Đặt vấn đề Ngành nuôi trồng thủy sản có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Theo Tổng cục Thủy sản (2021), trong năm 2021 diện tích nuôi tôm nước lợ của nước ta đạt 746.000 ha và sản lượng tôm nuôi đạt 970 nghìn tấn (tăng 4,3% so với năm 2020); trong đó, tôm thẻ chân trắng đạt 665 nghìn tấn, tôm sú đạt 266 nghìn tấn. Kim ngạch xuất khẩu tôm 2021 đạt 3,9 tỷ USD (tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2020). Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm nuôi tôm của cả nước, năm 2020, diện tích nuôi tôm chiếm 92% diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước; trong đó diện tích nuôi tôm sú chiếm 95%; tôm thẻ chân trắng chiếm 74,4% và sản lượng chiếm 86,9% sản lượng nuôi tôm nước lợ của cả nước (Tổng cục Thủy sản, 2020).
Chính vì vậy, tôm sú và tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là hai đối tượng tôm nuôi nước lợ chủ lực của Việt Nam nói chung và Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và thâm canh hóa ngày càng cao của nghề nuôi tôm nước lợ, đã kéo theo tình hình dịch bệnh diễn ra trên tôm nuôi ngày càng phúc tạp, là mối đe dọa đến năng suất, sản lượng cũng như sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng. Ngoài các bệnh do virus, các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa đã và đang xảy ra ngày càng nhiều trên tôm nuôi như bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND). Đồng thời trong thời gian qua gian qua, tôm nuôi xảy ra hội chứng phân trắng và bệnh chậm lớn do vi bào tử trùng đã xuất hiện nhiều trên tôm nuôi nước lợ (Oanh và ctv., 2008; Ha et al., 2011; Hà và ctv.
Hội chứng phân trắng chưa rõ nguyên nhân có liên quan đến nhiều loài vi khuẩn Vibrio trong đó có V. alginolyticus mang gen độc lực và bệnh chậm lớn do vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) ký sinh trên gan tụy tôm (Flegel et al., 2012; Loc Tran et al., 2013; Thitamadee et al., 2016) đã và đang gây những thiệt hại nghiêm trọng đến nghề nuôi tôm nước ta. Theo Cục Thú y (2021), năm 2021 tổng diện tích nuôi tôm nước lợ bị thiệt hại 20.294 ha; trong đó diện tích nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh là 7.204 ha, quảng canh cải tiến là 12.377 ha còn lại diện tích nuôi khác. Tôm bị bệnh xảy ra ở nhiều giai đoạn khác nhau sau khi thả vào ao, gây các tổn thương trên các cơ quan dạ dày, gan tụy và ruột, ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan như tiết enzyme tiêu hóa, giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng trong thức ăn từ đó giảm sinh trưởng tôm hoặc phá hủy cấu trúc các cơ quan gan tụy dẫn đến hiện tượng chết hàng loạt ở tôm nuôi, gây thiệt hại nghiêm trọng (Oanh và Phương, 2012; Lighner, 2012; Lộc, 2015).
Tuy nhiên, các nghiên cứu bước đầu về tác nhân gây bệnh với giả thuyết do vermiform có cấu tạo giống nhóm trùng 2 tế bào Gregarine ký sinh trong các ống gan tụy gây ra bệnh trên tôm (Sriurairatana et al. Nghiên cứu mới nhất của Cao et al., (2015) đã chứng minh vi khuẩn V. cholerae mang 3 gen mã hóa haemolysin 1 luan an (hlyA), protein màng ngoài (ompU) và kích độc (toxR-cholera toxin transcriptional activator) phân lập từ ruột tôm thẻ chân trắng nuôi ở Tiêu Sơn, Chiết Giang, Trung Quốc. Hội chứng phân trắng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của tôm, tôm nhiễm bệnh giảm lượng thức ăn tiêu thụ và tỷ lệ sinh trưởng, tăng FCR ở những ao tôm bị bệnh (Sriurairatana et al.
Hội chứng phân trắng xuất hiện sớm trên tôm sú nuôi ở Việt Nam vào năm 1998 và bắt đầu bùng phát mạnh và lây lan nhanh gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người nuôi tôm từ Bắc vào Nam (Oanh và ctv., 2008; Hà và ctv., 2011; Ha et al., 2011; Trang và ctv. Vi bào tử trùng (EHP) được phát hiện nhiễm bệnh đầu tiên trên các mẫu tôm sú nuôi chậm lớn ở Thái Lan (Tourtip et al., 2009) và xuất hiện cùng với hội chứng phân trắng (Tangprasittipap et al. Bệnh chậm lớn do vi bào tử trùng EHP được xác định lây truyền thông qua nuôi nhốt chung tôm bệnh với tôm khỏe và cho ăn gan tụy tôm bệnh (Tangprasittipap et al., 2013; Salachan et al. Ở Việt Nam, năm 2011 vi bào tử trùng EHP được phát hiện nhiễm trên tôm ở các tỉnh Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bạc Liêu và Cà Mau (Hà và ctv., 2011) và EHP được xác định lây truyền qua chiều dọc từ tôm mẹ nhiễm bệnh lây sang ấu trùng tôm (Hùng và ctv.
Nhìn chung, dịch bệnh xảy ra trên tôm nuôi liên quan đến đường tiêu hóa (đường ruột) rất nhiều nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu, thông tin chuyên sâu về các bệnh này. Đặc biệt ở Việt Nam hội chứng phân trắng, bệnh chậm lớn do vi bào tử trùng gây ra chưa có nhiều cập nhật về nghiên cứu dịch tể, phương thức lây nhiễm và tác động cộng gộp của nhiều mầm bệnh (nhiễm kép/đa nhiễm) đến tôm nuôi. Hiện tại các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở cấp độ sơ bộ, nhận diện sự xuất hiện của mầm bệnh và các dấu hiệu bệnh lý bên ngoài. Trước tình hình dịch bệnh liên quan đến đường ruột trên tôm nuôi nước lợ xảy ra ngày càng nhiều và phức tạp ở nước ta, các nghiên cứu chuyên sâu về tác nhân gây bệnh, con đường lây truyền… để tìm ra các giải pháp phòng, trị bệnh là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Chính vì vậy, nhằm cung cấp, bổ sung thêm những thông tin khoa học chi tiết hơn, đặc biệt là trong việc tìm ra biện pháp hạn chế dịch bệnh trên tôm nuôi, đề tài “Đặc điểm bệnh học của mầm bệnh Vibrio spp. và vi bào tử trùng hiện diện trong đường ruột ở tôm nước lợ” được thực hiện nhằm hướng tới kiểm soát tốt dịch bệnh, đề xuất, khuyến cáo quản lý dịch bệnh trên tôm nuôi một cách có hiệu quả và bền vững. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Mục tiêu tổng quát của luận án nhằm xác định khả năng gây bệnh của mầm bệnh Vibrio ssp.
và vi bào tử trùng ở đường ruột trên tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ làm cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp kiểm soát bệnh đường ruột trên tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ một cách có hiệu quả và bền vững. Mục tiêu cụ thể Xác định đặc điểm dấu hiệu bệnh lý và mô bệnh học đặc trưng biểu hiện trên tôm thẻ chân trắng bệnh đường ruột tại tỉnh Cà Mau, Sóc Trăng và Bến Tre. Xác định sự hiện diện của mầm bệnh Vibrio spp. và vi bào tử trùng trên tôm thẻ chân trắng bệnh đường ruột Phân lập, định danh và xác định khả năng gây bệnh của vi khuẩn Vibrio spp.
và vi bào tử trùng ở bệnh đường ruột trên tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ. Xác định tính nhạy của một số loại thảo dược với Vibrio spp. gây bệnh đường ruột trên tôm thẻ chân trắng. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Khảo sát sự hiện diện của mầm bệnh Vibrio spp.
và vi bào tử trùng trên tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ có biểu hiện bệnh đường ruột. Thu mẫu tôm có các dấu hiệu biểu hiện bệnh đường ruột. Kiểm tra xác định sự hiện diện của mầm bệnh Vibrio spp. và vi bào tử trùng ở những mẫu tôm thẻ chân trắng bệnh đường ruột thu được.
Nội dung 2: Phân lập, định danh và xác định khả năng gây bệnh của vi khuẩn Vibrio spp. và vi bào tử trùng bệnh đường ruột trên tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ. Phân lập, định danh mầm bệnh Vibrio spp. và vi bào tử trùng bằng phương pháp hình thái, sinh lý, sinh hóa, PCR, giải trình tự gen và mô học.
Nghiên cứu khả năng gây bệnh của mầm bệnh Vibrio spp. và vi bào tử trùng lên đường ruột tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ. Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kháng Vibrio spp. lên bệnh đường ruột ở tôm thẻ chân trắng.
Nghiên cứu hoạt tính kháng khuẩn của một số loài thảo dược với mầm bệnh Vibrio spp. Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của chất chiết thảo dược lên khả năng phòng bệnh đường ruột trên tôm thẻ chân trắng. Ý nghĩa nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cơ sở khoa học và thực thực tiễn về khả năng gây bệnh của vi khuẩn Vibrio spp. và khả năng lây truyền bệnh của vi bào tử trùng và tác động ảnh hưởng lên hệ tiêu hóa của tôm thẻ chân trắng nuôi nước lợ.
Nghiên cứu này đã xác định được tác động của tổ hợp các nhóm vi khuẩn Vibrio spp. gây bệnh phân trắng trên tôm thẻ chân trắng và mối liên hệ với gen độc lực tạo cơ 3 luan an sở cho các nghiên cứu về dịch tễ sau này đối với các loài vi khuẩn trên tôm nói riêng và trong thủy sản nói chung. Trên cơ sở kết quả này, đề xuất một số giải pháp phòng, trị bệnh trên tôm thẻ chân trắng bằng hỗn hợp thảo dược có dược tính tương đồng nhằm hạn chế thiệt hại, rũi ro có thể xảy ra do dịch bệnh bùng phát gây thiệt hại cho người nuôi tôm. Tính mới của luận án Kết quả nghiên cứu có được 102 chủng vi khuẩn đã phân lập được từ 07 nhóm trong tổng số mẫu tôm thẻ chân trắng có dấu hiệu bị hội chứng phân trắng và chậm lớn.
Lần đầu tiên nghiên cứu xác định được khả năng nhiễm kép của Vibrio spp. với tổ hợp vi khuẩn V. vulnificus (A4) gây nên dấu hiệu bệnh đường ruột và phân trắng trên tôm thẻ chân trắng. Nghiên cứu còn xác định được các con đường lây truyền của vi bào tử trùng qua 03 phương thức; nuôi nhốt chung, qua thức ăn và trong nước có bào tử EHP.
Đánh giá được hiệu quả về hoạt tính kháng khuẩn của cao chiết với 2 loại thảo dược Diệp hạ châu (P. urinaria L) và lá ổi (P. guajva) đối với các loài Vibrio spp. Kết quả nghiên cứu đã xác định được hiệu quả của hỗn hợp thảo dược từ chiết xuất lá ổi và Diệp hạ châu lên khả năng phòng bệnh đối với tổ hợp vi khuẩn đa loài Vibrio spp.
gây bệnh đường ruột trên tôm thẻ chân trắng. Thời gian thực hiện: Từ tháng 01/2018 đến 07/2022 4 luan an CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về hiện trạng nuôi tôm nước lợ 2.