nhiễm từ nền chuồng vào.
6 Theo Johannes Kaufmann (1996) [45] ,vòng đời của cầu trùng diễn ra rất phức tạp. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết, cầu trùng sinh sản theo 3 giai đoạn: + Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony) + Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony) + Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony) Hai giai đoạn đầu diễn ra bên trong cơ thể ký chủ nên còn được gọi là giai đoạn nội sinh sản. Giai đoạn sau diễn ra bên ngoài cơ thể ký chủ là giai đoạn ngoại sinh sản. Các Oocyst có sức gây bệnh được gà nuốt vào cùng thức ăn, nước uống.
Dưới tác dụng của men tiêu hoá trong dạ dày và ruột non (đặc biệt là men Trypsin), vỏ của Oocyst bị vỡ, giải phóng ra các bào tử con (Sporocyst) (Goodrich, 1944 và Pugatch, 1968). L (1979) đã mô tả Sporozoit thoát ra qua lỗ noãn (Micropyle) dưới tác động của men Trypsin. Sporozoit được giải phóng ra có hình thoi, dài 10 - 15µ có một hạt nhân. Braunius (1982) [42] cho rằng, Sporozoit của loài E.
necatrix chui vào đỉnh các nhung mao ruột non, qua biểu mô, vào tuyến ruột. Nhiều tác giả đã chứng minh rằng Sporozoit của các loài cầu trùng khác cũng xâm nhập vào tế bào biểu mô của các đoạn ruột khác nhau. * Giai đoạn sinh sản vô tính (Schizogony) Quá trình sinh sản vô tính theo hình thức trực phân diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại nhiều lần để tạo ra các Schizont thế hệ III, IV,V,… Sau khi tạo thành các Schizont thế hệ cuối ( tùy từng loài mà có thể dừng lại ở các Schizont thứ II, thứ III, thứ IV,…) thì chúng bắt đầu chuyển sang giai đoạn sinh sản thứ 2, giai đoạn sinh sản hữu tính. * Giai đoạn sinh sản hữu tính (Gametogony) Sau một số đợt sinh sản vô tính (tuỳ loài cầu trùng), các Schizont thế hệ II, III, IV… chuyển sang sinh sản hữu tính, mà bắt đầu là tạo ra các thể Gamet có hình dạng giống Schizont nhưng phát triển hoàn toàn khác.
Từ thể Gamet hình thành các Gametocyte đực và Gametocyte cái. Các Gametocyte đực và cái lớn lên, qua nhiều lần phân chia sẽ hình thành các tế bào cái (đại phối tử), các tế bào đực 7 (tiểu phối tử). Sau đó, giao tử đực di chuyển đến gặp giao tử cái, chui vào giao tử cái. Trong giao tử cái diễn ra quá trình đồng hoá nhân và nguyên sinh chất để tạo thành hợp tử.
Hợp tử phân tiết một màng bao bọc bên ngoài, lúc này nó được gọi là noãn nang (Oocyst). Thời gian sinh sản nội sinh kết thúc, Oocyst theo phân gà ra ngoại cảnh. Thời gian sinh sản vô tính kéo dài 3 - 22 ngày tuỳ loài cầu trùng. Bessay (1995) đã nghiên cứu và thấy rằng, thời gian từ khi gà nhiễm Oocyst có sức gây bệnh đến khi gà thải Oocyst trong phân là 4,5 - 5 ngày (đối với loài E.5 ngày (đối với loài E.
Levine (1942) cho biết, có 87 - 91 % Oocyst loài E. hagani thải ra ban ngày nhưng tập trung nhất trong khoảng 1 5 - 2 1 giờ (dẫn theo Lương Văn Huấn và cs, 1997 [9]). Theo Shirley (1979) [50], có 70 - 80% Oocyst cầu trùng được thải ra vào thời điểm ban ngày và tập trung vào khoảng 9 giờ sáng đến 13 giờ chiều, mặc dù thời gian này chỉ có 25% lượng phân được thải ra. Sự thải ra Oocyst ra môi trường ngoại cảnh tăng lên cao nhất rồi giảm xuống và hết nếu gà không bị tái nhiễm.
Pugatch (1968) [49] đã nghiên cứu cơ chế phá vỡ vỏ Oocyst cầu trùng trong ruột gà và cho biết, nguyên nhân cơ giới và men Trypsin đóng vai trò quan trọng trọng việc phá huỷ vỏ Oocyst để giải phóng bào tử con. * Giai đoạn sinh sản bào tử (Sporogony) Giai đoạn sinh sản ngoài cơ thể (giai đoạn ngại sinh): Sau khi hợp tử hình thành thì biến thành noãn nang (Oocyst), nguyên sinh chất và nhân lại phân chia thành bào tử và hình thành nên bào tử con. Giai đoạn này diễn ra ở môi trường bên ngoài gọi là sinh sản ngoại sinh. Khi ký chủ nuốt phải noãn nang đã phân chia thành 8 bào tử con vào đường tiêu hóa, noãn nang sẽ giải phóng các bào tử con ra, các bào tử con lại tiếp tục xâm nhập vào biểu mô ruột, lớn dần lên và tiếp tục sinh sản vô tính, hữu tính, vòng đời lại tiếp tục như trên.
Những hiểu biết về bệnh cầu trùng gà và các động vật khác Bệnh cầu trùng gà nói riêng và bệnh cầu trùng gia súc, gia cầm nói chung là loại bệnh phổ biến trên khắp thế giới. Bệnh được Luvenhuch A. phát hiện cách đây khoảng 379 năm và các nghiên cứu về dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý, miễn dịch và 8 thuốc điều trị đã được các nhà khoa học dày công nghiên cứu và khám phá (Lê Văn Năm, 2003) [21]. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs, (1999) [12], bệnh cầu trùng gà được coi là vấn đề lớn thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên.