MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia ven biển có lợi thế đường bờ biển dài hơn 3260km trải dài từ Bắc chí Nam, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành Thủy sản. Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở nước ta bắt đầu khởi sắc từ năm 1990 và có xu hướng phát triển mạnh mẽ cả về diện tích và đối tượng nuôi trồng trong những năm 2000- 2002.Hiện nay, ngành nuôi trồng thủy sản ở nước ta đã trở thành một trong số các ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia với nhiều thành tựu đáng kể. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sản lượng thuỷ sản năm 2014 ước tính đạt 6332,5 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm trước, trong đó cá đạt 4571 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm đạt 790,5 nghìn tấn, tăng 9,3%. Thủy sản là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất trong 9 tháng đầu năm 2014 [36].
Theo bình chọn của Tạp chí Seafood International năm 2014, 10 quốc gia có lượng thủy sản lớn nhất là Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Nhật, Mỹ, Nga,Peru, Việt Nam, Na Uy, Ai Cập. Trong đó, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 8[35]. Như vậy, ngành nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam đang phát triển và có tiềm năng vô cùng to lớn trong phát triển kinh tế biển. Trong những năm gần đây, ngoài việc nuôi các loại thủy sản truyền thống như các loài cá nước ngọt, nước lợ, tôm, cua, ghẹ,… ngành thủy sản cũng tập trung nuôi trồng các loại cá biển có giá trị dinh dưỡng cao.
Những địa phương nuôi cá biển lớn nhất ở nước ta hiện nay có thể kể đến như: Quảng Ninh, Hải Phòng ở khu vực phía Bắc; Khánh Hòa, Phú Yên ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ; Kiên Giang,Trà Vinh, Bạc Liêu ở khu vực Nam Bộ. Theo Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015, định hướng đến 2020 (Quyết định 1523/QĐ-BNN-TCTS ngày 08/7/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), mục tiêu đặt ra là đến năm 2015: Tổng sản lượng cá biển nuôi năm 2015 đạt 160.000 tấn, giá trị tương đương 1,04 tỷ USD, trong đó nuôi cá biển trong ao đạt 61.000 tấn, nuôi trong hệ thống lồng nhỏ 44.000 tấn, nuôi công nghiệp tập trung 55. Dự kiến đến năm 2020 tổng sản lượng cá biển đạt 200.000 tấn, giá trị 1,8 tỷ USD. Như vậy, đẩy mạnh nuôi cá biển hiện đang là hướng phát triển được Chính phủ quan tâm đầu tư trong những năm tới.
1 Ở Việt Nam, mô hình nuôi lồng hiện đang mang lại nhiều giá trị thương mại cho ngư dân. Tuy nhiên, với mô hình này cá biển nuôi phải chịu nhiều stress do phải thích nghi môi trường sống, các tập quán kiếm ăn và sinh sản bị thay đổi dẫn đến sự suy giảm sức đề kháng. Điều này đã tạo cơ hội cho các loài vi sinh vật phát triển, gây ra nhiều dịch bệnh cho ngành Thủy sản làm giảm năng suất và chất lượng nuôi trồng thủy sản, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho người nuôi. Các nghiên cứu đã chỉ ra vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là nguyên nhân gây ra nhiều loại bệnh nghiêm trọng đối tượng thủy sản như EMS – bệnh tôm chết sớm, hay gây bệnh trên cá nuôi.
Đáng lưu ý nhất là bệnh hoại tử cơ quan gan, thận trên cá biển nuôi do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra. Vi khuẩn này gây bệnh trên cá biển nuôi ở mọi giai đoạn phát triển của cá, do đó gây ra thiệt hại nặng nề cho ngành nuôi cá biển. Vì vậy, việc tìm ra cách phòng và hạn chế bệnh do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus là cần thiết. Trên thực tế, hiện nay ngư dân nuôi cá biển vẫn áp dụng phương pháp sử dụng kháng sinh và các chất diệt khuẩn để làm hạn chế bệnh cho cá nuôi.
Tuy nhiên, phương pháp này không thực sự hiệu quả do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus có khả năng tạo ra lớp màng sinh học (biofilm) để kháng lại các chất kháng sinh và diệt khuẩn. Hơn nữa, khi sử dụng kháng sinh, với lượng chất kháng sinh tồn dư trong cơ thể các loài thủy sản sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản và sức khỏe người sử dụng. Do đó, cần phải có một phương pháp khác trong phòng và hạn chế bệnh hoại tử gan, thận trên cá biển như việc sử dụng vắc- xin, do đó tôi lựa chọn đề tài “Xác định gen độc tố của vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan thận trên cá biển nuôi” làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này nhằm đưa ra hướng phòng và trị bệnh cho cá biển nuôi. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên thế giới và tại Việt Nam Nuôi trồng thủy sản được coi là ngành sản xuất thực phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới, cung cấp phần lớn protein động vật cho con người và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng thủy sản toàn cầu.
Các đối tượng nuôi bao gồm cá có vẩy, động vật giáp xác, động vật thân mềm, ếch, bò sát (không tính cá sấu) và các loài thủy sản khác phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người[41]. Sản lượng nuôi trồng thủy sản chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng sản lượng thủy sản toàn cầu: từ 20,9% năm 1995 lên 32,4% năm 2005 và 40,3% năm 2010 và ở mức cao kỷ lục là 42,2% trong năm 2012. Châu Á chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng sản lượng nuôi toàn cầu 54%, châu Âu chiếm 18% và các châu lục còn lại <15%[41]. Do nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm thủy sản nên sản lượng thủy sản từ nuôi trồng cũng tăng trưởng mạnh.
Ở châu Á, Trung Quốc dẫn đầu về mặt sản lượng nuôi trồng, chiếm 61,7%,tiếp theo là các nước Ấn Độ, Việt Nam, Indonexia, Bangladesh, Nauy, Thái Lan, Chile, Ai, cập, Myanmar, Philippine, Brazil và Nhật[39].Khu vực Đông Á là khu vực có nghề nuôi cá biển sớm nhất và cũng cho sản lượng cá biển cao nhất hiện nay. Đài Loan là vùng lãnh thổ phát triển mạnh mẽ về nuôi cá biển với các loài cá thương phẩm có giá trị kinh tế cao như cá Chẽm (Lates calcarifer), cá Mú Đen (Acanthopagrus macrocephalus), cá Mú (Epinephelus spp), cá Hồng (Lutjanidae). Tại khu vực Đông Nam Á, các đối tượng thủy sản vẫn chưa phong phú và giá trị kinh tế còn thấp. Tuy nhiên, khu vực này cũng đang dần phát triển với các đối tượng các biển chủ yếu như cá Chẽm, cá Mú và cá Hồng.
Nuôi trồng thủy sản sẽ tiếp tục mở rộng ra khắp các châu lục, với sự đa dạng của các loài nuôi và hình thức sản phẩm. Các nước châu Á sẽ tiếp tục chiếm phần lớn sản lượng nuôi trồng thủy sản của thế giới. Năm 2030, dự kiến các nước Đông 1 Nam Á sẽ đóng góp 15,9% thị phần và Ấn Độ, 9,2%.Trung Quốc dự kiến sẽ đóng góp 56,9% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn cầu [41]. Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về sản xuất các giống cá biển thương mại cho giá trị kinh tế cao và áp dụng các hình thức nuôi mới nhằm tăng năng suất nuôi trồng.
Mục tiêu của Việt Nam trong thời gian tới là đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản và hạn chế khai thác nguồn lợi này từ tự nhiên. Đồng thời hướng phát triển ngành Thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế chung. Loài nuôi và hệ thống nuôi cũng được chú trọng, trong đó hình thức nuôi lồng trên biển đang tạo ra một sản lượng lớn thủy sản cho thị trường nội địa và cung cấp được một phần cho thị trường thế giới. Các sản phẩm từ thủy sản góp phần vào nguồn thực phẩm cung cấp đạm và các chất dinh dưỡng từ động vật cho con người.
Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng gặp phải nhiều trở ngại do dịch bệnh lây lan.Các bệnh thường xảy ra trên thủy sản như: bệnh đốm trắng, bệnh đầu vàng, bệnh còi…ở tôm nuôi, bệnh xuất huyết do virus, bệnh Iridovirus… ở cá, bệnh do nhóm Vibrio sp., bệnh do nấm và các loài kí sinh trùng…, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành nuôi trồng thủy sản [39]. Một số bệnh thường gặp trên đối tượng cá biển nuôi 1. Bệnh do virus 1. Bệnh hoại tử thần kinh (Viral Nervous Necrosis - VNN)[34][35] Các nghiên cứu về bệnh hoại tử cơ quan thần kinh trên cá biển đã chỉ ra rằng bệnh VNN đã xuất hiện trên 22 loài cá biển khác nhau.
Trong đó có thể kể tới cá Chẽm, cá Mú, cá Giò, cá Chình. Bệnh gây ra bởi virus Betanodavirus có dạng hình cầu không có vỏ, kích thước 26-32nm, vật chất di truyền là RNA. Virus này kí sinh trong tế bào chất của tế bào thần kinh trong não và võng mạc mắt của cá. Virus VNN dưới kính hiển vi Betanodavirus gây bệnh chủ yếu trên cá giống với tỉ lệ chết 90 – 100% và giảm dần khi cá lớn hơn.
Cá dưới 20 ngày tuổi mắc bệnh sẽ không phát hiện được dấu hiệu nhiễm bệnh rõ ràng. Cá từ 20-45 ngày tuổi sẽ bơi gần tầng mặt do bóng phồng. Cá từ 45 ngày tuổi đến 4 tháng tuổi bị nhiễm bệnh có dấu hiệu bơi vòng tròn hoặc bơi xoáy chôn ốc không có định hướng, mất thăng bằng, kém ăn hoặc bỏ ăn, thân cá đen xám, đặc biệt đuôi và vây chuyển màu xám đen, mắt cá đục, bóng hơi căng phồng, có thể nhìn rõ xuất huyết não. Cá chết sau 3-5 ngày biểu hiện bệnh.
Khi giải phẫu mô bệnh học của cá thấy tổ chức mắt và não xuất hiện nhiều không bào màu trắng do sự phát triển của virus. Bệnh do Iridovirus[35] Bệnh xuất hiện trên 125 loài, 34 họ thuộc 9 bộ cá nước ngọt và nước mặn, gặp nhiều nhất ở 3 bộ cá: Perciformes, Pleuronectiformes, Tetraodontiformes,… Ngoài ra còn có 6 bộ cá khác: Clupeiformes, Salmoniformes, Ophidiiformes, Cyprinodontiformes,… Các loài cá tự nhiên có mức độ cảm nhiễm thấp và không gây nguy hiểm. Tuy nhiên các đối tượng cá nuôi lồng nhưcá song điểm đai, cá song chấm cam, cá song mỡ,… dễ bị nhiễm bệnh do Iridovirus và bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bệnh gây ra bởi Iridovirusthuộc họ Iridoviridae có hình đa diện 20 mặt, kích thước trung bình khoảng 200 ± 50nm, kích thước này thay đổi phụ thuộc vào ký 1 chủ, nhỏ nhất là 130nm, lớn nhất là 330nm.
Iridovirus có vật chất di truyền là ADN. Virus có lõi đặc, bên ngoài có 2 lớp vỏ capsid, bề ngoài có diềm lông tơ. Cấu trúc tế bào virus Iridovirus Cá mắc bệnh do Iridovirus xuất hiện các nốt sần ở hầu hết hệ thống mạch ngoại biên. Dấu hiệu bên ngoài của bệnh xuất hiện trên cá là các nốt sần có cấu tạo dạng viên sỏi, kích thước khác nhau, có màu kem xám đến màu xám, sắc tố biểu bì bình thường.
Đôi khi hệ thống ngoại biên tụ lại thành đám tế bào lớn màu đỏ.