Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Giun đũa ký sinh ở gia cầm 1. Căn bệnh, ký chủ và vị trí ký sinh Giun đũa gà còn được gọi là giun đũa nhỏ ký sinh trên gia cầm và một số loài chim hoang dã.
Giun đũa nói chung sống ký sinh trong ống tiêu hóa của động vật nhưng chủ yếu là ở ruột non. Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999)[8], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12] cho biết: bệnh giun đũa gà do loài giun Ascaridia galli, thuộc họ Ascaridiidae gây ra. Giun trưởng thành ký sinh ở ruột non gà, gà tây, gà rừng, đôi khi ký sinh ở manh tràng. Ấu trùng non khi xâm nhập vào cơ thể sẽ ký sinh bên trong các tuyến ruột, đến giai đoạn trưởng thành thì ký sinh trong lòng ruột non.
Ngoài ký chủ là gà, Ascaridia galli còn ký sinh trên ngỗng và vịt (Johannes Kaufmann, 1996)[45]. Vị trí của giun đũa ký sinh ở gia cầm trong hệ thống phân loại động Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [15], vị trí phân loại giun Ascaridia galli trong hệ thống phân loại như sau: Lớp giun tròn Nematoda Rudolphi, 1808 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Ascaridiidae Skrjabin et Mosgovoy, 1973 Giống Ascaridia Dujardin, 1845 Loài Ascaridia galli Freeborn, 1923 (Schrank, 1788) 1. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun đũa ký sinh ở gà Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10], giun đũa Ascaridia galli trưởng thành ký sinh ở ruột non gà, gà tây, gà rừng. Giun màu vàng nhạt hoặc trắng ngà, thân có vân ngang, quanh miệng có 3 môi; trên mỗi môi có răng.
4 Cơ thể được bao phủ hoàn toàn bởi một cấu trúc protein dày gọi là lớp biểu bì cuticle. Các lớp biểu bì này được xếp thành vân ngang suốt chiều dài cơ thể (Lalchhandama K và cs, 2009)[47]. Ở trên lớp vỏ có các vùng ngấn làm tăng ma sát phần vỏ để di chuyển (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978)[32]. Ascaridia galli là loài giun tròn lớn nhất ký sinh trên các loài chim (Ashour, AA,1994)[41].
Giun có kích thước tương đối lớn. Giun đực dài 30 – 80 mm, rộng 0,6mm; có cánh đuôi và 10 đôi gai chồi, có bàn hút trước hậu môn hình tròn, có 2 gai giao hợp dài bằng nhau, phía trên phình to, đầu gai rất nhọn. Đuôi cong, vùng lỗ hậu môn đuôi phình ra tạo thành cánh đuôi. Giác trước huyệt dạng bầu dục nằm ở phía bụng.
Đường kính giác trước huyệt 0,16 - 0,26 mm, sau giác có những núm nhỏ. Hậu môn cách mút đuôi 0,48 - 0,85 mm. Núm đuôi tạo thành 3 nhóm: 3 đôi trước, 1 đôi ngang và 6 đôi sau hậu môn. Theo Phan Lục (2006)[19], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999)[8], giun cái dài 65 – 110 mm, rộng 1,6 – 1,8 mm; âm hộ ở phía trước, đoạn giữa thân.
Giun cái đuôi thẳng, lỗ sinh dục ở giữa thân, đuôi mập nhọn, lỗ hậu môn ở phía cuối thân. Trứng hình bầu dục, có kích thước: 0,075 - 0,092 x 0,045 - 0,057 mm; màng ngoài nhẵn, màu tro nhạt (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [8]. * Đặc điểm hình thái các giai đoạn phát triển của giun đũa Ascaridia galli ở ngoài ngoại cảnh - Giai đoạn 1(trứng mới thải ra ngoài) Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [32] cho biết, trứng giun có hình ô van, hình bầu dục, vỏ nhẵn. Kích thước 0,07 – 0,08 x 0,045 – 0,05mm.
Vỏ dày gồm ba lớp màng là màng ngoài, màng trong và màng giữa. Trong đó màng giữa phát triển sáng hơn. Nhân không phân chia khi đẻ. Trứng mới đào thải ra khỏi cơ thể nên chưa có sự phát triển của phôi bào, phôi bào vẫn chỉ là một khối.
5 - Giai đoạn 2 Đỗ Dương Thái và cs (1978)[27] đã mô tả trứng giun đũa ở giai đoạn 2 như sau: trứng có 3 màng là màng ngoài, màng giữa, màng trong, phôi bào đã bắt đầu phát triển, phân chia thành 2, 3 ,4. phôi bào và cuối cùng thành hình quả dâu. - Giai đoạn 3 Ở giai đoạn này vỏ trứng mỏng dần, mầu nhạt đi, phôi bào đã chuyển thành ấu trùng. Quá trình chuyển dạng của ấu trùng có thể xảy ra rất nhanh chóng như ấu trùng từ ngắn và mập đến dài và thon hơn (Đỗ Dương Thái và cs, 1978)[27].
- Giai đoạn 4 Đỗ Dương Thái và cs (1978)[27], cho biết: trong trứng đã hình thành ấu trùng có khả năng gây nhiễm, vỏ trứng rất mỏng và mất màu. Chu kỳ sinh học của giun đũa ký sinh ở gà Chu kỳ sinh học của giun đũa gà được xếp vào dạng phát triển trực tiếp (không qua vật chủ trung gian). Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] cho biết: giun cái sau khi thụ tinh đẻ trứng rất nhiều (khoảng 72.500 trứng/ngày đêm), trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thích hợp phát triển thành trứng có ấu trùng có sức gây bệnh. Trứng này lẫn vào thức ăn, nước uống của gà.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)[32], thì: sau 7 – 14 ngày trứng phát triển thành ấu trùng nằm trong vỏ trứng và có khả năng gây nhiễm. Nguyễn thị Kim Lan và cs (1999),(2012)[8],[10], Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)[35] cho biết: gà nuốt phải trứng chứa ấu trùng có sức gây bệnh, ấu trùng bắt đầu nở ra trong dạ dày cơ, nhưng chỉ hoàn thành khi có tác động của dịch tiêu hóa (pepsin, trypsin). Ấu trùng nở ra, di hành tới đoạn trước ruột non. Sau 1 – 2 giờ ấu trùng chui vào các tuyến ở ruột và phát triển ở đó 19 ngày rồi lại trở lại xoang ruột, phát triển thành giun trưởng thành.
Thời gian hoàn thành vòng đời là 35 – 58 ngày. Ấu trùng vào xoang ruột phát triển thành giun trưởng thành sau 4 -8 tuần. 6 Những trứng chứa ấu trùng gây bệnh ở môi trường ngoài, nếu được giun đất nuốt vào cơ thể, ấu trùng gây nhiễm giải phóng khỏi vỏ trứng và được tích tụ lại trong giun đất. Khi gà ăn phải những giun đất là vật chủ dự trữ, ấu trùng được giải phóng ở đường tiêu hóa và phát triển thành giun trưởng thành tại ruột non (Phan Lục và cs, 2005) [19].
Bệnh giun đũa ở gà 1.1 Đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa ở gà Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)[32], giun đũa có thể sống trong ruột già nhưng ít hơn. Gà trưởng thành có sức đề kháng với A. Mùa mưa tỷ lệ nhiễm cao hơn so với mùa khô (Mpoame M. Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] cho biết, ở nhiệt độ 17 – 390C, ẩm độ 90 – 100% trứng giun đũa gà phát triển tốt.
Nếu nhiệt độ quá cao (>500C) trứng chết nhanh. Khẩu phần ăn thiếu vitamin A và B, gà nhiễm giun nhiều hơn và giun có kích thước lớn hơn so với gà được cung cấp đủ vitamin A, B. Bệnh giun đũa gà là một bệnh khá phổ biến ở nước ta, tỷ lệ gà nhiễm bệnh cao từ 34% -70% (Nguyễn Quang Tuyên và cs, 2000)[37]. Kết quả nghiên cứu của Phan Địch Lân và cs (2005) [13] cho thấy, tỷ lệ nhiễm giun đũa có sự biến động theo tuổi gà (tuổi gà càng tăng tỷ lệ nhiễm càng giảm).
Tác giả cho biết, qua mổ khám gà các lứa tuổi thấy cụ thể: qua mổ khám thấy gà 3 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm là 73,8%; gà 3 – 5 tháng tuổi là 62,9% và gà trên 6 tháng tuổi là 44,0%. Tuy nhiên, một số tác giả khác lại cho rằng tỷ lệ nhiễm không có sự biến động theo tuổi gà. Nghiên cứu vòng đời phát triển của giun đũa gà, Nguyễn Minh Toán (1989) [36] có kết luận: Tuổi gà càng tăng, thời gian hoàn thành vòng đời của giun càng dài: gà 2 tuần tuổi là 28 ngày, gà 4 tháng tuổi là 51 ngày và gà 6 tháng tuổi là 56 ngày. 7 Ở nước ta, tất cả các vùng đều có bệnh giun đũa gà, tỷ lệ nhiễm trung bình của gà ở các tỉnh tương đối cao (33,3 – 69,8%) và cường độ nhiễm ở mức trung bình (7,3 – 16,3 giun/gà).
Cơ chế sinh bệnh của giun đũa ở gà Trịnh Văn Thịnh và cs (1978)[32] cho biết: giun đũa thường sống trong ruột non của gà. Chúng phải tự nuôi dưỡng bằng cách ăn các mô, tế bào thượng bì, cướp một phần thức ăn mà ký chủ tiêu hóa trước. Chúng thường tập trung ở tá tràng gà là chỗ có dưỡng chấp. Tác động này tiếp diễn liên tục trong một thời gian dài bởi rất nhiều giun đũa gây tổn thất lớn làm cơ thể gà sinh trưởng kém, bị thiếu máu, gầy còm, lâu ngày có thể chết.
Ấu trùng giun đũa A. galli chui vào tuyến tiêu hoá ở ruột, phá hoại niêm mạc và nhung mao ruột gây viêm, tụ máu mở đường cho vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra các bệnh ghép. Khi gà bị nhiều giun đũa ký sinh sẽ gây tắc ruột hoặc thủng ruột, ngoài ra giun tiết độc tố làm gà bị trúng độc, chậm lớn, sản lượng trứng giảm sút (Phan Địch Lân và cs, 2005) [13]. Ngoài ra, giun đũa còn làm tổn thương niêm mạc ruột như sung huyết, xuất huyết nên hạn chế sự hấp thu vitamin A và các chất dinh dưỡng khác làm cho gà chậm lớn, còi cọc (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1978)[32].
Tác giả cũng chỉ ra rằng ngoài độc tố của giun trưởng thành thì ấu trùng giun đũa cũng tiết ra độc tố đầu độc ký chủ. Nói chung, chất độc do ấu trùng giun tiết ra có tác động mạnh hơn so với giun trưởng thành, gà con bị thiếu máu gầy mòn hơn gà trưởng thành, do vậy gà con nhiễm nhiều giun đũa thì dễ chết hơn gà trưởng thành. Djavadov đã ghi nhận giun đũa A.galli chui vào ống mật làm tắc ống mật. Tác giả cho rằng, giun đã từ ruột xâm nhập vào gan vì trong ruột thường có rất nhiều giun (Dẫn theo Phạm Sỹ Lăng và cs, 2001) [11].
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [10] cũng cho biết, giun đũa chiếm chất dinh dưỡng của gà, làm gà gầy yếu, chậm lớn, suy nhược cơ thể. Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun đũa ở gà * Triệu chứng Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [13], Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [12]: nếu gà nhiễm giun đũa Ascaridia galli nhẹ thì triệu chứng không rõ. Nếu nhiễm nặng, gà 8 xuất hiện triệu chứng tùy theo thời gian nhiễm giun ðũu: gà con sau khi nhiễm 10 - 40 ngày thấy mào nhợt nhạt; gầy yếu; phân lúc táo, lúc lỏng; cánh rũ; lông xù, bệnh mỗi ngày nặng thêm, sau 40 ngày thì gầy còm và có thể chết. Trong quá trình ký sinh, giun đũa tiết ra độc tố và độc tố này cũng gây ra trạng thái suy nhược, thiếu máu, rối loạn tiêu hoá, đôi khi có biểu hiện hội chứng thần kinh ở gà con khi nhiễm giun đũa với cường độ cao.