Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi gia cầm tại Việt Nam nói chung và huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nói riêng giữ vai trò thiết yếu trong việc cung cấp thực phẩm giàu dinh dưỡng và gia tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, sự phát triển chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình còn gặp nhiều trở ngại do điều kiện vệ sinh thú y chưa đồng bộ, khiến dịch bệnh phát sinh phức tạp. Bên cạnh các bệnh truyền nhiễm cấp tính, bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa – tiêu biểu là bệnh do giun đũa gà (Ascaridia galli) – diễn ra dai dẳng, phổ biến nhưng thường bị xem nhẹ do không gây chết ồ ạt ngay lập tức. Giun đũa ký sinh làm suy kiệt cơ thể vật chủ, khiến gà còi cọc, chậm lớn, giảm sản lượng thịt, trứng và làm suy giảm sức đề kháng trước các mầm bệnh truyền nhiễm khác. Xuất phát từ thực tế sản xuất tại địa phương, tác giả Hoàng Quang Minh thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu tình hình mắc bệnh giun đũa gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và một số biện pháp phòng trị" thuộc ngành Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Sửu).
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 5 nội dung cụ thể:
- Xác định tỷ lệ và cường độ gà nhiễm giun đũa tại một số xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Xác định ảnh hưởng của mùa vụ tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà.
- Xác định ảnh hưởng của lứa tuổi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà.
- Xác định ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi tới tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà.
- Xác định hiệu quả của việc dùng thuốc trong phòng và trị bệnh giun đũa.
Mục đích nghiên cứu là tạo lập cơ sở khoa học thực tiễn nhằm đề xuất quy trình phòng trị giun đũa hiệu quả cho đàn gà tại địa phương, góp phần giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi.
Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn gà ở các lứa tuổi khác nhau được nuôi tại các nông hộ; mẫu phân gà thu thập trực tiếp; gà nghi nhiễm bệnh dùng để mổ khám bệnh tích đại thể và thử nghiệm hóa dược trị liệu.
- Địa điểm nghiên cứu: Khảo sát thực địa và thử nghiệm lâm sàng tại 3 xã thuộc huyện Phú Lương (gồm xã Cổ Lũng, xã Phấn Mễ và xã Vô Tranh), kết hợp công tác chuyên môn tại Phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương. Công tác xét nghiệm mẫu phân được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi Thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và theo dõi thực địa từ ngày 09 tháng 12 năm 2013 đến ngày 31 tháng 05 năm 2014, thuộc khóa đào tạo 2010 – 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các công trình nghiên cứu giun sán gia cầm trong và ngoài nước (Trịnh Văn Thịnh, Phan Thế Việt, Dương Công Thuận, Orlov, Permin...). Về mặt phân loại học động vật, tác nhân gây bệnh được xác định là loài Ascaridia galli, thuộc ngành Giun tròn (Nemathelminthes Schneides, 1886), lớp Nematoda (Rudalphi, 1808), bộ Ascaridata, họ Ascaridae. Loài giun này ký sinh chủ yếu ở ruột non gà, đôi khi di hành lên diều, mề hoặc vào ống dẫn trứng. Giun cái đẻ trứng theo phân ra ngoài môi trường; trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, trứng hình thành ấu trùng có sức gây nhiễm. Gà ăn phải thức ăn, nước uống nhiễm trứng mang ấu trùng; ấu trùng nở ra tại đường tiêu hóa, chui vào tuyến Lieberkühn của niêm mạc ruột non phát triển trong khoảng 19 ngày rồi trở lại xoang ruột thành giun trưởng thành. Toàn bộ vòng đời không qua ký chủ trung gian, kéo dài từ 35 đến 58 ngày và giun có thể tồn tại trong cơ thể gà từ 9 đến 14 tháng. Cơ chế gây bệnh bao gồm tác động cơ giới (làm tổn thương, viêm, loét, xuất huyết niêm mạc ruột, tắc ruột), chiếm đoạt chất dinh dưỡng và tiết độc tố làm tổn thương gan, mật, rối loạn tuần hoàn và thần kinh.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và dịch tễ học thú y đã sử dụng:
- Phương pháp lấy mẫu phân: Mẫu phân tươi được lấy vào sáng sớm từ các đàn gà theo dõi, đóng gói vào túi nilon riêng biệt, ghi nhận rõ thời gian, địa điểm, lứa tuổi và phương thức chăn nuôi.
- Phương pháp kiểm tra mẫu phân: Sử dụng phương pháp phù nổi Fülleborn. Mẫu phân được hòa đều với dung dịch muối ăn bão hòa (NaCl, tỷ trọng cao hơn tỷ trọng của trứng giun, pha theo tỷ lệ khoảng 380g muối hòa tan trong 1 lít nước sôi), lọc bỏ cặn thô qua lưới thép, rót vào lọ thủy tinh penicillin đến miệng, đặt phiến kính sạch tiếp xúc bề mặt trong 30 phút rồi soi dưới kính hiển vi quang học để tìm trứng giun đũa.
- Phương pháp phân cấp cường độ nhiễm: Đánh giá số lượng trứng giun đũa quan sát được trên một vi trường kính hiển vi theo 4 mức độ:
- Mức nhẹ (+): Xuất hiện từ 1 đến 3 trứng/vi trường.
- Mức trung bình (++): Xuất hiện từ 4 đến 6 trứng/vi trường.
- Mức nặng (+++): Xuất hiện từ 7 đến 8 trứng/vi trường.
- Mức rất nặng (++++): Xuất hiện từ 9 trứng/vi trường trở lên.
- Mức âm tính (-): Không phát hiện thấy trứng giun trên vi trường.
- Phương pháp theo dõi triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích: Theo dõi các biểu hiện ngoại hình, trạng thái phân, vận động, mào tích, sức ăn của 95 cá thể gà nhiễm bệnh; tiến hành mổ khám toàn diện theo quy trình giải phẫu thú y trên 13 cá thể gà để ghi nhận biến đổi đại thể ở hệ tiêu hóa (ruột non, ruột già, manh tràng) và các tạng phụ thuộc (gan, túi mật).
- Phương pháp thử nghiệm điều trị: Lựa chọn gà nhiễm giun đũa phân chia thành 2 lô thí nghiệm để so sánh hiệu lực tẩy trừ của 2 loại hóa dược:
- Lô 1: Sử dụng thuốc Tayzu (do Công ty Hanvet sản xuất, phối chế dạng bột), liều dùng 500 mg/kg thể trọng (TT), trộn đều vào thức ăn.
- Lô 2: Sử dụng thuốc Mebendazol, liều dùng 400 mg/kg TT, hòa nước cho uống.
- Kiểm tra lại mẫu phân sau 15 ngày dùng thuốc bằng phương pháp Fülleborn để xác định tỷ lệ sạch trứng giun.
- Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng các công thức thống kê sinh vật học theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện (2000) để tính tỷ lệ nhiễm (%), cường độ nhiễm (%), giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số trung bình ($m_{\bar{x}}$) và hệ số biến dị ($Cv%$).
Nội dung chính theo từng chương
Khóa luận được kết cấu thành 2 phần nội dung độc lập:
Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất
Nội dung phần này phản ánh toàn diện quá trình thực tập nghề nghiệp của sinh viên tại địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên:
- Khảo sát điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Huyện Phú Lương có diện tích tự nhiên 368,82 km², nằm dọc trục Quốc lộ 3; địa hình bán sơn địa với đất đồi dốc chiếm tỷ lệ đáng kể. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22°C (cao nhất 27,2°C vào tháng 7, thấp nhất 15,6°C vào tháng 1), lượng mưa đạt trên 2.100 mm/năm. Dân số năm 2013 đạt 108.187 người, lao động nông nghiệp chiếm 45,8%.
- Hiện trạng sản xuất nông nghiệp: Diện tích gieo trồng lúa đạt khoảng 17.108 ha (sản lượng 98.000 tấn), cây chè đạt diện tích 4.100 ha (sản lượng 35.000 tấn). Đàn gia súc và gia cầm phát triển mạnh: năm 2013 có 5.000 con trâu, đàn bò đạt 38.000 con, đàn lợn đạt 171.000 con, và tổng đàn gia cầm tăng trưởng lên 2,5 triệu con.
- Hoạt động kỹ thuật và kết quả phục vụ sản xuất: Sinh viên trực tiếp tham gia công tác khuyến nông, phổ biến kỹ thuật phối hợp khẩu phần bổ sung premix khoáng - vitamin, tư vấn chọn giống lợn hướng nạc, bò lai Sind và quy trình tiêm phòng định kỳ. Kết quả ghi nhận tại đơn vị:
- Tiêm phòng vaccine đạt tỷ lệ bảo hộ an toàn 100%: Dịch tả lợn (243 con), Tụ huyết trùng lợn (253 con), Leptospirosis (40 con), Dại chó (78 con).
- Điều trị bệnh lâm sàng đạt kết quả tốt: Bệnh phân trắng lợn con do E. coli điều trị khỏi 42/45 con (đạt 93,33% bằng Phardiasol 6 ml/10 kg TT); điều trị khỏi hoàn toàn 100% bệnh bại liệt sau đẻ ở lợn (2/2 ca bằng Calci-Magie Glutamat) và bệnh ghẻ do Sarcoptes suis (8/8 ca bằng Invermectin kết hợp tắm ghẻ).
- Thực hiện các thủ thuật ngoại khoa và vệ sinh thú y: Thiến 55 lợn đực, tiêm sắt Dextran-Fe cho 51 lợn con, trực đỡ đẻ 2 ca và phun tiêu độc sát trùng 21 lít hóa chất an toàn.
Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu khoa học
Chuyên đề tập trung làm rõ đặc điểm dịch tễ, bệnh lý và biện pháp điều trị bệnh giun đũa gà (Ascaridia galli) tại địa phương qua 611 mẫu xét nghiệm phân và thực nghiệm can thiệp:
- Tình hình nhiễm theo địa bàn: Đánh giá tại 3 xã (Cổ Lũng, Phấn Mễ, Vô Tranh) cho thấy tỷ lệ nhiễm chung là 42,72% (261/611 mẫu). Xã Vô Tranh có tỷ lệ nhiễm cao nhất (46,95%), tiếp đến là Phấn Mễ (42,67%) và Cổ Lũng (39,64%). Đa số các mẫu nhiễm ở cường độ nhẹ (55,94%) và trung bình (34,48%), cường độ nặng và rất nặng lần lượt chiếm 7,66% và 1,92%.
- Sự biến động của bệnh theo lứa tuổi gà: Nghiên cứu phân chia 4 nhóm tuổi và ghi nhận tỷ lệ nhiễm giảm dần theo tuổi: gà 1 - 2 tháng tuổi nhiễm cao nhất (51,85%), gà 3 - 4 tháng tuổi (41,99%), gà 5 - 6 tháng tuổi (36,11%), và thấp nhất ở gà > 6 tháng tuổi (32,53%). Cường độ nhiễm nặng và rất nặng cũng tập trung chủ yếu ở nhóm gà con dưới 4 tháng tuổi.
- Sự biến động theo mùa vụ: Xét nghiệm 337 mẫu phân trong mùa đông và 274 mẫu trong mùa xuân. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm trong mùa xuân (46,72%) cao hơn rõ rệt so với mùa đông (39,47%), do độ ẩm và nhiệt độ ấm áp của mùa xuân thuận lợi cho trứng giun phân chia, phát triển thành phôi có khả năng gây nhiễm.
- Ảnh hưởng của phương thức chăn nuôi: Tỷ lệ nhiễm tỷ lệ thuận với mức độ tiếp xúc ngoại cảnh. Gà nuôi chăn thả tự do có tỷ lệ nhiễm cao nhất (53,43%, với 148/277 mẫu dương tính), bán chăn thả đạt 45,61% (104/228 mẫu), trong khi gà nuôi nhốt hoàn toàn chỉ có tỷ lệ nhiễm 8,49% (9/106 mẫu) và chỉ nhiễm ở mức độ nhẹ đến trung bình.
- Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích mổ khám: Theo dõi 95 gà nhiễm bệnh ghi nhận có 77,89% gà mang triệu chứng ẩn, không rõ rệt; 16,84% biểu hiện kém ăn, lông dựng, tiêu chảy; 5,26% biểu hiện nặng (gầy yếu, bỏ ăn, cánh rũ, mào nhợt nhạt, có đốt giun theo phân). Mổ khám 13 cá thể gà xác định 84,62% có tổn thương niêm mạc ruột non (viêm, sung huyết, thành ruột dày), 46,15% có tụ huyết ở gan và 7,69% có túi mật sưng to.
- Hiệu quả thử nghiệm hóa dược điều trị: Cả 2 loại thuốc thử nghiệm đều mang lại hiệu quả tẩy giun rất cao sau 15 ngày can thiệp: Mebendazol (400 mg/kg TT) đạt tỷ lệ sạch trứng 93,33% (28/30 gà); thuốc Tayzu của Hanvet (500 mg/kg TT) đạt tỷ lệ sạch trứng 91,43% (32/35 gà).
Kết quả và đóng góp
Số liệu kết quả thực nghiệm chính
Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết phản ánh toàn bộ các yếu tố dịch tễ và hiệu lực điều trị:
Bảng 1: Tổng hợp tỷ lệ và cường độ nhiễm giun đũa gà theo các nhân tố khảo sát
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm khảo sát |
Số mẫu kiểm tra (mẫu) |
Số mẫu nhiễm (mẫu) |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ nhẹ: + (%) |
Cường độ trung bình: ++ (%) |
Cường độ nặng: +++ (%) |
Cường độ rất nặng: ++++ (%) |
| Địa phương |
Cổ Lũng |
222 |
88 |
39,64 |
55,68 |
37,50 |
5,68 |
1,14 |
|
Phấn Mễ |
225 |
96 |
42,67 |
57,29 |
34,36 |
7,29 |
1,04 |
|
Vô Tranh |
164 |
77 |
46,95 |
54,55 |
31,17 |
10,39 |
3,90 |
| Lứa tuổi |
1 - 2 tháng |
189 |
98 |
51,85 |
52,04 |
33,67 |
11,22 |
3,06 |
|
3 - 4 tháng |
231 |
97 |
41,99 |
54,64 |
36,08 |
7,22 |
2,06 |
|
5 - 6 tháng |
108 |
39 |
36,11 |
64,10 |
30,77 |
7,69 |
0,00 |
|
> 6 tháng |
83 |
27 |
32,53 |
62,96 |
37,04 |
0,00 |
0,00 |
| Mùa vụ |
Mùa đông |
337 |
133 |
39,47 |
56,39 |
37,59 |
5,26 |
1,50 |
|
Mùa xuân |
274 |
128 |
46,72 |
55,47 |
31,25 |
10,16 |
2,34 |
| Phương thức nuôi |
Nuôi nhốt |
106 |
9 |
8,49 |
88,89 |
11,11 |
0,00 |
0,00 |
|
Bán chăn thả |
228 |
104 |
45,61 |
55,77 |
35,58 |
6,73 |
1,92 |
|
Chăn thả tự do |
277 |
148 |
53,43 |
54,05 |
35,14 |
8,78 |
2,03 |
| Tổng chung |
Toàn khảo sát |
611 |
261 |
42,72 |
55,94 |
34,48 |
7,66 |
1,92 |
Bảng 2: Kết quả thử nghiệm hiệu lực thuốc tẩy giun đũa gà sau 15 ngày
| Tên thuốc |
Dạng dùng và đường cấp thuốc |
Liều lượng sử dụng |
Số gà điều trị (con) |
Số gà sạch trứng giun (con) |
Hiệu lực sạch trứng (%) |
| Tayzu (Hanvet) |
Trộn đều vào thức ăn |
500 mg/kg TT |
35 |
32 |
91,43 |
| Mebendazol |
Hòa tan nước cho uống |
400 mg/kg TT |
30 |
28 |
93,33 |
Giải pháp và khuyến nghị của tác giả
Từ các kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm kiểm soát mầm bệnh giun đũa gà trong thực tiễn:
- Về quản lý chuồng trại: Khuyến khích người dân từng bước chuyển đổi từ hình thức chăn thả tự do sang bán chăn thả hoặc nuôi nhốt có kiểm soát; giữ nền chuồng luôn khô ráo, lót đệm sinh học hoặc làm sàn lưới thoát phân.
- Về vệ sinh phòng dịch: Thu gom phân gà định kỳ hàng ngày cho vào hố ủ phân sinh học nhiệt độ cao nhằm tiêu diệt trứng giun; cày xới, rải vôi bột khử trùng sân chơi định kỳ vào mùa xuân; nuôi nhốt riêng rẽ đàn gà con và gà trưởng thành để tránh hiện tượng lây nhiễm chéo.
- Về can thiệp hóa dược: Định kỳ dùng thuốc tẩy giun từ 2 - 3 lần/năm cho toàn đàn, ưu tiên các đợt tẩy vào mùa xuân (tháng 3 - 4) và mùa thu (tháng 8 - 9). Có thể luân phiên sử dụng Mebendazol (400 mg/kg TT) hoặc Tayzu (500 mg/kg TT), nhốt gà tại chuồng từ 2 - 3 ngày sau khi cấp thuốc để thu gom triệt để chất thải và xác giun, tiêu độc triệt để môi trường.
Đóng góp thực tiễn của khóa luận
So với các tài liệu nghiên cứu trước đây tại các vùng sinh thái khác, khóa luận này đóng góp cơ sở dữ liệu thực địa cập nhật về dịch tễ học bệnh giun đũa gà tại vùng miền núi Phú Lương, Thái Nguyên. Công trình đã minh chứng cụ thể mối tương quan nghịch giữa độ tuổi gia cầm với mức độ nhiễm bệnh, đồng thời xác lập số liệu so sánh rõ rệt giữa phương thức nuôi nhốt kín (chỉ nhiễm 8,49%) và chăn thả tự do (nhiễm 53,43%), giúp các cơ quan thú y địa phương có căn cứ vững chắc để định hướng chuyển dịch mô hình chăn nuôi nông hộ theo hướng an toàn sinh học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Tác giả tự đánh giá do giới hạn về mặt thời gian thực tập tốt nghiệp (6 tháng) và kinh nghiệm thực tế của sinh viên bước đầu nghiên cứu khoa học nên phạm vi khảo sát mới dừng lại ở 3 xã trên tổng số 16 xã, thị trấn của huyện Phú Lương. Khảo sát mùa vụ mới chỉ thực hiện được trong mùa đông và mùa xuân, chưa có số liệu theo dõi đối chứng xuyên suốt mùa hè và mùa thu. Bên cạnh đó, số lượng cá thể gà phục vụ mổ khám xác định bệnh tích đại thể còn hạn chế (13 con).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô điều tra dịch tễ trên toàn địa bàn huyện trong cả 4 mùa trong năm; nghiên cứu sự biến đổi bệnh lý vi thể của các cơ quan nội tạng khi gà nhiễm giun đũa; khảo sát mức độ kháng thuốc của ký sinh trùng và đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các phác đồ phối hợp nhiều hoạt chất tẩy giun tròn và sán dây trên đàn gà thả vườn quy mô lớn.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và học viên ngành Chăn nuôi, Thú y: Cung cấp tài liệu thực hành hoàn chỉnh về phương pháp chẩn đoán ký sinh trùng bằng kỹ thuật phù nổi Fülleborn, quy trình mổ khám đường tiêu hóa gia cầm và phương pháp phân tích thống kê sinh vật học ứng dụng trong dịch tễ học thú y.
- Cán bộ thú y cơ sở và cán bộ khuyến nông: Cung cấp bức tranh thực trạng nhiễm giun đũa gà tại huyện Phú Lương, làm cơ sở xây dựng lịch trình tiêm phòng và lịch tẩy ký sinh trùng định kỳ cho gia cầm địa phương.
- Người chăn nuôi gia cầm: Cung cấp thông tin trực quan về liều dùng, đường cấp thuốc và hiệu lực thực tế của hai loại thuốc thông dụng (Tayzu và Mebendazol), cùng các chỉ dẫn kỹ thuật về vệ sinh chuồng trại, ủ phân diệt trứng giun để bảo vệ đàn vật nuôi.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ nhiễm giun đũa trung bình ở đàn gà tại huyện Phú Lương là bao nhiêu và phân bố giữa các xã khảo sát ra sao?
Qua kiểm tra 611 mẫu phân tại 3 xã, tỷ lệ nhiễm giun đũa gà trung bình là 42,72% (261 mẫu dương tính). Trong đó, xã Vô Tranh ghi nhận tỷ lệ nhiễm cao nhất với 46,95% (77/164 mẫu), xã Phấn Mễ đạt 42,67% (96/225 mẫu), và thấp nhất là xã Cổ Lũng với 39,64% (88/222 mẫu).
2. Lứa tuổi gà và phương thức chăn nuôi tác động như thế nào đến tỷ lệ nhiễm bệnh?
Khóa luận chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm giảm dần theo độ tuổi: gà 1 - 2 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (51,85%), giảm xuống 41,99% ở giai đoạn 3 - 4 tháng, 36,11% ở giai đoạn 5 - 6 tháng, và thấp nhất ở gà > 6 tháng tuổi (32,53%). Về phương thức nuôi, gà chăn thả tự do có tỷ lệ nhiễm cao nhất (53,43%), bán chăn thả đạt 45,61%, trong khi nuôi nhốt hoàn toàn chỉ nhiễm 8,49%.
3. Đa số gà nhiễm giun đũa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng như thế nào?
Trong 95 gà nhiễm bệnh được theo dõi, phần lớn gà mang triệu chứng không rõ rệt, chiếm tỷ lệ 77,89% (74 con). Có 16,84% (16 con) có biểu hiện kém ăn, lông dựng, phân lỏng, chậm lớn; chỉ có 5,26% (5 con) xuất hiện triệu chứng lâm sàng nặng như gầy yếu, bỏ ăn, cánh rũ, mào tích nhợt nhạt và phân có lẫn xác giun đũa.
4. Khi mổ khám gà bị bệnh giun đũa, các bệnh tích đại thể chủ yếu xuất hiện ở đâu?
Qua mổ khám 13 cá thể gà nhiễm giun đũa, tổn thương tập trung cao nhất ở niêm mạc ruột non với tỷ lệ 84,62% (11 con) xuất hiện tình trạng viêm, sung huyết, tụ huyết và thành ruột dày lên; có 46,15% (6 con) bị tụ huyết ở gan, màu sắc nhợt nhạt và 7,69% (1 con) ghi nhận túi mật sưng to.
5. Hiệu lực tẩy giun đũa của 2 loại thuốc Mebendazol và Tayzu được ghi nhận đạt mức nào?
Sau 15 ngày sử dụng, thuốc Mebendazol (liều 400 mg/kg TT, đường uống) đạt tỷ lệ sạch trứng giun 93,33% (28/30 gà sạch trứng). Thuốc Tayzu của Công ty Hanvet (liều 500 mg/kg TT, trộn thức ăn) đạt tỷ lệ sạch trứng 91,43% (32/35 gà sạch trứng).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hoàng Quang Minh đã phản ánh chi tiết thực trạng dịch tễ bệnh giun đũa (Ascaridia galli) trên đàn gà tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên với tỷ lệ nhiễm chung là 42,72%, chủ yếu ở cường độ nhẹ và trung bình. Kết quả nghiên cứu khẳng định mức độ cảm nhiễm bệnh phụ thuộc mật thiết vào lứa tuổi, mùa vụ và phương thức chăn nuôi, trong đó việc chăn thả tự do và điều kiện ẩm ướt mùa xuân làm gia tăng đáng kể nguy cơ mắc bệnh. Đồng thời, công trình đã kiểm chứng thành công hiệu lực điều trị đạt trên 91% của hai loại thuốc thông dụng là Tayzu và Mebendazol, đem lại cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích cho công tác kiểm soát dịch bệnh gia cầm tại nông hộ.